- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,703

MẢNH VỠ CUỐI NĂM 2020

25 Tháng Ba 202111:13 CH(Xem: 1738)


tranh AN PHONG
Tranh Ann Phong

Thy An

MẢNH VỠ CUỐI NĂM 2020

 

*

chai rượu quý dính bụi từ lâu

hôm nay mời bạn hiền một ngụm

uống chưa say mà tay run ly rượu ngã nhào

hề hà nhìn đèn ai mờ tỏ

thủy tinh vỡ trên đá

khu phố đàng xa còn mơ tiếng nhạc ca

 

*

ờ nhỉ tháng giêng, năm sắp hết

cười khề khà - lại sắp Tết nữa rồi -

vuốt tóc, đưa tay, bẻ ngón

ít khi nào vui như thế

xuề xòa như trẻ lên năm

mùa đại dịch cách ly ngứa miệng

hai bạn già như hai bạn vàng

tuổi xế chiều gặp nhau là cãi

cái sầu viễn khách nghĩ ra ngắn ngủi

thôi, cụng ly tạm quên sầu

trà dư tửu hậu được bao lâu ?

 

*

đọc Tô Thùy Yên chẳng oán chẳng thù

lại thêm chút rượu  

nỗi nhọc nhằn quê hương chìm nổi

một cõi mông lung, một chốn lầu nhầu

ta cùng bạn trầm ngâm vơ vẩn

thơ Tuệ Sỹ áng mây trời phiêu bạt

nhìn gần hơn, những chậu sành ở cuối bãi dâu…

 

*

ma quỷ vẽ vời mộng lớn

cờ xí rợp trời, tiếng ngọng nghịu đâu đâu

anh hùng bách chiến khòm lưng bỗng nặng

nợ non sông tan tác mấy vuông nhà

con ngựa bên đường ngậm cỏ sao thấy đắng

con chim buồn nuốt hạt đậu bờ ao…

*

mới hôm qua đi một vòng phố chợ

lòng thương đau nhớ những miếu đền

biên cương thuở nọ mờ nhân ảnh

định mua hoa hồng cắm dưới tảng rêu xanh

à ơi khi nào trở lại nhìn sông núi

chiếc áo màu đen bạc núi sông

nửa thế kỷ chưa một lần về đất tổ

lòng có đau xin gửi theo khói buốt nhang trầm

 

*

bạn hiền còn đó cụng ly chót nữa

tay có run cũng cố nhâm nhi

nhìn mặt nhau chẳng chút hoài nghi

lòng son sắt chỉ mình ta biết…

 

thy an

tháng 02-2021- viết lại

  

 

DÙ GÌ RỒI CŨNG PHẢI

 

dù gì rồi cũng phải đi vào lòng đêm

thứ bóng đêm ma quái trong đó mọi vật không được chia đều

những tiếng la và tiếng khóc

ta sợ lời nói và cử chỉ của con người hung dữ

và sợ tù đày

vốn là hình phạt của thói quen không chính danh

 

dù gì rồi cũng phải đi vào lòng đêm

để giấu kín những điều bí ẩn

bao nhiêu hoang phí sinh ra từ trăn trở

dưới đủ mọi cách nhìn

thơ là niềm an ủi

cho những tâm địa bình thường như lá hoa

 

dù gì rồi cũng phải đi vào lòng đêm

những bờ môi và ngón tay trò chuyện

luôn khởi đầu bằng lời nói

vinh danh tình yêu đủ mọi hình dáng

những ngôi sao rơi xuống từ bầu trời

sáng trên tay những người đàn ông và đàn bà

bốn mùa thu đông xuân hạ

 

dù gì rồi cũng phải đi vào lòng đêm

là nơi thinh lặng nhất

chứa kỷ niệm lâu năm chưa cũ

chia sẻ gió sương và cô đơn

trái tim đồng cảm cất lên tiếng gọi

ấm lòng vô biên

 

dù gì rồi cũng phải đi vào lòng đêm

bằng con đường qua nhanh khép lại

bao nhiêu năm ròng rã

bao nhiêu sách nằm yên

tiếng ai cười trong không gian nhỏ bé

nhắc bài thơ thiếu chữ rụt rè…

 

thy an

 

 

KHIẾN TA BẤN LOẠN ?

 

khi người di dân trở nên hung bạo

quậy phá bằng chút hơi tàn trên bờ biển cạnh những xác chết

khi những kẻ tài phiệt

tung một núi tiền thao túng nhân gian

ta sẽ quăng thơ vào đá

cúi đầu trong đêm

như con mèo giật mình

như con chim hoảng sợ 

lẽ nào cơn đại dịch từ phương xa

đã khiến ta bấn loạn tâm can phèo phổi ?

con vi khuẩn nhỏ xíu đánh vào đông người

không chủ thuyết nào cự lại

kể cả độc tài gian dối

giấu bao nhiêu rồi cũng lộ

thành phố giới nghiêm chẳng bóng người qua

mọi người đứng xa ngại bị nhiễm lây

quốc gia thu mình sợ cơn sóng dữ

mặt nạ đeo lên người như  trong phim hoạt họa

có lẽ nào con vi khuẩn

đã làm bấn loạn trong ta?

 

thy an

mùa dịch Covid-19  

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1066)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1135)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1823)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5864)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5837)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30063)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81196)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20235)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 337)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối