- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,370,986

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 (phần IV)

26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 9593)
III. HIỆP ƯỚC SƠ BỘ & NHỮNG VẤN NẠN:

Được ký kết dưới áp lực Trung Hoa, Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 chỉ được cả hai phe Pháp-Việt coi như “giai đoạn,” nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình thế. Cần lược qua nội dung Hiệp ước để thấy rõ những vấn nạn ngay từ lúc chữ ký trên Hiệp ước chưa ráo mực.

A. Hiệp Ước Sơ Bộ:

Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 gồm hai phần: Hiệp định sơ bộ [Convention préliminaire] và Phụ ước [Accord Annexe] về quân sự.

Hiệp định sơ bộ gồm 3 điều:

1. Chính phủ Pháp nhìn nhận Việt Nam [Dân Chủ] Cộng Hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính, là một thành viên Liên bang Đông Dương, và Liên hiệp Pháp. Về việc thống nhất ba “kỳ”, chính phủ Pháp tự nguyện thừa nhận những quyết định của các sắc dân được tham khảo qua trưng cầu dân ý.

2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện đón tiếp quân đội Pháp khi thay thế quân Trung Hoa trong khuôn khổ các hiệp định quôc tế. Một phụ ước đính kèm Hiệp ước sơ bộ này sẽ qui định phương thức đề thực hiện việc thay thế quân.

3. Những điều khoản nêu trên sẽ có hiệu lực tức khắc. Ngay sau khi trao đổi chữ ký mỗi phe giao kết sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để ngưng chiến, giữ binh sĩ tại nguyên vị trí và tạo bầu không khí thuận lợi cần thiết để mở ngay những cuộc thảo luận thân hữu và ngay thẳng. Những cuộc thương thuyết này sẽ đặc biệt liên quan đến:

a. các vấn đề ngoại giao của VN vơi các nước khác,

b. qui chế tương lai của Đông Dương,

c. quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp tại Việt Nam.

Hà Nội, Sài Gòn hay Paris có thể được chọn làm nơi mở hội nghị.

Làm tại Hà Nội ngày 6/3/1946.

Ký tên: Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh Ký tên: Sainteny.

Trong Phụ ước [Accord Annexe] về quân sự, 10,000 quân Việt Nam và 15,000 quân Pháp sẽ giữ nhiệm vụ “tiếp phòng” [thay thế] 180,000 quân Trung Hoa.

Lực lượng Pháp chia làm 3 loại:

a. Các đơn vị chịu trách nhiệm canh giữ tù binh Nhật: sẽ rút lui sau khi hồi hương tù binh Nhật; và sẽ không kéo dài quá 10 tháng.

b. Các đơn vị, phối hợp với lực lượng Việt Nam, để bảo đảm an ninh, trật tự. Sẽ thay thế dần bằng quân Việt mỗi năm một phần năm [1/5], và hoàn tất trong vòng 5 năm.

c. Các đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ căn cứ hải quân và không quân: Sẽ được thảo luận sau.( 83)

B. VIỆC THỰC THI HIỆP ƯỚC:

Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946–như Moutet sau này giải thích–là một hiệp ước “thiện chí.” Tuy nhiên thiện chí có lẽ là điều cả hai phe ký kết đều không nỗ lực khi thực thi những điều khoản của Hiệp ước trên.

1. Thân thiện đón tiếp quân Pháp:

Việc thay thế quân TH, như đã viết rõ trong điều 2 và 3 của Hiệp ước: có hiệu lực ngay sau khi ký kết.

Ngày 8/3/1946, Leclerc an toàn đổ bộ xuống Hải Phòng. Đích thân Valluy vào bến cảng đón Giáp ra hội kiến với Leclerc trên tàu Sénégalais ngoài khơi. Giáp đã được phân công ra Hải Phòng dự mít-tinh, giải thích Hiệp ước. (84)

Năm ngày sau, 13/3, Pháp và Trung Hoa ký qui ước quân sự về việc thay quân TH ở phía Bắc vĩ tuyến 16.

Thứ Bảy, 16/3, quân Leclerc được phép lên Hà Nội. Hai ngày sau, 18/3, Leclerc và Valluy cùng 1,200 quân Pháp và 200 xe, từ Hải Phòng vượt 105 cây số đường số 5 tới Hà Nội. Ngày này, báo L’Entente của Sainteny ra số đặc biệt với hàng tít lớn “Hanoi libéré” [Hà Nội Được Giải Phóng]. Chiều, lúc 17G00, Leclerc, Sainteny, Pignon, Salan, Valluy vào Bắc bộ phủ thăm Hồ.( 85)

Ngày 22/3, Pháp bắt đầu trách nhiệm bảo vệ an ninh và trật tự Hải Phòng. Ngày 29/3, một tiểu đoàn Pháp vào Huế. Ngày 7/4, quân Pháp thay Sư đoàn 2 Danh dự Quốc quân ở Nam Định.

Dẫu vậy, quân Trung Hoa không triệt thoái đúng như dự trù. Cuối tháng 3/1946. 3 quân đoàn Trung Hoa vẫn còn ở miền Bắc, tức Quân đoàn 60, ở Hải Phòng, Đông Hải Phòng và Hà Nội, chờ xuống tàu Mỹ hồi hương–Quân đoàn 93 sẽ rút theo đường bộ về Vân Nam–và, Quân đoàn 53 ở Hà Nội chưa công bố kế hoạch triệt thoái. Quân đoàn “Thanh Y” này có nhiệm vụ bảo vệ trật tự.( 86)

Nhưng sự trì hoãn trên không gây nên những hậu quả đáng kể. Giai đoạn thống trị của quốc quân Trung Hoa đã chấm dứt.

Hồ Chí Minh chứng tỏ thiện chí khi chấp nhận “Hiệp ước này có hiệu lực ngay sau khi hai bên trao đổi chữ ký.” Võ Nguyên Giáp xuống ngay Hải Phòng để giải thích cho UBHCKC tại đây việc đồng ý cho quân Pháp đổ bộ.

Trung Hoa có thiện chí cho Pháp đổ bộ từ ngày 8/3, vì tình trạng sức khoẻ của quân sĩ bỏ neo ngoài chiến hạm, trước khi Phụ bản quân sự Pháp-Hoa hay Pháp-Việt hoàn tất. Dù Pháp than phiền về những khó khăn gây ra bởi quốc quân quanh việc đổ bộ, trên đại thể TH thực thi những điều ký kết. (87)

Leclerc cũng bày tỏ thiện chí bằng cách chỉ thị thuộc hạ phải đối xử nhã nhặn với dân chúng cảng Hải Phòng và Hà Nội. Leclerc còn nhiều lần thúc dục d’Argenlieu mời HCM qua thăm Paris theo đúng Hiệp ước.

Thị dân Hà Nội cũng đầy thiện chí đón tiếp đạo quân Pháp mới. Dù có dư luận cho rằng đây là một thứ “Hiệp định Mac-xít,” các nhà giải trí và khiêu vũ trường ở khu Cửa Nam đều hoạt động, đón tiếp thêm các sĩ quan Pháp vào số khách người Hoa, người Việt.( 88)

Tuy nhiên, những thiện chí trên rất giới hạn và chủ quan.

2. Vấn đề phê chuẩn:

Vì Quốc Hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp ước trước khi ký kết, không có trở ngại nào được đặt ra. Ngày 7/3, những thành phần chống đối tổ chức biểu tình lớn ở Hà Nội. Nhiều người lên án HCM là Việt Gian, bán nước. Lực lượng võ trang tuyên truyền của Giáp và an ninh, tình báo tổ chức phản biểu tình ngay. HCM cũng đột ngột xuất hiện, tuyên bố: “Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước.” Theo Sainteny, Hồ đã biến cuộc biểu tình chống đối thành một cuộc trưng cầu dân ý chính sách của mình. (89)

Trong khi đó, tại Sài Gòn, dù chất vấn Sainteny về Phụ ước quân sự, D’Argenlieu vẫn xin Paris phê chuẩn. (90)

Thứ Bảy, 9/3, D’Argenlieu đọc diễn văn kỷ niệm 1 năm ngày Nhật đảo chính, tóm lược thành tích tái lập chủ quyền Pháp ở Đông Dương, và sự kiện lá cờ tam tài đã tung bay trên vòm trời miền Bắc. Theo tinh thần sứ mệnh được de Gaulle giao phó ngày 17/8/1945, d’Argenlieu đã phần nào tái lập được chủ quyền Pháp ở Đông Dương, ít nhất ở bề ngoài và trên pháp lý.

Từ Paris, ngày 8/3, Francois de Langlade chúc mừng và khen ngợi d’Argenlieu. Hôm sau, ngày 9/3 [tức 10/3/1946, Sài Gòn], Moutet cho d’Argenlieu biết chính phủ Pháp đã phê chuẩn Hiệp ước. (91)

Sự vui mừng của các viên chức Pháp có lý do. Hiệp ước 6/3/1946 là chìa khoá cuối cùng về ngoại giao để hợp thức hoá cuộc tái xâm lăng–hoặc tái thiết lập chủ quyền, nếu muốn–của Pháp. Hiệp ước, như Moutet nhận định hơn một năm sau, đã bảo đảm rằng quân Pháp có thể chiếm lại Bắc Đông Dương không tốn một giọt máu, khi lực lượng quân sự hai bên hoàn toàn chênh lệch: Pháp chỉ có 16,000 quân so với “185,000” quân Trung Hoa, cộng thêm 30,000 lính Nhật. (92)

Thực ra, Moutet không nói hết sự thực. Sự an nguy của kiều dân Pháp khộng hề được coi như một yếu tố trong việc thương thuyết. Từ tháng 10/1945, D’Argenlieu và Leclerc đã chống lại đề nghị di tản họ vì lý do nhân đạo của Trung Hoa và Mỹ. Chua chát hơn nữa là d’Argenlieu muốn sử dụng họ như cái cớ [prétextes] để vận động dư luận Pháp cũng như thế giới trong tiến trình tái chiếm miền Bắc,

C. NHỮNG VẤN NẠN:

Vì chỉ là một Hiệp ước sơ bộ–mà điều khoản duy nhất có hiệu lực tức khắc là 15,000 quân Pháp sẽ đổ bộ ở miền Bắc để cùng với 10,000 quân VNDCCH thay thế quân Trung Hoa bảo vệ an ninh–việc thảo luận những vấn đề hệ trọng trong bang giao Pháp-Việt lập tức gây nên nhiều vấn nạn–từ địa điểm để thảo luận một hiệp ước chính thức, tới những vấn đề “quốc gia tự do,” Liên bang Đông Dương, và tương lai Nam Kỳ.

Trong công điện gửi Gouin ngày 12/3, d’Argenlieu bộc lộ rõ tâm ý: Mục đích chính yếu của Hiệp ước 6/3/1946 là để tạo một không khí thuận lợi cho việc thương thuyết trong tương lai, và để ngăn ngừa, càng nhiều càng tốt, sự chống đối bằng võ lực của người An-nam-mít trong khi thay thế quân Trung Hoa. Hiệp ước trên giới hạn về thời gian lẫn không gian. Nó chỉ có tính chất địa phương, ký kết giữa UVCH Bắc Kỳ với chính phủ An-Nam-mít trên thực tế ở Hà Nội, và bản chất chẳng khác gì hiệp ước đã ký với Kampuchea. Không nên cho Hiệp ước 6/3/1946 và những cuộc thảo luận kế tiếp tầm vóc nó không có. Hiệp ước 6/3/1946 chỉ là một giai đoạn [L’accord du 6 mars n’est qu’une étape]. (93)

Với d’Argenlieu, Hiệp ước 6/3/1946 chỉ là khởi điểm để làm việc.

1. Phụ ước quân sự:

Điều khiến d’Argenlieu và Leclerc không hài lòng là Phụ ước quân sự, nhưng vì nhu cầu đổ bộ, đành chấp nhận và chờ dịp sửa đổi nó.( 94)

Paris cũng than phiền về Phụ ước trên. Ngày 13/3, Ủy ban Liên bộ cho rằng bị đặt trước một chuyện đã rồi vì nhu cầu đổ bộ quân, nên quyết định phải điều chỉnh lại một số chi tiết, như: (1) không thể giới hạn quân số Pháp ở mức 15,000; (2) không thể giới hạn việc trú quân trong 5 năm phía Bắc vĩ tuyến 16; và, (3) cần thiết lập những căn cứ Hải quân và Không quân vĩnh viễn, v.. v.... (95)

Hai ngày sau, 15/3, Moutet chỉ thị thêm: Phía Bắc vĩ tuyến 16, cần căn cứ Hon Gay với phi trường cùng một khu Thái; phía Nam vĩ tuyến 16, căn cứ Cam Ranh và Cap Saint-Jacques với phi trường; toàn khu Mọi [cao nguyên Trung phần] với phi trường. (96)

Lúc 11G00 ngày 13/3, Moutet lại chỉ thị phải cho Salan về Paris báo cáo về Phụ ước quân sự. (97)

Kết luận rằng đây là một đại tác phẩm về sự tráo trở [duplicité]–dựa trên sự sai lầm, thiếu chân thực [malveillance] đối với Cao ủy của những phụ tá cao cấp quân sự, khi nịnh bợ chính phủ lâm thời VNDCCH một cách thái quá–nên D’Argenlieu quyết định sẽ bình tĩnh rút ra phần ưu thế nhất từ Hiệp ước, đặc biệt là sựỳ cam kết triệt thoái trong 5 năm hay các chi tiết có thể tạo gánh nặng tài chính cho mẫu quốc. (98)

Dẫu vậy, vì quan niệm Hiệp định sơ bộ chỉ có tính giai đoạn, các đạo quốc quân không mấy thân thiện, nếu chẳng phải thù hận vẫn hiện diện ở miền Bắc, trong khi quân Pháp mỏng yếu, chưa củng cố được cột trụ quân sự ở miền Bắc, d’Argenlieu giữ im lặng, mặc cho Salan và Valluy cùng Giáp chính thức ký Phụ ước quân sự ngày 3/4/1946. Việt Nam đồng ý Pháp được trú đóng 5,000 lính tại Hà Nội, 1,750 lính ở Hải Phòng, 825 tại Nam Định và Điện Biên Phủ; 650 tại Hải Dương, và 1,025 người ở Hòn Gai. (99)

Hai bên cũng đồng ý thành lập một Ủy ban liên lạc và kiểm soát hỗn hợp trung ương [liên kiểm] tại Hà Nội để kiểm soát việc “tiếp phòng”, và một Ủy ban đình chiến vào Nam Trung Bộ. Nhưng d’Argenlieu cầm chân và vô hiệu hóa Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang), đại diện Việt Nam, ở Nha Trang.

Sau đó, d’Argenlieu cử Valluy làm Tư lệnh miền Bắc, thay Salan. Ngày 7/4, Cao ủy chỉ thị mật cho Valluy phải sẵn sàng phản ứng cứng rắn nếu Việt Minh có thái độ bạo động. Chính trong thời khoản này, tiêu lệnh hành quân của Valluy ngày 10/4/1946 ra đời, dù nội dung không khác biệt gì với tiêu lệnh của Leclerc ngày 6/4/1946–một thứ bằng chứng mặt nổi cho cuộc tổng tấn công “phòng bị” ngày 19/12/1946 của Việt Minh.( 100)

Phần Võ Nguyên Giáp cũng có dụng ý. Hơn một năm qua, vùng duyên hải là căn cứ địa của Phục Quốc và Quốc Dân Đảng, đặc biệt là Hòn Gai, “thủ đô” của Nguyễn Hải Thần-Vũ Kim Thành. Thỏa thuận cho Pháp thay quân TH ở những vị trí trên là một hòn đá ném hai chim.( 101)

Giáp cũng không công bố rõ quân số và các đơn vị của VNDCCH. Đồng thời, Phạm Văn Đồng và Trần Đăng Ninh được lệnh tái tu bổ các chiến khu Việt Bắc. Nguyễn Lương Bằng (Cù Vân) cầm đầu nỗ lực thu mua khí giới đạn dược từ Thái Lan, Miến Điện, Thương Hải, Hong Kong và nhất là nội địa. Cũng có nỗ lực tuyển mộ những người “Việt Nam Mới”–tức lính đào ngũ cùng các chuyên viên Nhật –để tăng cường guồng máy quân sự, kinh tế tài chính.( 102)

2. Địa điểm hội nghị:

Điều 3 của Hiệp ước sơ bộ qui định “Ngay sau khi trao đổi chữ ký mỗi phe giao kết sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để ngưng chiến, giữ binh sĩ tại nguyên vị trí và tạo bầu không khí thuận lợi cần thiết để mở ngay những cuộc thảo luận thân hữu và ngay thẳng.” Và, “Hà Nội, Sài Gòn hay Paris có thể được chọn làm nơi mở hội nghị.”

Chiều 7/3, HCM đã nói với Sainteny là muốn thương thuyết ngay ở Paris, để chứng tỏ cho dân chúng thấy Hiệp ước sơ bộ không phải là cái bẫy của Pháp, và muốn tự mình sẽ dẫn một phái đoàn qua Pháp. Hồ còn đề nghị gặp d’Argenlieu trong tương lai gần, hoặc trên đường qua Pháp. Sainteny và những viên chức khác đều đồng ý không nên thương thuyết ở Hà Nội. (103)

Hôm sau, 8/3, d’Argenlieu đề nghị chính phủ Gouin cho thương thuyết ở Đà Lạt. Theo d’Argenlieu, sẽ là một lỗi lầm nghiêm trọng nếu mở hội nghị tại Paris. Điều này sẽ khiến Kampuchea và Lào buồn lòng. Không kém quan trọng là ý định muốn loại bỏ quyền lực Cao ủy Đông Dương của Hà Nội. Vinh dự được qua Paris còn khiến HCM cứng rắn hơn trong vấn đề cử nhân viên ngoại giao. Trong khi đó Đà Lạt không nằm ở Nam Kỳ hay Bắc Kỳ. Hội nghị sẽ diễn ra trong sự thanh bình, không bị xáo trộn vì những cuộc biểu tình tự phát hay có tổ chức khi d’Argenlieu sẽ cho Nam Kỳ tình trạng giống như VNDCCH.

Chính phủ Gouin không đồng ý vì đề nghị của d’Argenlieu trái ngược với văn bản Hiệp ước. Ngày 12/3, d’Argenlieu phải thú thực rằng muốn chọn Đà Lạt làm thủ đô Liên bang. (104)

Các cộng sự viên của d’Argenlieu cũng chống lại Cao Ủy. Ngày 13/3, và rồi liên tiếp hai ngày 15 và 16, Leclerc yêu cầu d’Argenlieu chấp thuận mở hội nghị ở Paris. Trong công điện ngày 16/3, Leclerc còn thêm rằng Sainteny, Salan và Valluy đều đồng ý. (105)

Trong khi đó, ngày 13/3, Comindo lại đổi ý, quyết định không thể thương thuyết ở Sài Gòn hay Paris. Bốn ngày sau, 17/3, d’Argenlieu đề nghị mời HCM qua Paris, nhưng sẽ thương thuyết tại Đông Dương. Moutet chấp thuận. (106)

Trong khi đó, d’Argenlieu muốn gặp riêng Hồ để nói chuyện trực tiếp với nhân vật không đơn giản này. Ngày 17/3, D’Argenlieu gửi cho Sainteny một văn kiện (Memorandum) để Sainteny hoặc Leclerc nói với HCM là muốn gặp nhau trên soái hạm L’Emile Bertin ngày 24/3/1946. D’Argenlieu chịu nhân nhượng là sẽ mời Thủ tướng Hồ Chí Minh thăm Paris, đồng thời chính phủ Pháp sẽ gửi phái đoàn qua thảo luận trù bị cho hiệp ước chính thức tại Đông Dương. Nhưng ngày 18/3, Leclerc báo cáo chưa chuyển đề nghị mới trên cho HCM vì sợ sẽ đổ vỡ, phải dò ý HCM trước. Lúc này, quân Pháp vừa tới Hà Nội, dư luận còn xôn xao, sợ HCM sẽ cắt đứt thương thuyết, di tản vào chiến khu. (107)

D’Argenlieu không hài lòng, cho rằng nhóm Sainteny và Salan đã đi từ nhân nhượng này sang nhân nhượng khác–một thứ “Munich nho nhỏ”. Ngày 20/3, đích thân D’Argenlieu viết thư chỉ thị Sainteny và Leclerc phải thi hành ngay lệnh của mình và cấp tốc báo cáo kết quả. Trong lúc chánh văn phòng Longeaux đang đánh máy thư, d’Argenlieu được điện tín của Sainteny báo tin HCM đồng ý gặp mặt ngày 24/3/1946, với điều kiện tiên thiên là sẽ được mời qua Paris.( 108)

3. Liên Bang Đông Dương

Trong phần thêm vào giờ chót của Hiệp định, hai bên đồng ý sẽ xúc tiến ngay việc thảo luận về qui chế tương lai của Đông Dương.

Ngày Thứ Tư, 20/2/1946, khi tham dự phiên họp của Commindo tại Paris, d’Argenlieu thuyết phục được chính phủ Gouin về sứ mệnh thực hiện Liên Bang Đông Dương trên cơ sở Tuyên ngôn 24/3/945.( 109)

Trong khi đó, dù chấp nhận gia nhập Liên bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp, Hồ Chí Minh vẫn giành quyền thảo luận ngay về qui chế tương lai Đông Dương. Theo Sainteny, đòi hỏi này do Hồ Chí Minh sợ Liên Bang Đông Dương trở thành cái bẫy ngăn cản ước muốn thống nhất và tự chủ thực sự. Ngày 3/3/1946, Đảng CSĐD cũng nhấn mạnh làợ “Nếu Pháp chủ trương cho Đông Dương tự trị theo Tuyên ngôn 24/3/1945 thì ta nhất định đánh.[ 43], nhưng nếu công nhận tự chủ thì sẽ có thể hòa.”( 110)

Trong cuộc gặp mặt ngày 24/3/1946 ở Vịnh Hạ Long, Hồ chỉ chấp nhận gia nhập Khối Liên Hiệp Pháp, như một thành viên có đầy đủ quyền tự chủ theo khuôn mẫu dominion [xứ tự trị] của Khối Liên Hiệp Bri-tên. Riêng Liên Bang Đông Dương, chỉ là một hình thức liên hiệp kinh tế, kể cả thuế quan và tài chính. Đây có lẽ là lý do thầm kín khiến Hồ nhấn mạnh đòi hỏi hòa đàm ở Pháp và cá nhân mình sẽ qua Paris.

Với d’Argenlieu, lập trường của Hồ không chấp nhận được. Sứ mệnh của d’Argenlieu là tái lập sự vĩ đại của nước Pháp qua việc tái khai sinh một Liên Bang Đông Dương mới. D’Argenlieu sẽ trở thành một thứ “quốc trưởng,” chịu trách nhiệm trực tiếp với chính phủ Pháp mà không lệ thuộc vào Bộ Hải Ngoại. D’Argenlieu tin rằng Hồ Chí Minh, giống như Norodom Sihanouk, các vua Lào, hay các tù trưởng sắc dân thiểu số trên toàn lãnh thổ Đông Dương đều phải thuần phục Cao Ủy, không thể giao dịch trực tiếp với Paris. Nhưng sau buổi hội kiến ngày 24/3/1946, D’Argenlieu kết luận rằng Hồ–một tay cách mạng chuyên nghiệp, có khuynh hướng Marxism, rất mưu kế, biết rõ mình muốn gì, và đang khôn khéo khai thác mọi ưu điểm của hiệp ước sơ bộ mà tảng lờ mọi điều khác–chẳng bao giờ thành thực với Pháp.

Không kém mưu kế và quyết tâm, D’Argenlieu chỉ thấy Hiệp ước 6/3/1936 như sản phẩm của hoàn cảnh, không đáng được giành cho những gì nó không có. Nên d’Argenlieu từng hứa với Comindo sẽ sửa đổi lại những điều đã ký kết để giành phần ưu thắng tốt đẹp nhất cho nước Pháp. (111)

Để đạt mục đích, d’Argenlieu áp dụng một chiến thuật vừa nhu, vừa cương. Ở khía cạnh nhu, d’Argenlieu đề nghị Paris chấp thuận mời phái đoàn thiện chí Quốc Hội Việt Nam và cá nhân Hồ qua Pháp, tổ chức hội nghị trù bị ở Đà Lạt để tìm hiểu và giải quyết những vấn đề then chốt cá biệt, dùng làm cơ sở cho Liên Bang trong tương lai, nhưng tránh bàn sâu khung tổ chức Liên Bang. Qui chế tương lai của Đông Dương có thể là: Lào, Miên, Nam Kỳ với 9 triệu dân. Bắc Kỳ và An Nam cũng có thể tham gia. Một phần lớn dân miền Bắc không chấp nhận chủ quyền của Việt Minh. Như thế tương lai cần trưng cầu dân ý ở đây. Nam Trung Kỳ có thể sát nhập với Nam Kỳ.( 112) Trên khía cạnh cứng, d’Argenlieu quyết biến Nam Kỳ thành một xứ tự trị, sẽ có cơ sở pháp lý tương tự như VNDCCH, tức một nước tự do, trong Liên Bang Đông Dương. Điều duy nhất khiến d’Argenlieu bận tâm là bao giờ có thể nói thẳng ra với đại diện Việt Nam. D’Argenlieu hiểu rõ sự khác biệt rất lớn giữa phương pháp truyền thống Tây phương và Marxist. Phương pháp Marxist này hoàn toàn xa lạ với người Việt. Nó dựa trên lối diện giải duy vật lịch sử và một chiến thuật đặc thù: đấu tranh giai cấp. (113)

Paris cũng đồng quan điểm. Ngày 3/4/1946, trả lời CĐ 532F ngày 29/3/1946 của d’Argenlieu (đồng ý gửi qua Paris phái đoàn thiện chí), Moutet đề nghị nếu có thể, cử thêm phái đoàn Miên và Lào. Việc này giúp khởi đầu sự chấp thuận nguyên tắc tổng quát về Liên bang Đông Dương trong Khối Liên Hiệp Pháp, mà không cần hạn định ngày tháng cuối cùng đạt thỏa ước. Cần thiết lập các chính quyền địa phương tổng và xã. Nói cách khác, lập được một Liên bang Đông Dương càng nhiều xứ càng tốt. (114)

Tuy nhiên, d’Argenlieu và Paris quyết định không đi vào chi tiết tổ chức Liên Bang Đông Dương tại Đà Lạt.

4. Thày Tu và Nhà Cách Mạng:

Buổi hội kiến ngày Chủ Nhật, 24/3/1946, lưu lại trong d’Argenlieu những ý niệm đậm nét về Hồ. Có lẽ được cố vấn khá kỹ về vấn đề gọi là “thể diện” của người Việt, d’Argenlieu dành cho HCM những nghi lễ Hải quân trang trọng nhất. 21 phát thần công chào đón khi chiếc thủy phi cơ đưa HCM cùng đoàn tùy tùng ra Vịnh Hạ Long, rồi đáp tàu tới soái hạm L’ Emile Berlin. Ngay sau đó là buổi sơ kiến trong phòng làm việc của d’Argenlieu. Khi Linh mục Cao ủy nói rất thỏa mãn thấy liên hệ Pháp-Việt truyền thống được tái lập; HCM trả lời: “Thưa vâng, Cao ủy, những liên hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc chúng ta; nhưng chính tình hữu nghị mà những liên hệ trên phải tiến tới!” [Relations amicales entre nos peuples, monsieur le Haut Commissaire, oui; mais c’est fraternelles qu’elles doivent devenir!...]. (115)

Sau cuộc khán duyệt hạm đội Pháp, HCM và d’Argenlieu thảo luận vấn đề Liên Bang Đông Dương mà HCM coi như cái bẫy. Về đề nghị ngày 17/3/1946 của D’Argenlieu, Hồ nói muốn dẫn ngay một phái đoàn qua Paris để tiếp tục thảo luận hiệp ước chính thức giữa hai quốc gia. D’Argenlieu đề nghị gửi phái đoàn thiện chí qua Pháp, họp trù bị tại Đông Dương, và rồi chính thức ký kết ở Paris. Hồ có vẻ thỏa mãn, hoặc, không công khai phản đối.

Hai bên tạm ngưng họp, ăn trưa. Trong lời chào mừng, d’Argenlieu nói về Hiệp ước sơ bộ như một khởi đầu cho những thảo luận tương lai. Hy vọng sẽ vượt qua mọi trở ngại. HCM đáp lễ. Tiếp đó, HCM được làm khách danh dự của cuộc diễn hành đoàn chiến hạm Pháp.

Buổi nói chuyện lần thứ ba bắt đầu lúc 15G30. Ngoại trưởng Nguyễn Tường Tam, Hoàng Minh Giám, Jean Sainteny và Longeaux được tham dự. Vấn đề tổ chức Liên Bang Đông Dương và địa điểm họp hòa đàm là hai trong những trở ngại lớn. Vì Hồ cần trở lại Hà Nội trước buổi tối, hai bên đồng ý Sainteny và Hồ sẽ tiếp tục thảo luận thêm. 17G00, HCM rời soái hạm. Lại 21 phát súng đại bác đưa tiễn.

Ngày 25/3, sau khi tiếp đại diện Đồng Minh trên tàu L’Emile Berlin, d’Argenlieu thúc dục Sainteny báo cáo gấp kết quả đề nghị của mình ngày 24/3. Nhưng ngày 26/3, khi được hồi đáp của HCM, D’Argenlieu cảm thấy không chấp nhận được: Hồ không nhắc gì đến Liên Bang Đông Dương hay việc Cao Ủy chủ tọa phiên họp trù bị. (116)

Trên soái hạm từ Hạ Long về Nha Trang, D’Argenlieu ghi nhận về Hồ như sau:

Sinh năm 1889, 56 tuổi. Hiện nay chưa phải là nhà lãnh đạo quốc gia mà chỉ là một thủ lĩnh cách mạng Cộng Sản. Đây là một người tinh tuyền, về đạo đức: không có sự đút lót hay sai vạy nào có thể khiến ông ta đáng bị chỉ trích . Về phương diện tri thức, ông ta thu thập được khá nhiều; ông ta biết cách làm mình nhỏ lại, khiêm tốn và ... thích ca ngợi người khác [un flatteur]. Ông ta thật ấm áp. Ông ta bén nhậy về vấn đề đối xử. Ông ta tự nguyện sử dụng những thuật ngữ tình cảm: tình bạn [amitié], tình hữu nghị [tình bác ái] [fraternité], chung thủy [loyauté], sự ngay thẳng [thật thà] [franchise], v.. v...

Nhưng ông ta biết rõ những gì mình muốn. Ông ta muốn một qui chế biến Đại Nam thống nhất thành một dominion [kiểu xứ tự trị trong Liên Hiệp Bri-tên], theo trình độ tiến hóa hiện tại. Giáo điều và lý tưởng, ông ta không đo lường được nếu sự trưởng thành chính trị đã cho phép điều đó hay chưa.

Sức mạnh to lớn của ông ta là sự thành thật liên tục. [239]

Có thể nào thay đổi ông ta mà ông ta không thấy đó là sự bội phản? Ông ta không tin tưởng ở ý định của chúng ta, dù ông ta ngưỡng mộ và chấp nhận sự ngay thẳng của chúng ta [la droiture de tel ou tel de notres].

Ông ta chỉ tin tưởng ở những gì phục vụ kế hoạch [desseins] của ông ta. Ông ta lắm mưu kế [Il sait ruser]. Ở lúc mà người ta ngỡ rằng có thể đạt thỏa thuận, ông ta khiến mọi sự trở lại từ đầu. Ông ta không thể, ông ta không muốn hủy bỏ những điều có lợi của hiệp định sơ bộ và phụ ước quân sự mà ông ta phải miễn cưỡng ký kết. Ông ta muốn rút ra từ nó nhiều hơn nữa. Giữ lại những gì ông ta thích, và quêạn lãng tất cả những thứ khác. Ông ta biết cách khéo léo ràng buộc những người thiếu thẩm quyền và không trách nhiệm hứa hẹn một cuộc thương thuyết ở Paris. Ông ta bám cứng vào đó.[ 239]

Ngày 24/3/1946, ông ta dường có vẻ đồng ý: một phái đoàn thiện chí của Quốc Hội; hội nghị trù bị ở ....; kết thúc ở Paris.

Bản phản đề nghị thay đổi, gạch bỏ, thêm, hiệu đính....

Giấc mộng của ông ta là tiêu hủy Liên Bang Đông Dương và nói chuyện trực tiếp giữa Hà Nội với Paris. Đó là lòng kiêu ngạo Á Đông. Không giành được tiếng độc lập, ông ta nỗ lực đạt được nó trong thời gian ngắn nhất.

Chỉ đồng ý cho một phái đoàn thiện chí qua Pháp.

Phần cá nhân HCM, sở dĩ ông ta muốn qua Pháp để khuấy động giới tả phái Pháp và gây áp lực với chính phủ lâm thời. Đó là cách vận động của lãnh tụ một đảng.( 117)

Ngày 29/3/1946, d’Argenlieu viết báo cáo về Paris:

Mục đích cuối cùng của HCM là độc lập. Ông ta biết mình muốn gì, và hành động cứng cỏi [opiniâtreté].

Ông ta phải ký hiệp định sơ bộ một phần vì giống chúng ta, để tránh cho dân chúng tình trạng chiến tranh khổ sở, phần vì muốn củng cố sự lãnh đạo của đảng ông ta với chính phủ Hà Nội và nếu có thể với dân chúng khắp nơi.

Vị thế của ông ta là vị thế chiến thuật. Chính sách của ông ta là tách rời dần khỏi văn bản Hiệp ước 6/3/1946, và đòi cho bằng được độc lập. Điều đầu tiên ông ta muốn loại bỏ là Liên Bang Đông Dương. Thủ thuật của ông ta là không thương thuyết ở Đông Dương mà phải nói chuyện ở Paris.

