- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,685

NGUYỄN HUY THIỆP VỚI ĐIỆN ẢNH

25 Tháng Ba 202111:55 CH(Xem: 1801)


NHThiep-dien anh
Ảnh NHT thời mới ở Tây Bắc về

Về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, nhiều nhà văn nhà phê bình lý luận văn học có uy tín đã viết, tôi chỉ xin nói về mối “lương duyên” của anh với điện ảnh – như một nén nhang tưởng nhớ anh, ngày tiễn đưa anh rời Cõi Tạm…

Xin bắt đầu bằng một cuộc trò chuyện phiếm.

Đó là vào những ngày cả Hãng phim truyện VN như sôi sục lên trong giai đoạn tổ chức sản xuất bộ phim nhựa đen trắng “Tướng về hưu” dựa theo truyện ngắn cùng tên đang rầm rĩ dư luận xã hội của NHT. Sáng hôm ấy, đang ngồi họp xưởng đầu tuần theo thông lệ của Hãng, đồng chí bảo vệ ngó đầu vào nhắn: “Có nhà văn Nguyễn Huy Thiệp muốn gặp đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn”. Các bậc lãnh đạo và nghệ sĩ tên tuổi của xưởng nhìn quanh, vẻ ngơ ngác, không tin nổi một nhà văn đang được các nhà biên kịch, đạo diễn của một hãng phim lớn nhất nước này săn đón mời chào lại đến để gặp riêng một kẻ vô danh tiểu tốt mới chỉ làm “phó đạo diễn”- tức là kẻ “bưng bê tráp điếu hầu hạ” các đạo diễn tên tuổi. Bác xưởng trưởng bảo: “Có khi anh Thiệp nhầm với ai đó? Hãng này có mấy Tuấn cơ!” Anh bảo vệ: “Không, anh ấy nói là Tuấn cận, mới về xưởng Ba”. Thế là tôi được phép ra ngoài, dưới cái nhìn vừa nể vì vừa hơi ghen tỵ của các bậc trưởng thượng.

NHT đang ngồi ở một quán nước ngoài cổng Hãng đợi tôi – một trong những nơi mà từ đó các đoàn làm phim được sơ khởi thành lập, đạo diễn chọn người cộng tác, các hợp đồng ký tắt giữa tác giả văn học và người làm phim, v.v. Lúc đó, anh như đang ngầm quan sát những người ra vào và trò chuyện để nhét vào cái kho nguyên liệu truyện ngắn của anh, mà sau mấy phút gặp tôi, anh gọi đích danh đó là “Chợ người”, “Chợ lao động” của giới làm phim… Trong cái lần duy nhất tôi gặp anh Thiệp tại cổng Hãng phim này, tôi xin kể lại qua lời thoại:

NAT: Chào anh! Anh phải đợi lâu à? Xin lỗi, vì phải qua một đợt « rà xét lý lịch » - không phải là lý lịch của khách tới thăm mà là của chủ nhà…

NHT: (Cười nhẹ hồn hậu) Chứng tỏ cậu cũng có cái giá nào đó chứ nhỉ?

NAT: Có lẽ thế, mà nhờ anh thằng này lại được thêm mấy cái «chân kính» nữa!

NHT (Cười to) : Lỗi tại tớ, mấy lần trước tới Hãng làm việc về kịch bản chuyển thể, tớ không biết rằng cậu đã về đây… Hôm nọ, có dân viết Tây Bắc cũ kể về cậu, tớ mới biết, nên hôm nay rỗi rãi đến tìm cậu tại « hang hùm »…

NAT : Này, anh dọa tôi đấy à ? «Hang hùm nọc rắn ở đâu chốn này» ? Các bậc trưởng thượng ở đây ưu ái bọn trẻ lắm, đặc biệt là «con cháu nhà»…

NHT (Nghiêm mặt lại, như một kịch sĩ, chỉ thẳng tay) : Nếu quả thế thì cậu chỉ là loại «con rơi» thôi! Đừng ra vẻ đóng kịch lừa tôi!

NAT: Nếu có lừa anh thì cũng là mong anh đừng tỏ ra quan tâm đến tôi trong những cuộc làm việc sắp tới với Hãng, khiến tôi bị trù thêm…

NHT: Thứ nhất là cậu đã bắt đầu mắc cái bệnh «bách hại cuồng», thứ hai là tôi đâu có cái khả năng đặc biệt mà cậu gán cho ấy…

NAT: Anh thăm tôi tại Hãng hôm nay, vô tình để các bậc trưởng thượng xăm soi xét nét tôi, xem tôi có đủ tư cách để quan hệ với một nhà văn lớn mà phức tạp như anh hay không? Tôi cố tình giấu biệt đã có mối thân tình với anh từ hồi ở Sơn La, đã từng tới Hát Lót thăm anh và anh lên Thuận Châu thăm tôi… Nếu tôi hé ra mấy cái thư anh viết cho tôi, trong đó có bài thơ tứ tuyệt đầu tiên của anh gửi tôi, nhiều người sẽ chửi tôi là kẻ hợm mình, « thấy người sang bắt quàng làm họ »… Thôi, để đó sau này anh được giải Nobel, tôi sẽ bán đấu giá chúng, có làm kẻ « ăn theo » như thế mới bõ !

NHT ( Cười khùng khục) : Đúng cùng là dân ăn Sư ở Phạm lại là « Quân Khu Tây Bắc» với nhau… Cứt thật, thói đời! Thôi, chuyện vớ vẩn bỏ đấy đã. Tớ gặp cậu vì muốn xem «cái mặt không chơi được» của cậu có phù hợp với bối cảnh nửa nghệ thuật nửa kỹ thuật - nửa Nàng tiên nửa con đĩ chăm chăm moi tiền thiên hạ tới xem phim hay không? Và muốn, qua cậu… (Tôi nhìn thăm dò xem «cái mặt không chơi được» của anh đang có « âm mưu » gì ?) – Nhiều truyện của tớ đã có mấy đạo diễn sừng sỏ săn đón rồi, nhưng thâm tâm, hiện tại, tớ mới tin có mỗi ông Đặng Nhật Minh… Theo cậu ? Cậu thì mới về, chẳng nói làm gì, đừng có tự ái…

MAT (Gật đầu): Theo tôi biết, anh ĐNM đang lý thú với cái «Thương nhớ đồng quê » của anh.

NHT ( Gần như reo lên khe khẽ) : Tuyệt! Ông ấy có con mắt xanh! Chất «Thương nhớ đồng quê » rất ăn ý với «Bao giờ cho đến tháng mười»!

NAT: Ngoài ra, còn có đạo diễn Tự Huy nữa !

NHT: Hàng xóm Lủ của tớ đấy, tớ rất thân anh Tự Huy. Anh ấy đang thích truyện «Mưa Nhã Nam» của tớ, mong đưa lên màn ảnh…

NAT: Hình như anh có điều gì băn khoăn với cái «Tướng về hưu» chuẩn bị lên «bàn mổ»?

NHT: Mày đúng là thằng ma xó! Phải! Cái ông đạo diễn chính được giao cầm cờ phim này mặc dù đã học ở Đại học điện ảnh Liên Xô về, song có dáng vẻ và suy nghĩ của một chính trị viên tiểu đoàn thời bộ đội Cụ Hồ hơn là một nghệ sĩ hiện đại…

NAT: Xưởng trưởng của tôi đấy! Ông ấy tốt bụng, chân thành lắm…

NHT: Mày nhìn người vẫn bằng lăng kính của một ông giáo, lại là «giáo khổ» Tây Bắc, phải cắt cái đuôi đó đi ngay, hiểu chưa?

NAT: Vâng, thưa ông nhà văn nhớn đang mong giật giải Nobel!

NHT: Mày đểu vừa thôi, vuốt mặt phải nể mũi kẻ hàn sĩ Tây Bắc chứ? Nghe đây này: làm nghệ thuật, mà chỉ có lòng tốt, sự chân thành, thì dễ bị định hướng chính trị giật dây điều khiển. Mà nếu thế thì… Cứt !