Bởi vậy, D’Argenlieu đề nghị chính phủ Pháp đồng ý cho một phái đoàn thiện chí qua Paris, nhưng không chấp thuận phản đề nghị mới của HCM. Tại Hội nghị trù bị Đà Lạt tạm thời không đề cập đến chi tiết tổ chức Liên bang hay liên hệ giữa các nước thành viên và liên bang. Hai lý do chính là thế quân sự của Pháp ở miền Bắc còn yếu và VNDCCH cương quyết chống lại việc gia nhập Liên Bang. Hội nghị trù bị Đà Lạt cũng như hiệp ước chính thức tại Paris sẽ chỉ nhấn mạnh nguyên tắc các nước tự do gia nhập Liên bang. Sẽ bàn về chi tiết vấn đề nhân viên ngoại giao, bảo vệ công dân Pháp và ngoại kiều, vấn đề an ninh và căn cứ quân sự, hải quân và không quân, duy trì quyền lợi kinh tế. (118)

Ngày 30/3/1946, d’Argenlieu chỉ thị cho Sainteny yêu cầu HCM họp hội nghị trù bị [conférence préparatoire] ở Đà Lạt mà Chính phủ Pháp cho là nơi tốt nhất. Ngoài ra, nên giải thích với HCM rằng Đà Lạt thích hợp nhất với sức khoẻ của cá nhân Cao Ủy. Nên giải quyết sớm để phái đoàn thiện chí qua Pháp, rồi HCM sẽ qua Paris. (119)

Cuối cùng, Hồ đồng ý họp trù bị ở Đà Lạt, rồi thương thuyết chính thức ở Fontainebleau. Phái đoàn QH Việt Nam thăm thiện chí Pháp trong thời gian Hội nghị trù bị Đà Lạt diễn ra. Hồ cũng được mời qua Paris như quốc khách. Trước khi Hồ lên đường, d’Argenlieu sẽ ra thăm Hà Nội theo lời mời của Hồ. (120)

Giải pháp này, theo d’Argenlieu, vừa gỡ sĩ diện cho Hồ, vừa bao bọc cho những phụ tá cao cấp đã vượt quá quyền hạn và trách nhiệm khi hứa hẹn với Hồ trước và sau ngày ký Hiệp ước sơ bộ. Hai nhân vật d’Argenlieu ám chỉ có lẽ là Sainteny và Salan. Sainteny đã tự động ký với Hồ một số điểm không hề được d’Argenlieu phê chuẩn, kể cả Phụ ước quân sự. Salan thì bị Paris yêu cầu đích danh phải về nước báo cáo lý do đã ký những điều khoản không thể chấp nhận được. Bởi thế, d’Argenlieu đồng ý cho Sainteny từ chức, và gửi trả Salan về Bộ Quốc Phòng sau Hội nghị Đà Lạt.( 121)

Phần Leclerc, dưới mắt d’Argenlieu, “thiếu kiên nhẫn.” Leclerc cũng đôi khi vượt quá quyền hạn, không tuân hành chỉ thị của d’Argenlieu. Trò đấu trí giữa d’Argenlieu và Hồ Chí Minh về việc họp Hội nghị tại Pháp là giọt nước làm tràn ly của mối liên hệ chẳng mấy thân thiết giữa hai người được đích thân de Gaulle tuyển chọn để đưa con thuyền lạc bến Đông Dương trở lại với mẫu quốc. Là người bén nhạy với những biến đổi của xã hội Việt Nam qua giai đoạn Nhật chiếm đóng, Leclerc đã chuyển dần quan điểm từ tái chinh phục bằng sức mạnh quân sự qua chính trị, hay ngoại giao.

Sau nửa năm đương đầu với kháng chiến quân miền Nam, Leclerc thấy được mối hiểm họa của một cuộc chiến du kích kéo dài bất tận, giữa một đạo quân viễn chinh bị giới hạn tiềm năng với một chính phủ lang thang trong rừng núi, và một hậu phương đầy khủng hoảng ở Âu Châu. Bởi thế, Leclerc nghiêng về thương thuyết với một chính phủ hợp pháp ở Hà Nội. Công điện ngày 14/2/1946 của Leclerc, đề nghị chấp nhận độc lập cho Việt Nam–chỉ 48 tiếng đồng hồ sau khi d’Argenlieu nắn nót viết ra chỉ thị hòa đàm cho Sainteny–đã gây chấn động Paris.( 122)

Việc Leclerc đình trễ chuyển giao đề nghị của d’Argenlieu ngày 17/3–tức thảo luận tại Đông Dương thay vì Paris–càng khiến d’Argenlieu thiếu tin tưởng hơn ở Leclerc. Bởi thế, trong buổi hội nghị với Hồ tại Vịnh Hạ Long, d’Argenlieu không cho Phó chủ tịch Hội Đồng Liên Bang kiêm Ủy viên quân sự, người hùng giải phóng Hà Nội, tham dự. Theo d’Argenlieu, ông ta muốn giải tỏa cho Leclerc những sự cam kết trước đó với Hồ. (123)

Sau đó, Leclerc được chấp thuận cho hồi hương, thay thế bằng Valluy–người d’Argenlieu tin tưởng hơn với các đức tính cứng rắn, thuần túy quân sự. Cựu ủy viên chính trị de Raymond được chuyển làm Ủy viên Cộng Hòa Lào. Pignon–người từng dự mật đàm với Hồ từ năm 1945–lên thay de Raymond với chủ trương dùng biện pháp mạnh, miễn hồ không xé bỏ Hiệp ước 6/3/1946. (124)

Sự thay đổi nhân sự vào đầu tháng 4/1946 này không chỉ để chuẩn bị cho Hội nghị trù bị Đà Lạt mà nằm trong một sách lược rõ rệt của d’Argenlieu: Đó là bước qua giai đoạn 2 của chu trình thiết lập Liên Bang Đông Dương. Không kém quan trọng, là quyết định thực hiện lời đe dọa từ trước ngày ký hiệp định: Cao Ủy Linh Mục không muốn dùng sức mạnh, chẳng phải không có sức mạnh. Biểu hiệu đầu tiên là việc thành lập chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị, song hành với thời gian triệu tập Hội nghị trù bị Đà Lạt.( 125)

Những biến cố chính trị này, tưởng cũng nên ghi nhận, diễn ra trên bối cảnh một cuộc du kích chiến ở miền Nam mà giới chức Pháp mệnh danh là “bình định” đã kéo dài hơn nửa năm, và viễn ảnh dọa nạt của việc chiến tranh lan rộng ra khắp phía Bắc vĩ tuyến 16–nơi Pháp chỉ có 15,000 quân nhân các quân binh chủng. Một lực lượng tinh nhuệ, nói theo Bernard B. Fall, “quá mạnh để Pháp chống lại ý muốn sử dụng chúng, nhưng không đủ mạnh để ngăn cản Việt Minh thử giải quyết toàn bộ vấn đề chính trị bằng cách đuổi người Pháp ra biển.” [The French forces . . . were too strong for France to resist the temptation of using them, yet not strong enough to keep the Viet Minh from trying to solve the whole political problem by throwing the French into the sea].( 126)

Tuy nhiên, Fall có lẽ đi quá xa khi kết luận:

Sự bùng nổ của cuộc chiến Đông Dương có thể truy nguyên tới sự ước lượng sai lầm bi thảm trên. [“The outbreak of the Indochina war can be traced back to that single, tragic erroneous estimate.”] (127)

Thực ra cuộc chiến Đông Dương đã khởi đi từ tháng 9/1945, khi binh đội của Leclerc chưa kịp đổ bộ ở Cap Saint Jacques hay Sài Gòn. Nguyên ủy của cuộc Tam Thập Niên chiến là ý chí thực dân của de Gaulle và phe đảng “Pháp mới” hay “Pháp tự do.” Ít nữa với người Việt, một cuộc kháng chiến chống Pháp đang tiến hành khi Pháp theo chân quân Bri-tên trở lại Sài Gòn; và vấn đề đặt ra là hòa hay tiếp tục chiến đấu. Tách biệt cuộc kháng chiến ở miền Nam với khối dân tộc Việt ở những phần đất còn lại là một sai lầm chiến lược của các viên chức Pháp, và càng sai lầm hơn trong những nghiên cứu sử học thiếu khách quan hoặc thiếu thông tin trung thực.( 128)

D’Argenlieu và một số tác nhân lịch sử Pháp chẳng phải không hiểu rõ điều đó. Nhưng họ cố giải thích cuộc kháng chiến của người Việt ở miền Nam như một cuộc nổi loạn, hay những hành động cướp bóc, khủng bố vì mục đích riêng: Đó là không chấp nhận một chính phủ Việt Nam độc lập, thống nhất do HCM cầm đầu, vì lý do này hay lý do khác. Lập luận của d’Argenlieu vào hạ tuần tháng 4/1946 rằng đòi hỏi thống nhất lãnh thổ của Việt Nam không có cơ sở địa lý, lịch sử, kinh tế–là một trò chơi của trí tuệ, thứ lý luận của kẻ mạnh, kiểu các Thánh lệnh trong hai năm 1493-1494 của Giáo Hoàng Alexander VI (129)–chỉ cho phép vũ trụ và nhân loại hiện hữu trên chiếc giường thành kiến tiên thiên của mình. (130)

Hơn nữa, Cộng Sản và chống Cộng là hai khuynh hướng chính trị đang lôi cuốn cả thế giới vào một cuộc đương đầu gay gắt sắp tới. Bài diễn văn “Bức Màn Thép” của Winston Churchill chưa được đọc, nhưng sự hợp tác chống khối Trục Phát xít giữa các siêu cường đang rạn nứt dần từ sau Hội nghị Potsdam. Tại Trung Hoa, dù Stalin đang cố dàn xếp một giải pháp liên hiệp giữa Tưởng và Mao, viễn tượng nội chiến tiềm ẩn từng ngày. Tại Việt Nam, dù Hồ đã giải tán Đảng CSĐD, nhưng d’Argenlieu khó thể dung thứ hay lãng quên dĩ vãng Hồ. Là người chỉ có thể phân biệt thiện [good] và ác [evil] theo nguyên tắc Ki-tô–tức chỉ có phe ta mới thiện, và không phải phe ta là ác quỉ–d’Argenlieu không đủ khả năng nhận hiểu, hoặc tảng lờ tính chất bì phu [nominal] của những người tự nhận theo một ý thức hệ hay tôn giáo nào tại Việt Nam. Điều khiến HCM và nhóm cầm quyền đáng bị ghét bỏ hơn nữa là họ có sức mạnh thực sự, về tổ chức, binh lực, cũng như sự yểm trợ của quần chúng. Một lãnh tụ VNQDĐ trẻ, có học thức, nhiều năm sau phản ảnh:

Tôi gặp anh Lê, người cầm đầu Bộ chỉ huy [chiến khu 3 tại Vĩnh Yên] lúc đó. Sau bữa cơm rau dưa thanh đạm với anh em, chúng tôi đi dạo trong thành phố và ra cả ngoài thị trấn nhưng không thể đi xa được nhiều vì chung quanh làng mạc đều do Việt Minh kiểm soát. Có cách nào để phát triển ra vùng nông thôn? Anh Lê cũng chịu bó tay vì không có người biết cách tuyên truyền nông dân. Mà dùng võ lực thì chỉ có vài chục tay súng. Muốn giữ vững thị trấn cũng đủ hụt hơn rồi. Tất cả anh em, kể cả đảng viên và các anh em khác, không quá vài trăm người. Về tài chánh lại quá eo hẹp. Quân đội chủ yếu do đám lính khố xanh cũ hợp thành. . . .( 131)

Chính cái sức mạnh thực sự này của VNDCCH–và khả năng tự tồn của nó–khiến d’Argenlieu và Valluy không đành cam tâm nhìn Việt Nam nói riêng, và Đông Dương nói chung, lướt trượt khỏi sự kiểm soát của Pháp. Bởi thế, một cuộc thánh chiến khó tránh. Với đủ loại lý do muốn trưng dẫn [prétextes].