NAT: Chịu ngài rồi! Nhưng với loại phim như «Tướng về hưu», phải là người có phẩm chất chính trị tốt, được thử thách, là Đảng viên lâu năm mới được giao «cầm cờ» ông ơi !

NHT: Khá khen mày đã học được cách nói của lãnh đạo! Nhưng chớ để nó lọt vào tư duy sáng tạo, hiểu chưa? Mà ít ra, nếu ông ấy làm chính, thì phải có những thằng phó như mày bên cạnh trợ giúp thì may quá…

NAT: Ngài lại ảo tưởng mất rồi! Cái chức Phó ấy của loại phim hoành tráng như «Tướng về hưu» cũng là một thứ béo bở mà đàn em của bậc «hàn sĩ Tây Bắc» chẳng thể chen chân được nổi, sẽ bị gạt từ ngoài vòng gửi xe!

NHT (Thở dài): Thú thực, có cậu là dân văn gốc tham gia vào phim này, tớ sẽ yên tâm hơn… Nhưng thôi, c’ est la vie, và nói như ông Hoàng Ngọc Hiến : « Cái nước mình nó thế », đành ăn quả đắng chờ đợi thôi…

NAT: Nếu được chọn kịch bản làm phim từ truyện của anh thì đầu tiên không phải là «Tướng về hưu» - chẳng phải vì là thằng đạo diễn chưa cắt được cái «đuôi nhà giáo» như anh nói… - NHT chăm chú chờ đợi, vẻ ngạc nhiên – Đúng, «Tướng về hưu» là truyện hay, nổi bật của anh, sản phẩm mà chỉ nhờ Thời Đổi Mới và bác Nguyên Ngọc mới có được, song nó chỉ là sản phẩm của một thời, lại theo cái mạch văn chương của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Nếu là tôi, tôi sẽ chọn cái truyện «Huyền thoại phố phường» hoặc vở kịch «Còn lại tình yêu» cơ!

NHT thoáng giật mình, trợn mắt nhìn tôi giây lát: Nếu là người khác, tớ sẽ thụi cho quả đấm, hay nhổ nước bọt bỏ đi. Nhưng cậu là «quân khu Tây Bắc», cũng từng theo một công-voa (convoi) giáo khổ lên Sơn La sau tớ vài năm, cũng gần 10 năm vùi đầu đọc sách giữa rừng quên buồn như tớ, lại cũng có lý… Sao, tay giáo khổ còn đuôi kia, cậu sòng phẳng tiếp đi nào?

NAT: Cảm ơn anh đã không cậy là người của công chúng hâm mộ mà ăn hiếp tôi - kẻ «dưới đáy» của giới văn nghệ - để đòi tôi sòng phẳng với anh…

NHT (Vội vã cắt lời): Đáo để thế, chính cậu mới là người chặn họng trước đấy!

NAT: Truyện «Huyền thoại phố phường» mới là truyện mang tính triết lý vượt biên giới và thời gian; dù anh có mượn cảm hứng từ truyện «Con Đầm Pích» của Puskin, song nó đã thâu tóm được thần thái và ung nhọt tinh thần xã hội Việt Nam trong thời buổi thị trường dị dạng này cho tới hàng vài thập niên nữa…

NHT (Gật gù): Được, tớ cho cậu điểm 8 +. Thế còn vở kịch «Còn lại tình yêu»?

NAT: Trên Tây Bắc, tôi với anh đã từng xem bộ phim «Mối tình qua những bức thư» ở bãi chiếu phim huyện đúng không nào? Trong khi dân dạy văn chúng tôi chỉ biết thán phục bộ phim, thì anh sau đó đã «hoán cốt đoạt thai» cốt truyện phim này để thành «Còn lại tình yêu», mượn những ngày giờ cuối cùng của nhà yêu nước Nguyễn Thái Học để gửi gắm thông điệp, qua thoại của ông thiếu tướng công an biểu tượng cho quyền lực: «Mọi sự rồi sẽ qua đi, rất nhiều biến cố rồi sẽ qua đi, bao nhiêu số phận rồi cũng qua đi, những người anh hùng cũng sẽ chết, chỉ có tình yêu thôi, chỉ có tình yêu mãi mãi còn lại…» Cái cảm hứng mọi cuộc chiến tranh hủy diệt và mọi cuộc tàn sát lương dân sẽ chấm dứt, chỉ còn lại Thế giới tràn đầy tình yêu – vốn là nguồn cảm hứng lớn của nhiều nhà văn phương Tây và Nga trong hơn thế kỷ tàn bạo vừa qua, đã được anh hình tượng hóa, sinh động hóa trong một vở kịch lịch sử giàu chất điện ảnh. Và tôi thiển nghĩ nó sẽ phải trở thành chủ đề lớn của văn học nghệ thuật nước ta trong những thập niên, và thập kỷ tới…