 

Kết Luận:

Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 được ký kết phần lớn do sự khuyến khích, nếu không phải áp lực của Trung Hoa.

Những người bạn rừng xanh của HCM và Việt Minh, cùng một số chuyên viên ngoại giao cấp trung bình, vẫn yểm trợ Việt Minh. Vì đa số những người này đều hoạt động tại Trung Hoa và Đông Nam Á, sự hiện diện và tiếng nói của họ ít nhiều giúp HCM sống sót qua chế độ quân quản TH trong hai năm 1945-1946. (132)

Danh từ chính xác nhất để gọi Hiệp ước 6/3/1946 là một Hiệp ước “tiện nghi.” Vì đã được ký dưới áp lực của Trung Hoa và hoàn cảnh đặc thù của xã hội Việt Nam vào mùa Xuân 1946, cả hai phe ký kết đều chỉ muốn công nhận những gì tiện nghi cho mình.

Về phía Pháp, việc Trùng Khánh hoãn ký Phụ bản quân sự và quyết tâm ngăn cản quân viễn chinh Pháp đổ bộ trước khi đạt được thỏa thuận với chính phủ VNDCCH khiến chiều ngày 6/3/1946 Sainteny đã phải ký một Hiệp ước khác hẳn với những gì đã gửi về Sài Gòn xin d’Argenlieu phê chuẩn. D’Argenlieu buông xuôi, coi nó như cơ sở cho những thương thuyết kế tiếp. Paris cùng một tâm ý. Mối quan tâm hàng đầu của Pháp là đưa quân đội ra phía Bắc vĩ tuyến 16, cho quốc quân TH triệt thoái; sau đó sẽ “đóng cửa” bàn “việc nhà” với HCM hoặc bất cứ ai sẽ lên nắm quyền. Về phía Việt Nam, dưới áp lực Chu Phúc Thành, HCM đã đạt được những điều khoản tốt đẹp nhất có thể đạt được trong cảnh trên búa, dưới đe. Trước hết là quân TH, với lập trường chống Cộng, sẽ rút khỏi VN, mở ra cơ hội tiêu diệt các lực lượng chống đối, đặc biệt là Việt Quốc (VNQDĐ và Đại Việt). Việt Minh nắm được độc quyền cai trị, độc quyền yêu nước và độc quyền kháng Pháp nếu cần.

Vì Hiệp ước chỉ được các phe phái ký kết thi hành những điều khoản lợi ích nhất cho họ, hầu hết những điều khoản còn lại đều không được tôn trọng, và diễn giải theo ý hướng riêng. Từ “nước tự do” tới Liên Bang Đông Dương, hay thống nhất ba kỳ. Ngay đến địa điểm thảo luận một hiệp ước chính thức cũng bị sửa đổi, tranh cãi. Sự thất bại của Hội nghị trù bị Đà Lạt, và nỗ lực không thực thi Tạm ước [modus vivendi] 14/9/1946 của cả hai phe–d’Argenlieu với những cái cớ [prétextes] như “Tuyên ngôn 24/3/1945” và điều 9 của Tạm ước 14/91946–đẩy hai bên tới điểm “không thể quay trở lại.”

Trong khi đó, cả đôi bên không ngần ngại sử dụng sức mạnh, nếu cần. D’Argenlieu từng chỉ thị cho Sainteny nên bảo thẳng HCM rằng Pháp không muốn sử dụng sức mạnh quân sự, mà không phải thiếu sức mạnh. Leclerc, Valluy hay những phụ tá của họ–như Mus–cũng đồng ý rằng người Việt chỉ hiểu lý lẽ khi đối diện sức mạnh. Bởi thế, dù chỉ vận dụng được một quân số trên dưới 30,000 người từ chính quốc và các thuộc địa, đa số cấp chỉ huy Pháp chỉ thấy sức mạnh quân sự của mình mà không thấy được sự đổi thay rộng lớn và sâu xa ở Việt Nam–sự thay đổi toàn diện khiến d’Argenlieu và đạo quân viễn chinh trở thành đoàn lữ hành lang thang vô định hướng giữa hai thế giới: một, Liên Bang Đông Dương của trước năm 1940-1941 đã chết; và một Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp mới chưa đủ khả năng để khai sinh.

Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp nghĩ khác: Sức mạnh quân sự Pháp không đáng kể, cuộc kháng chiến ở miền Nam chứng tỏ Pháp đang lúng túng với chiến thuật du kích, và nhóm lãnh đạo CS sẵn sàng rút ra chiến khu. Với người tự nhận là Cộng Sản theo Stalinist, cách mạng là tấn công; hòa đàm hay ngoại giao đều là một hình thức của tấn công, cho tới lúc đạt được mục tiêu cuối cùng–tức giành đoạt được quyền cai trị và độc quyền biến đổi xã hội theo khuôn mẫu mà họ nghĩ Karl Marx và Lenin đã dạy bảo. Cách nào đó, giống như người Pháp mới, nhóm lãnh đạo Việt Nam–Dân chủ mới hay Cộng Sản–lôi cuốn toàn dân Việt vào một cuộc phiêu lưu vô định hướng từ một thế giới đã chết là ba xứ Bắc Kỳ, An-Nam và Nam Kỳ “thuộc địa-phong kiến” đến một nước Việt Nam đại đồng chưa, nếu không phải chẳng bao giờ, có khả năng ra đời. Họ không sợ bạo lực và luôn luôn muốn tìm cơ hội sử dụng bạo lực để đạt mục tiêu cuối cùng. Những cuộc nổi dạy năm 1930-1931 hay 1940 chỉ là những “bài học diễn tập.” Cuộc chiến tranh chống Pháp (1945-1954) và rồi nhất thống miền Nam (1959-1975)–dưới chiêu bài kháng chiến chống Mỹ–là những bằng chứng khác của chủ trương sử dụng bạo lực. Lê Duẩn (1908-1986)–qua những bài nói chuyện tại Hội nghị Trung Ương thứ 12 (khoá III) ngày 27/12/1965 và Hội nghị Trung Ương thứ 14 (khoá III) vào tháng 1/1968 tóm lược một cách chính xác nhất nguyên tắc, “Cách mạng là tiến công, không tiến công là thất bại” của phe chủ chiến Cộng Sản.( 133)

Sự khác biệt của hai bên khó thu hẹp, và cuộc đương đầu bằng võ lực khó tránh; chẳng nên qui trách cho bất cứ phe nào. Kết quả chung cuộc là cả hai dân tộc Pháp-Việt đều thua. Việt Nam bị lọt vào một vùng trời nhiễu loạn các cuộn sóng từ lực sắt máu trong tiến trình tái thiết lập một thế quân bình chính trị-quân sự-kinh tế mới ở Á Châu–một trật tự hậu thực dân kiểu tân Trung Cổ.

Từ thời điểm này nhìn lại, không thể không tự hỏi nếu các cường quốc áp lực mạnh hơn–khiến Pháp chấp nhận một chế độ khuynh tả của HCM, trong Khối Liên Hiệp Pháp bình đẳng về chính trị, kinh tế và ngoại giao, trước ngày Mao Trạch Đông chiến thắng ở Hoa lục trong hai năm 1948-1949–liệu có khả năng tiết kiệm được bao xương máu và mất mát của ba dân tộc Việt, Pháp và Mỹ trong 30 năm kế tiếp? Một câu hỏi, dĩ nhiên, chẳng bao giờ có đáp án chính xác, vì không xảy ra. Với người Cộng Sản, cách mạng là thực tiễn. Họ không sợ sai lầm, vì sai lầm nhất định sẽ có, và được “sửa sai” qua các biện pháp tự phê, phê bình, và giáo dục. Vài cá nhân và phe nhóm có thể bị thay thế, rút vào hậu trường–như trường hợp Trường Chinh, Lê Văn Lương hay Hồ Viết Thắng sau cuộc “sửa sai” Cải Cách Ruộng Đất năm 1956-1958–rồi lại được đánh bóng trở lại khi thời cơ đến. Con đường “định hướng xã hội chủ nghĩa” là một chuỗi những cuộc phiêu lưu vô định hướng kế tục mà cái giá phải trả được tính lên đám đông “nhân dân làm chủ” dưới sự quản lý của nhà nước ngày một phát triển nặng nề, chồng chéo, chẳng có hy vọng gì sẽ tan biến đi.

CHÍNH ĐẠO

Houston, 6/3/2006

Phụ chú: HIỆP ƯỚC SƠ BỘ 6/3/1946

1. Cao Ủy Thierry d’Argenlieu, chẳng hạn, coi chính phủ Hồ như một ị giả chính phủ do cá nhân Hồ Chí Minh thống trị [pseudo-gouvernementá(que domine la personalité de Ho Chi Minh)]; Ể Amiral Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine, 1945-1947 (Paris: Albin Michel, 1985), tr. 431-432. Sẽ dẫn: Chronique.

2. Đoạn liên hệ đến thống nhất ba kỳ, Giáo sư Hammer ghi: “The question of the reunification of the three kys [regions] ‘the French government pledges to honor the decisions of the people consulted through a referendum [by plebiscite]’;” Idem., The Struggle for Indochina (Stanford, Cal.: Stanford Univ Press, 1954), tr. 153. Trong nguyên bản Hiệp định, đại diện Pháp nhấn mạnh ở chữ “les populations” [the peoples], tức tất cả các sắc tộc tại ba kỳ, kể cả dân thiểu số như Miên, Ê-đê, Chàm, Jarai, Nùng, Tày [Thổ], Mường, Mán, v.. v... Đa số các tác giả cũng không đề cập đến những điểm thêm vào giờ chót trong văn bản Hiệp định, hay Phụ ước quân sự. Xem infra.

3. Xem Chronique, 1985; Jean Sainteny, Histoire d’une paix manquée: Indochine, 1945-1947 (Paris: Amiot Dumont, 1953), Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, in lần thứ 5 (Hà Nội: QĐND, 1975, 2001) và Idem., Chiến đấu trong vòng vây (Hà Nội: QĐND, 2001). Sẽ dẫn: Paix manquée: KTNQ và CĐTVV.

4. Kho tài liệu giá trị nhất, theo kinh nghiệm của chúng tôi, là văn khố Sở Sử Học Lục Quân Pháp [SHAT], tại Vincennes, một ngoại ô Paris. Tại Trung Tâm Văn khố Hải Ngoại Pháp [CAOM] ở Aix en-Provence, hai sưu tập Indochine Nouveaux Fonds [INF] và Cao Ủy Liên Bang Đông Dương [HCFI], đặc biệt là tài liệu của Ủy viên Chính trị [Conseillers Politiques] là nguồn thông tin cơ bản. Trung Tâm Lưu Trữ Trung Ương Pháp [CARAN] ở Paris cũng có những sưu tập giá trị về chính phủ lâm thời Charles de Gaulle, cùng các tác nhân lịch sử quan trọng như Henri de Laurentie, Georges Bidault, v.. v... Năm 1983, chúng tôi yêu cầu gia đình Jean Sainteny cho phép tham khảo tư liệu Sainteny tại Trường Cao Đẳng Chính Trị (Paris), nhưng bị từ chối. Riêng tư liệu Việt Nam và Trung Hoa chưa giải mật hoàn toàn. Chúng tôi phải dựa trên các ấn phẩm định kỳ xuất bản tại Đông Dương trong thời gian này, so sánh với tập Văn Kiện Đảng Toàn Tập [VKĐTT], cùng những nghiên cứu của các học giả có cơ hội làm việc tại văn khố Quốc Dân Đảng Trung Hoa, như King C. Chen, hoặc văn khố Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, như Qiang Zhai, v.. v...