NHT lặng đi, mắt anh ngầu đỏ. Lát sau anh thì thầm: Thế thì chắc cậu cũng nhận ra: tất cả những truyện tớ đã và sẽ viết, nói nhiều về cái ác, cái đồi bại, cũng là mong khơi lại, và hoàn nguyên cái thiện trong con người - đó mới là cái gốc của Tình yêu. Nhưng tớ e rằng, hiện giờ cái đề tài này, cái ý tưởng này chắc khó được nhà nước đầu tư thích đáng cho điện ảnh, sân khấu! Cái vòng kim cô «Ta thắng - địch thua» và lòng căm thù giai cấp còn thít chặt trong đầu không ít những người lãnh đạo văn nghệ mà còn trong nhiều ông bà cầm bút mà tôi vẫn gọi đùa là «giặc-già-thơ-phú-lăng-nhăng»…

Sau lần gặp đó, suốt nhiều năm sau, tôi không gặp NHT lần nào, và chúng tôi cũng chẳng liên lạc với nhau. Điện ảnh VN tan tác, tất cả các rạp chiếu phim biến thành quán bia, vũ trường, quán ăn, tôi phiêu bạt vào phía Nam tìm đường làm phim… Cho tới lần, một đạo diễn trẻ tìm đến tôi, với tập bản thảo kịch bản phim sơ sài dựa theo truyện ngắn «Truyện tình kể trong đêm mưa» của NHT do chính tác giả chuyển thể kịch bản. Anh ta nhờ tôi chỉnh sửa kịch bản, tôi dãy nảy: «Đây là kịch bản anh NHT viết, tớ dính vào để mà gãy tay à?» Sau đó, trước sự khẩn khoản của cậu ta, tôi đành tìm đến nhà NHT, theo chân đạo diễn đàn anh Tự Huy. NHT nhăn mặt: «Khổ, hắn cứ nằn nì tớ viết scénario, tớ biết gì kịch bản điện ảnh đâu, cứ liều viết, xong rồi bảo hắn: tìm đến một nhà biên kịch giàu kinh nghiệm nào đó chỉnh sửa đi, phá hết ra cũng được, để làm sao có thể quay thành phim là ổn!» Tôi thẳng thừng: «Nếu anh tin cậy, tôi sẽ thực hiện theo yêu cầu của quy luật điện ảnh, chứ không theo yêu cầu của đạo diễn cũng như của anh, và sẽ thành thứ để có thể quay thành phim. Vì nể anh và tay đạo diễn một phần, nhưng chính là vì đây là đề tài miền núi và lịch sử mà tôi thích!».

NHT cười hềnh hệch: «Cái thằng, đa sự quá!»