5. Ngày 18/3/1947, Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet tuyên bố trước Quốc Hội Pháp rằng Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 được ký kết vi sự an toàn của 20,000 Pháp kiều. Nhưng trong thư ngày 5/10/1945 gửi Thủ tướng de Gaulle, d’Argenlieu chống lại việc di tản Pháp kiều ở Hà Nội và Trung Kỳ (Huế) theo lời yêu cầu của Mỹ và Trung Hoa trên phương diện nhân đạo. D’Argenlieu muốn Pháp kiều ở lại, để có thể khai thác sự an toàn của họ trong nỗ lực tái thiết lập chủ quyền ở Đông Dương; Chronique, 1985:65.

6. Op Directive 25, HQ USFCT, 28 Aug 45, China Theater files; dẫn trong Ronald H. Spector, United States Army in Vietnam–Advice and Support: The Early Years, 1941-1960 (Washington, DC: CMH US Army, 1983), tr. 52.

7. Charles de Gaulle, Complete War Memoirs, tr. 929; Vũ Ngự Chiêu, “Social and Cultural Change in Vietnam Between 1940 and 1946,” Ph.D. Dissertation, Univ. of Wisconsin-Madison, Dec 1984, part III, tr. 557; Chronique, 1985:67, 70; King C. Chen, “The Chinese Occupation of Viet-Nam, 1945-1946;” France-Asie/Asia, No. 196 (1er trimestre, 1969), tr. 6. Chen sử dụng nhật ký của Chu Hsieh, Yueh-nan shou hsiang jih chi (Shanghai: Commercial Press, 1947), tr. 2-4, một luật sư cha Quảng Đông, mẹ Việt, phụ trách Ban Tài chính của quân quản Trung Hoa.

8. Thư ngày 22/10/1945, Hồ Chí Minh và Vĩnh Thụy gửi Tưởng Giới Thạch (do Tiêu Văn chuyển lên Tướng Trần Thành); US Department of Defense, United States-Vietnam Relations, 1945-1967 (Washington: GPO, 1971), Book 1:C-83; Công điện ngày 28/10/1945, HCM gửi Tưởng (do Tướng Philip E. Gallagher chuyển); Ibid., C-91. Những công điện và thư từ của HCM trong giai đoạn này đều được tóm lược bằng Việt ngữ trong Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, tập IA: 1939-1946 (Houston: Văn Hoá, 1996). Sẽ dẫn: US-Vietnam Relations, 1945-1967, và VNNB, IA: 1939-1946.

9. Xem Tài liệu số 1, “Extract from the Report to the Combined Chiefs of Staff by the Supreme Allied Commander, South-East Asia, 30 June, 1947;” Great Britain, Parliamentary Debates, 1945-1946.

10. Thiếu tá Allison Thomas, trưởng toán Deer Team, chuyển về Côn Minh lời đe dọa này; United States Congress, Senate, Causes, Origins, and Lessons of the Vietnam War. Hearings before the Committee on Foreign Relations, 92nd Congress, 2nd Session, May 1972 (Washington: GPO, 1973), tr. 270 [pp. 243-271]; Chính Đạo, VNNB, IA: 1939-1946, 1996:219-220. Về kế hoạch “Hoa quân nhập Việt,” xem King C. Chen, Vietnam and China, 1938-1954 (1969); Lê Tùng Sơn, Nhật ký một chặng đường (Hà Nộiá: Văn Học, 1978)á; Nguyễn Lương Bằng et al, Đầu Nguồn (Hà Nộiá: 1977); Phùng Thế Tài, Bác Hồ những kỷ niệm không quên (Hà Nộiá: 2002).

11. Tài liệu cơ bản chúng tôi sử dụng là CAOM (Aix), Affaires politiques [AP], carton 3441. Chúng tôi chỉ ghi xuất xứ các tư liệu khác khi cần thiết.

12. “Relevé des troupes chinoises par les troupes francaises en Indochine du Nord: Evolution des pourparlers et des événements, jour par jour;” SHAT (Vincennes), 10H 141.

13. Báo cáo ngày 6/6/1946 của Bloch-Lainé, tr. 16; CAOM (Aix), Affaires Economiques [A.E.], c. 308; Thư ngày 29/11/1945 của J. Fontaine; Ibid., INF, c. 338, d. 2718; Ibid., AP, c. 3441, d. 2.

14. Giáp, KTNQ, 1975:107-108, 2001:96-98; Sơn, 1978:200-209. [209-210] Trước khi rút khỏi Bắc Việt, Chu mới giao trả Sơn cho Huỳnh Thúc Kháng.

15. Công điện số 206-G, Hausaire gửi Comindo; CAOM (Aix), INF, c. 158, d. 1362. Ngày 21/1, từ Trùng Khánh, Salan chỉ thị cho tiểu đoàn E-đê [Rhadé] của Lepage, đã theo Alessandri qua Vân Nam từ tháng 5/1945, rời Tsao Pa lên đường vào Lào ngày hôm sau. Tiểu đoàn này gồm 178 Âu, 969 Đông Dương, 25 ngựa vận tải, 228 ngựa chiến [chevaux de bât]; Raoul Salan, Memoires: Fin d’un empire, 4 vols. (Paris: Presses de la Cité, 1970-1971), I:258-78.

16. Chronique, 1985:119-120, 139-140.

17. CAOM (Aix), AP, c. 3441; Chronique, 1985:161-168. Chính phủ Hà Nội chỉ biết tin này qua lời tuyên bố của Moutet ngày 20/2, là Trùng Khánh đã đồng ý cho quân Pháp thay quân Trung Hoa tại Bắc vĩ tuyến 16; Giáp, KTNQ, 2001:129.

18. CAOM (Aix), AP, c. 3441, d. 2. Tính đến ngày 28/2/1946, Ngân hàng Đông Dương đã ứng cho quân TH 394 triệu. Chi phí cho dân sự Pháp 68 triệu và quân đội 251 triệu; Ibid., Affaires économiques [AE], c. 308.

19. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk I, C-96, 100, 101; FRUS, 1946, VIII:29-30; Chính Đạo, VNNB, I-A: 1939-1946, 1996: 307-308, 310.

20. FRUS, 1947, VI:91.

21. CAOM (Aix), INF, carton 128, d. 1152. Xem infra.

22. CAOM (Aix), INF, carton 368, d. 2925.

23. Chronique, 1985:432, 433-435. Hội đồng Liên Bang Đông Dương gồm có: D’Argenlieu, Cao ủy, Chủ tịch; Leclerc, Phó Chủ tịch kiêm quân sự. Các Ủy viên (Conseiller) Tư pháp: Albert Torel; Ngoại giao: Achille Clarac; Chính trị: Jean de Raymond; Kinh tế: Esquisseaux [sau đó, Guillanton]; Tài chính: Francois Bloch-Lainé; Giáo dục: Marcel Ner; Lục lộ: Gassier; Y tế: Solier. Các Ủy viên Cộng Hoà (commissaire): Alessandri, Miên; Cédile, Nam kỳ; Sainteny, Trung và Bắc kỳ; Lào, Đại tá Imfeld. (JOFI, I [15/11/1945]:9-10).

24. Chronique 1985:163-166.

25. Chronique, 1985:98, 147. Xem infra.

26. Sainteny, 1953:117; Eugène Mordant, Au service de la France en Indochine, 1941-1945 (Saigoná: Edition IFOM, 1950), tr. 183-184; CAOM (Aix), INF, c.159, d. 1363. Thời gian này, Sainteny cũng gặp Nguyễn Hải Thần hai lần, nhưng không đạt kết quả nào.

27. Chronique 1985:98.

28. Chronique 1985:99.

29. Chronique 1985:100, 105-107.

30. Chronique 1985:107-113; Vũ Ngự Chiêu, Lá bài bí mật của de Gaulle: Hoàng tử Vĩnh Sang (Houston: Văn Hóa, 1992); Idem., Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), tập III. Ngày 3/1/1946, de Langlade mới báo cho d’Agenlieu tin Vĩnh San bị tử nạn. Ngày 8/2/1946, một Phiếu trình [“Note”] của Sở Nghiên Cứu và Thông Tin, Nha Quân nhân Thuộc Địa [SEITC], Bộ Quốc Phòng Pháp, ghi: “Trước khi nhận một một vai trò quan trọng ở An Nam, Vĩnh San muốn trở lại Réunion thăm gia đình một lần chót.” Ngày 22/2/1946: Trung tá Regondeau, Giám đốc SEITC, gửi thư cho d’Argenlieu, đính kèm hai tấm hình của Thiếu tá Vĩnh San, và một bài viết trên Climats của Claude Artois, “Vinh San: Prince d’Annam, mort pour la France.” Theo ghi nhận của Ủy viên Chính trị Bonfils năm 1949, Duy Tân được chú ý nhờ thư của Langlade, báo cáo của Thiếu tá Trocard thuộc SĐ 9, và Trung úy Bousquet. Vĩnh San có nhóm Tam Điểm (Franc-maconnerie) yểm trợ. Nhiều người Pháp và Việt tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nghệ An và Hà Tĩnh yểm trợ Duy Tân; CAOM (Aix), HCFI, CP 255 [sẽ giải mật năm 2009]. Đinh Nho Hàng, một sĩ quan điệp báo của Pháp tại miền Nam từ thập niên 1930, cũng thành lập Đảng Bảo Hoàng để phò Duy Tân. Hàng là tác giả những báo cáo khá chính xác về chuyến thăm Đông Dương của Maurice Honel (18/7-13/9/1937), cùng sinh hoạt của lãnh đạo Đảng CSĐD như Cinitchkin Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Nguyễn, Bourov Dương Bạch Mai, Fan Lan Nguyễn Thị Minh Khai, “chị Hai Sóc” v.. v... trong năm 1937; TTLTQG 2 (TP/HCM), GOUCOCH, IIA 45/231 (2); CAOM (Aix), SPCE, 365. Xem thêm thư ngày 10/9/1937, F.L. gửi QTCS; RC 495, 10a, 140, pp. 23-27; dẫn trong Quinn-Judge, “Women,” p. 265; SPCE 385.

31. Note ngày 4/12/1945; Papiers Bidault; Valette 1984:4.

32. Chronique 1985:146-149.

33. Tel No. 515/Cab, Cororient gửi EMGDN Paris, ngày 17/2/1946; SHAT (Vincennes), 10H 143; Chronique 1985:156-157.

34. Tel. số 232/C.I., ngày 21/2/46, D’Argenlieu gửi Sainteny; SHAT, 10H 143á; Chronique 1985á:159-161.

35. Chronique, 1985:168.

36. Chronique, 1985:173-175.

37. SHAT (Vincennes), 10H 141.

38. CGP (Hà Nội), số 33, 18/11/1945. Năm 2000, Đảng CSVN sửa lại là BCH Đảng CSĐD họp ngày 11/11/1945, quyết nghị tự giải tán, thành lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương;” VKĐTT, 8:1945-1947, 2000:19-20.

39. Chỉ thị tháng 9/1946; dẫn trong République francaise, S.D.E.C.E., “Notice technique de contre-espionnage: Extrême-Orient, Les services spéciaux sovietiques en Extrême-Orient” (20 mai 1947); Annexe II,” tr. 12; CAOM [Aix], INF, c. 138-139, d. 1245. Xem thêm “Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord;” Ibid., Affaires Politiques [AP], carton 3441, d. 4; và Haut Commissariat de France pour l’Indochine, Affaires Politiques, Note No. 1687 CP/1, Saigon le 23 Sept 1948, “Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948) [par Charles Bonfils]; SHAT (Vincennes), 10H 287 [sẽ dẫn: Báo cáo Bonfils ngày 23/9/1948].ợ

40. V. I. Lenin, State and Revolution (New York: International Publishers, 1974), tr. 15-20.

41. Chính Đạo, VNNB, I-A: 1939-1946, 1996; Idem., Hồ Chí Minh: Con người & huyền thoại, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1993, 1997), tập Iⅈ Idem., “Báo Tiếng Dân: Vài tư liệu mới;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 86 (Xuân Bính Tuất, 2006), tr. 25-26, 28; TTLTQG 3 (Hà Nội), QH, HS 1.

42. Xem Đường Kách Mệnh (1929), in lại trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập [VKĐTT], 1:1924-1930 (Hà Nội: NXB CTQG, 2000); Huỳnh Kim Khánh, Vietnamese Communism, William J. Duiker, Ho Chi Minh (New York: 2000), tr. 618ns13,15. Anatoli A. Sokolov, Quốc Tế Cộng Sản và Việt Nam, bản dịch Đào Tuấn (Hà Nội : NXBCTQG. 1999). Đây là tác phẩm xuất sắc nhất về các sinh viên Việt Nam tại Nga. Về việc khai tử Nguyễn Ái Quốc, xem “Biographie de Ho Chi Minh (1949);” Ibid., 19 PA, c. 4, d. 62; Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years, 1924-1941 (Berkeley: Univ. of California Press, 2002), tr. 202-203; Idem, “Women in early Vietnamese communist movement: sex, lies, and liberation;” South East Asia Research (London), 2000, Vol. 9, 3:249.

43. Cứu Quốc [CQ] (Hà Nội), 10/9/1945; TTLTQG 3 (Hà Nội), QH, HS 1. Xem thêm, Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc Hội, Lịch sử Quốc Hội Việt Nam, 1946- 1960 (Hà Nội: NXBCTQG, 2000), tr. 30-31.

44. CQ, 23/10/1945. Theo tài liệu CS, “Hội nghị liên tịch của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội” nhóm họp tại Hà Nội ngày Chủ Nhật 21/10/1945; sau đó, ra tuyên ngôn đoàn kết, đặt nước nhà và dân tộc lên trên hết. Đại biểu VM có Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Ba, Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), Nguyễn Công Truyền. Đại biểu Đồng Minh Hội (Việt Cách) gồm có Đinh Chương Dương, Trương Trung Phụng, Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật, Hồ Đức Thành, Vũ Kim Thành, và Dương Thanh Dân; CGP (Hà Nội), 28, 25/10/1945. Thời gian này, theo Lê Tùng Sơn, Sơn được Giáp chỉ thị lập ra một hệ phái Đồng Minh Hội ly khai; cũng xuất bản báo Đồng Minh, để tấn công nhóm Nguyễn Hải Thần-Vũ Hồng Khanh; Sơn 1978:189-91.

45. DPSG, Rapport mensuel, Décembre 1945 (7/1/1946); CAOM (Aix), CP, Carton 125.

46. Thư Thiều Bá Xương gửi King C. Chen; Chen 1969b:129. Xem thêm Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử (Québec, Canada: NNCSĐ, 1981), tr. 80-83; Vũ Đình Hoè, Hồi ký (Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2004), tr. 750-812.

47. Tài liệu Mật thám Pháp ghi thoả hiệp ký ngày 23/12. Theo Lê Tùng Sơn, cùng tham dự trong buổi này có Hoàng Cương, Tham mưu trưởng của Lư Hán, và Từ Xấu Thu, đại biểu Tam Dân Chủ Nghĩa Thanh Niên Đoàn, cơ quan mặt nổi của tình báo Trung Hoa.

48. CQ, 26/12/1945. Ngày 26/12, trong một buổi họp báo, Hồ chính thức tuyên bố là từ ngày 1/1/1946, chính phủ lâm thời sẽ mở rộng, nhưng chỉ có 10 bộ. VNQDĐ sẽ nắm hai bộ Kinh tế Quốc Gia và Vệ Sinh. Riêng Quốc Hội sẽ được bầu vào ngày 6/1/1946. Số nghị sĩ trong Quốc Hội sắp tới sẽ dành riêng 70 ghế cho phe Quốc Dân Đảng; CQ, 28/12/1945; Giáp, KTNQ, 1975:110-1; 2001:99.

49. Năm người khác là Trần Duy Hưng (Việt Minh, Đô trưởng Hà Nội); Vũ Đình Hoè (Dân Chủ); Nguyễn Văn Luyện (Dân Chủ, báo Tin Mới); Nguyễn Thị Thục Viên (Không đảng phái); Hoàng Văn Đức, kỹ sư canh nông (Dân Chủ); Vũ Đình Hoè, 2004:767.

50. Xem danh sách 70 Đại biểu này trong TTLTQG 3 (Hà Nội), Kho QH, HS 1; Lịch sử QHVN, 2000:369-372.

51. CAOM (Aix), INF, c. 126, d.1125á; Nguyễn Tường Bách, 1981:84-85á; Vũ Đình Hoè, 2004:756-757; Sơn, 1978:216-217.

52. Báo cáo ngày 6/2/1946, Pignon gửi d’Argenlieu; Chronique, 1985:140-141.

53. Hai nghiên cứu xuất sắc về Hòa Hảo và Cao Đài bằng Mỹ ngữ là Hue Tam Ho Tai và Jayne Werner. Giáo sư Hồ Huệ Tâm sử dụng tài liệu văn khố Pháp, nhất là kho tài liệu trong Văn khố Lục quân Pháp (SHAT (Vincennes)), trong khi Werner nghiên cứu ngay tại Việt Nam. Học giả Sơn Nam và Hứa Hoành cũng cung cấp những ngiên cứu giá trị về đồng bằng sông Cửu Long, như một cơ sở chung để tìm hiểu lý do dẫn đến sự hình thành hai giáo phái trên. Xem thêm David G. Marr, Vietnamese Tradition On Trial (1980); Vũ Ngự Chiêu, 1984, chương 4-6. Một số tư liệu về Cao Đài, Hòa Hảo trong kho Phủ Thủ Tướng và Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa tại TTLTQG 2 (TP/HCM) đã mở ra cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.

54. Mai Chí Thọ, Những mẩu chuyện đời tôi (Hà Nội: NXB Công An Nhân Dân, 1995), tr. 124, 137-138.

55. CAOM (Aix), HCFI, CP 192?. Từ tháng 5/1946, và nhất là từ năm 1947, các lãnh đạo Ki-tô mới trực tiếp tham gia hoạt động chính trị và quân sự.

56. TTLTQG 3 (Hà Nội), QH, HS 5865. Tài liệu Pháp ghi sinh năm 1912; SHAT (Vincennes), 10H 642; Một tài liệu CSVN khác ghi Giáp sinh năm 1910; ND, 11/9/1960. Về Nguyễn Thị Quang Thái, xem CAOM (Aix), RST F30 [4]. Cho tới nay, cuộc nổi dạy tháng 11/1940 vẫn chưa được nghiên cứu tường tận. Xem Ibid., 7F 27, và PA 14, c. 2; Vũ Ngự Chiêu, 1984; Marr, 1995.

57. Xem, Nguyễn Thị Thập, Từ đất Tiền Giang (Sài-gòn: Văn Nghệ, 1986), tr. 64, 260, 265-267, 284-287, 312, 384, 387.

58. Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, 3 tập (Houstoná: Văn Hóa, 2001-2004), tập Iá; Nguyễn Tường Bách, 1981:85-86.

59. Chronique, 1985á:118.

60. CAOM (Aix), INF, Carton 126, d. 1125á; Thư gửi Sainteny ngày 12/2/1946; Chronique 1985:146-149; công điện 354, 355, 356 của Sainteny ngày 25-27/2/1946, SHAT (Vincennes), 10H 143; “Tình hình và chủ trương, ngày 3/31946;” VKĐTT, 8:1945-1947, 2000:42-43; Giáp, KTNQ, 1974:142-4, 2001:129-131; Nguyễn Tường Bách, 1981:80-87.

61. La République (Hà Nội), 10/3/1946. Theo Giáp, Hồ đã bàn về việc thành lập chính phủ Liên Hiệp này với Tiêu Văn; vì các đảng phái chống đối; Giáp, KTNQ, 1974:149-50; 2001:136-137. Ngày 2/3/1946 này, 70 đại biểu VNQDĐ và Việt Cách mới được chính thức giới thiệu. Xem danh sách trong TTLTQG 3 (Hà Nội), Kho QH, HS 1; Quốc Hội Việt Nam, Lịch sử QHVN, 2000, I:369-372.

62. Báo cáo của Nguyễn Văn Tố và trả lời chất vấn của HCM tại Phiên họp khóa 2 Quốc Hội từ 28/10 tới 9/11/1946; TTLTQG 3 (Hà Nội), Kho QH, HS 5.

63. Nguyễn Tường Bách, 1981:89-92; US Senate, Hearings, 1973:330.

64. CĐ ngày 27/2, Sainteny gửi Haussaire; SHAT (Vincennes), 10H 143.

65. Xem công điện số 152/E, ngày 3/3/1946, d’Argenlieu gửi Sainteny; số 2960-2962, ngày 5/3/1946, và số 404-407, ngày 5/3/1946, Comrep [Sainteny] gửi Haussaire [d’Argenlieu]; SHAT (Vincennes), 10H 143. Chronique, 1985:173-175.

66. “Tình hình và chủ trương, ngày 3/3/1946” (VKĐTT, 8:1945-1947, 2000:41-47) Xem thêm Chỉ thị của Ban TVTW Hòa Để Tiến ngày 9/3/1946;” VKĐTT, 8:1945-1947, 2000:48-56. Theo tư liệu Pháp, chỉ thị này được gửi đi ngày 7/3/1946.

67. US-Vietnam Relations, Bk I, 1971:I C:93-94.

68. US-Vietnam Relations, Bk I, 1971:C-96.

69. US-Vietnam Relations, Bk I, 1971:C-100. [Đây là những thư tín cuối cùng HCM đích thân gửi cho chính phủ Mỹ, do Landon đích thân mang từ Hà Nội về Côn Minh và Trùng Khánh ngày 27/2/1946].