Thế là tôi đã thực sự chuyển thể một truyện ngắn của NHT thành kịch bản văn học hoàn chỉnh - ngoài dự tính và mong muốn ban đầu. Sau đó, anh bạn đạo diễn trẻ mời tôi đi giúp chọn bối cảnh. Hai tuần liền, tôi theo chân đạo diễn của phim đi qua nhiều vùng núi của tỉnh Lao Cai, dưới sự tài trợ của các nhà đầu tư sản xuất phía Nam, thực sự làm «cố vấn» cho anh ta tới cả số lượng đèn quay trong từng bối cảnh - theo đề nghị của nhà đầu tư đi theo. Rồi đoàn làm phim được thành lập, có văn phòng giao dịch và tổ chức sản xuất tại Hà Nội. Họa sĩ thiết kế chính phim này là một họa sĩ cao niên, nhiều kinh nghiệm trong những phim phức tạp, ông đã cho mua cả một ngôi nhà sàn tận Lai Châu về làm bối cảnh, và tôi cũng giúp ông dựng một vườn hoa thuốc phiện giả… Nhưng tới ngày bấm máy, các nhà đầu tư hình như nhận thấy anh chàng đạo diễn này không đủ tư cách thực hiện một phim lớn có khả năng giúp họ thu hồi vốn/ có lãi, nên họ đã stop lại dự án, đành chịu mất khoản đầu tư giai đoạn chuẩn bị. Khi tôi tới nhà NHT, kể lại anh nghe chuyện này nên bức tượng Phật lớn sân nhà anh, anh nhún vai «ô là là» như một «ông Tây An Nam», và vĩ thanh bằng một câu triết lý: «Trong cái không may nhỏ bao giờ cũng hé lộ một cái may mắn lớn…»

Lần cuối cùng tôi tới thăm NHT tại nhà riêng - cũng đi cùng đạo diễn Tự Huy. Khi tôi hỏi anh nói về bộ phim «Thương nhớ đồng quê» ( Hãng phim truyện VN) quay theo truyện cùng tên của anh, anh không nói nhiều, chỉ tỏ một thái độ «tâm phục khẩu phục » với câu nói: «Quả là phim của bậc «mét» làm cũng có khác!» Nhưng chính tôi lại là người nói nhiều về cái «đòn hội chợ» của một số nhà báo hòng hạ bệ, vùi dập bộ phim này bởi những lý do mà sau này có dịp tôi xin kể lại. 

Khi tổ chức chiếu ra mắt bộ phim nhựa đầu tay của tôi - phim «Vầng trăng lửa» (HODAFILM sản xuất 1995) tại Hội Điện ảnh để đưa phim ra rạp, tôi có gọi điện thoại mời NHT tới xem. Anh bảo: «Tớ đang ốm lắm, thực đấy, cậu tha cho. Với lại, cậu nghĩ hộ: nếu phim cậu hay, tớ mà khen thì mọi người sẽ bảo: ôi dào, dân Tây Bắc cũ họ bao che bênh vực nhau. Còn nếu phim cậu có cái để chê, thì tớ nỡ lòng nào chê cậu. Mà tớ tin rằng phim đầu tay thì khó mà trở thành kinh điển lắm, đừng tự ái nhé!» Tôi không tự ái, chỉ trả lời: «Vâng, chỉ có truyện đầu tay của bậc «mét» NHT là «Những ngọn gió Hua Tát» mới trở thành «kinh điển» và hy vọng ẵm giải Nobel được thôi! Mong anh chóng khỏe để được «hành» anh bằng các phim khác của tôi nhé!»

Mấy năm sau, qua điện thoại, tôi có hỏi anh về phim «Những người thợ xẻ» ( Hãng phim truyện VN) được quay từ truyện ngắn cùng tên của anh, hình như NHT cố tình lảng tránh không trả lời bằng hàng loạt câu hỏi : «Mấy năm nay cậu làm gì? Tại sao không đến tớ nữa? v.v. » Không ngờ, đó lại là những câu trao đổi cuối cùng giữa tôi và NHT.

Anh Thiệp ơi, tôi biết giờ này dưới suối vàng, anh đang thầm mong những người làm điện ảnh VN sẽ tiếp tục đưa những trang viết tâm huyết của anh lên màn ảnh - trong đó có «Truyện tình kể trong đêm mưa» và «Mưa Nhã Nam», hai bộ phim tương lai ấy đều có mưa gió của số phận anh và mưa gió của số phận Dân tộc đau thương nhưng anh dũng này…

Xin vĩnh biệt anh!

Hà Nội, 23/ 3/2021

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn ( Hội viên Hội Điện ảnh VN)

( Ảnh NHT thời mới ở Tây Bắc về)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5807)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5798)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13156)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29999)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81099)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”