70. SHAT (Vincennes), 10H 141; Chronique, 1985:441.

71. Thư ngày 10/4/1946, Legendre gửi Salan, 10H 141; VNNB, 1996:314-315.

72. Chronique, 1985:441. Phái đoàn TH có Ma Ying, Gaston Wang, Tsai và các sĩ quan tham mưu; SHAT (Vincennes), 10H 141.

73. Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Phó CT: Nguyễn Hải Thần (Việt Cách); Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng (độc lập); Ngoại Giao: Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân chính); Quốc Phòng: Phan Anh (độc lập); Tư Pháp: Vũ Đình Hoè (Dân Chủ); Giáo dục: Đặng Thai Mai (Mác-xít) [tạm thời cho tới khi Ca Văn Thỉnh nắm quyền]; Lao Động: Nguyễn Văn Tạo (Mác xít); Xã hội-Y tế: Trương Đình Chi [hay Tri] (Việt Cách); Tài chánh: Lê Văn Hiến (Mác xít); Kinh tế: Chu Bá Phượng (VNQDĐ); Canh Nông: Huỳnh Thiện Lộc (Nam); Công Chính: Trần Đăng Khoa (Nam). Cố vấn tối cao: Nguyễn Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Thứ trưởng: Hoàng Minh Giám (Nội Vụ), Tạ Quang Bửu (Quốc Phòng), Nghiêm Kế Tổ (Ngoại giao), Nguyễn Văn Hưởng (Tư Pháp), Đặng Phúc Thông (Giao thông, Công Chánh), Trịnh Văn Bính (Tài Chánh), Đỗ Đức Dục (Giáo Dục), Bồ Xuân Luật (Canh Nông), Đỗ Tiệp (Xã Hội); US-Vietnam Relations, Bk I, B-52.

74. CĐ số 152-E, ngày 3/3/1946, d’Argenlieu gửi Sainteny; SHAT (Vincennes), 10H 143; Chronique, 1985:182.

75. Công điện số 152/E, ngày 3/3/1946, d’Argenlieu gửi Sainteny; SHAT (Vincennes), 10H 143.

76. Tels 2960-2962, 4/3/1946, Comrep [Sainteny] gửi Hausaire [d’Argenlieu]; SHAT (Vincennes), 10H 143; Chronique, 1985:183.

77. Ngày 30/10/1946, Dân biểu Lê Trọng Nghĩa hỏi về việc sửa quốc kỳ. Nguyễn Văn Tố trả lời là thoạt tiên chính phủ có đề nghị sửa lại đôi chút nhưng Ban Thường trực QH cương quyết chống lại. Tối 31/10/1946, HCM tuyên bố thêm về việc đề nghị đổi cờ: Thời thế đã thay đổi. Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm máu đồng bào Trung Bộ, Nam Bộ, vinh danh từ Đông qua Tây, nay không thể thay đổi được. TTLTQG 3 (Hà Nội), QH, HS 4: Khoá họp lần thứ hai của QH nước VNDCCH tại thủ đô Hà Nội (từ 28/10 đến 9/11 năm 1946).

78. Xem các công điện trao đổi giữa d’Argenlieu với Sainteny và Sài Gòn với Paris trong SHAT (Vincennes), 10H 140, 141, 143. Xem thêm những lời tự biện bạch của d’Argenlieu trong Chronique, 1985:182-183. Tháng 3/1947, tại Quốc Hội Pháp, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Moutet còn tiết lộ đã nhiều lần tuyên bố với Hồ rằng “Việt Nam” trong bản Hiệp ước sơ bộ chỉ có nghĩa phần lãnh thổ phía Bắc vĩ tuyến 16. Bởi thế mới có điều khoản tổ chức trưng cầu dân ý [referendum] về vấn đề Nam Kỳ; AAN, 1947:878, col 1.

79. Chronique, 1985:442, 195.

80. CĐ 404-407, 5/3/1946; SHAT (Vincennes) 10H 143; Chronique, 1985:185-186.

81. SHAT (Vincennes) 10H 143; Chronique, 1985:187.

82. Xem chi tiết trong báo cáo của Valluy; SHAT (Vincennes), 10H 140, trích đăng trong Chính Đạo, VNNB, IA: 1939-1946, 1996). Xem thêm Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam Máu Lửa (Los Amitos, Cal.á : Xuân Thu, 1989), tr. 66-68.

83. SHAT (Vincennes), 10H 143; Chronique, 1985:188-189.

84. Giáp, KTNQ, 1975:201-2; 2001:177-181.

85. Giáp, KTNQ, 1975:218; 2001:194-195.

86. US Senate, Hearings, 1973:339.

87. Giáp, KTNQ, 1975:224-225, 2001:168.

88. Vũ Đình Hoè, 2004:776.[ 776-783], [784-785]; Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên (Hà Nội: NXB Quân đội Nhân Dân, 1994), tr. 34.

89. Giáp, KTNQ, 2001:172-176; Chronique, 1985:197.

90. Chronique, 1985:191-193.

91. Tel. 213 CI, 9/3/1946; SHAT (Vincennes), 10H 141.

92. Annales de l’Assemblée Nationale [AAN] (Paris), 1947:876, col 2).

93. Chronique, 1985:207.

94. Chronique, 1985:202-203.

95. Tel No. 237 CI, 13/3/1946, Paris gửi Haussaire; Chronique, 1985:207.

96. Tél. 264/CI/1006, ngày 15/3/1946; Chronique, 1985:211.

97. Chronique, 1985:212. Ngày 19/3, Moutet tiết lộ thêm rằng Bộ trưởng Ngoại Giao (Georges Bidault) chống đối mãnh liệt phụ bản quân sự; Tél 289/CI/1042; Chronique, 1985:215.

98. Tél. 290/EMHC, 23/3/1946; Chronique, 1985:228, 210-211.

99. SHAT (Vincennes), 10H 141; Giáp, KTNQ, 1975:224-225; 2001:199-200.

100. SHAT (Vincennes), 10H 141. Tiêu lệnh trên được nhắc đến trong văn thư ngày 31/12/1946 của HCM gửi chính phủ Pháp, do Lãnh sự O’Sullivan chuyển giao cho Sainteny. Ngày 18/3/1947, Moutet cho rằng HCM chỉ đưa ra Tiêu lệnh trên như một cái cớ, và diễn dịch nó theo lối dẫn chứng đoạn chương cho mục đích tuyên truyền.

101. Pháp được đồn trú 1,750 quân ở Hải Phòng; 825 tại Nam Định; 1,025 ở Hòn Gay; Giáp, KTNQ, 1975:224-225, 2001:168.

102. Lê Văn Hiền, Nhật ký một Bộ trưởng, 2 tập (Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 2004); Bernard B. Fall, The Two Vietnams: A Political and Military Analysis (New York: Praeger, 1964,1965), pp. 70-71.

103. Chronique, 1985:197.

104. Chronique, 1985: 198-199, 204, 206)

105. Tél. 31, 33, 35 CAB/A, ngày 13, 15, 16/3/1946; Chronique, 1985:210.

106. CĐ số 263/CI/1005, ngày 13/3/1946; Tél. 472-F, ngày 17/3/1946, Haussaire gửi Comindo; 1985:212-213; Tél. 289/CI/1042, ngày 19/3/1946, Comindo gửi Haussaire; Chronique, 1985:211, 215.

107. Chronique, 1985:219-221.

108. Chronique, 1985:[221-225]

109. Chronique 1985:164.

110. VKĐTT, 8:1945-1947, 2000:43.

111. Chronique, 1985:251.

112. Chronique, 1985:251.

113. Chronique, 1985:251.

114. CĐ số 370/CI/1146; Chronique, 1985:246-247.

115. Chronique, 1985:229.

116. Chronique, 1985:237-239.

117. Chronique, 1985:238-240.

118. CĐ 532F, Haussaire gửi Comindo; Chronique, 1985:240-241, 245.

119. Tél. 284 E, ngày 30/3/1946, Haussaire gửi ComRep; Chronique, 1985:246.

120. Chronique, 1985:249-250. Nguyễn Văn Xuân là người được Việt Minh liệt kê như một thành viên chính phủ lâm thời ngày 28/8/1945. Sau này, tài liệu Cộng Sản giải thích rằng Nguyễn Văn Xuân là một đảng viên VNQDĐ. Tập tài liệu của Quốc Hội Việt Nam còn đăng cả hình Nguyễn Văn Xuân. Tuy nhiên, khi tham khảo tư liệu văn khố Quốc Hội Việt Nam năm 2005, chúng tôi chỉ tìm thấy tên Nguyễn Ngọc Xuân. Bởi thế, kết luận của chúng tôi trong luận án 1984 và bài viết về chính phủ Trần Trọng Kim năm 1986 trên Journal of Asian Studies–tức Việt Minh tự do sáng tạo trong việc tuyên truyền đoàn kết quốc gia–vẫn khó thể điều chỉnh.

121. Sau này, Salan mượn Leclerc gọi d’Argenlieu là “un Monsieur vilain” [một ông xảo quyệt] trong hồi ký.

122. CĐ 501/4 ngày 14/2/1946, Haussaire Saigon gửi Haussaire Paris; SHAT (Vincennes), 10H 143. Tướng Juin giao công điện này cho d’Argenlieu ngày 18/2/1946 tại Paris; và cả hai đều sửng sốt; Chronique 1985:155.

123. Chronique, 1985:233; Chính Đạo, VNNB, I:A, 1996:323; Giáp, KTNQ, 2001:202-206

124. Cuối năm 1946, khi d’Argenlieu quyết định nhóm HCM-Võ Nguyên Giáp đã trở thành dĩ vãng, Pignon đưa ra sáng kiến về thí nghiệm Bảo Đại. Tuy nhiên, mãi tới ngày 8/3/1949, khi Pignon lên làm Cao Ủy Đông Dương, Hiệp ước Elysée mới được ký kết.

125. Người đề xướng việc thành lập Nam Kỳ tự trị là Jean Cédile. D’Argenlieu mượn bài diễn văn ngày 1/2/1946, tức Tết Bính Tuất, để công bố kế hoạch “La Cochinchine aux cochinchinois,” khởi đầu bằng việc thiết lập Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ.

126. Fall, Two Vietnams, 1965:75.

127. Ibid.

128. Có tác giả cho rằng cuộc chiến Đông Dương chỉ bắt đầu từ tháng 12/1946. Đa số các tác giả này đều coi chính phủ Trần Trọng Kim (4-8/1945) như một thứ bù nhìn của Nhật; và tất cả những kế hoạch của chính phủ Kim là “những lời tuyên bố ý định” [declaration of intents]. Và, người ta không thể giải thích được rằng tại sao chính phủ “cách mạng” HCM, từ tháng 8/1945, đã ra sức thực hiện hầu hết “những lời tuyên bố ý định” trên.

129. Xem tóm lược về các Thánh lệnh [bulls] này trong Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 389-396.

130. Xem báo cáo ngày 26/4/1946, Haussaire gửi Comindo; Chronique, 1985:274-277.

131. Nguyễn Tường Bách, 1981:91-92.

132. Về liên hệ giữa HCM với các cơ quan tình báo Mỹ, xem David G. Marr, Vietnam 1945 (Berkeley, Cal.: Univ. of California Press, 1995), tr. 227-229, 241-296, 476-479, 482-490,498-á501, 538-539; US Senate, Hearings, cùng hồi ký của Archimedes Patti, Charles Fenn, v... v...

133. VKĐTT, 26:1965, 2003:607-616, 29:1968, 2004:1-40. Xem thêm Chính Đạo, “Mậu Thân 68: Thắng Hay Bại?;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 87 (Tân Niên Bính Tuất), tr. 43-49.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 7266)
(Xem: 9495)
(Xem: 10701)
(Xem: 10355)
(Xem: 10623)
(Xem: 11133)
(Xem: 9912)
(Xem: 9636)
(Xem: 9760)
(Xem: 10145)