- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

HAI BÀ ĐẦM

06 Tháng Mười Một 20263:37 CH(Xem: 119)


Chân Dung tác giả Nguyễn Cát Thịnh
Phác họa bằng AI 
Thực hiện: Ban Biên Tập Tạp chí Hợp Lưu.


TÁC GIẢ NGUYỄN CÁT THỊNH

Và truyện ngắn “Hai Bà Đầm”

Nguyễn Cát Thịnh sinh tại Hà Nội, tốt nghiệp Dược khoa tại Sài Gòn năm 1968 và Toronto năm 1985. Cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông định cư tại Canada từ năm 1982, từng làm việc tại Canada và Hoa Kỳ, hiện nghỉ hưu tại Ontario và Florida.

Đến với văn chương từ nhu cầu trau dồi tiếng Việt, Nguyễn Cát Thịnh tự nhận mình là một người viết văn nghiệp dư. Nhưng trong những trang viết, người đọc có thể bắt gặp một lối kể chuyện tự nhiên, hóm hỉnh, giàu quan sát và đôi khi sắc sảo trong cách nhìn đời sống.

“Hai Bà Đầm” là câu chuyện về một chuyến bay, những cuộc gặp gỡ tình cờ và những khác biệt trong cách nhìn nhận con người. Qua tiếng cười và những tình huống trớ trêu, tác giả gợi lên những suy tư về tiếng mẹ đẻ, căn tính văn hóa, sự hội nhập và những định kiến vẫn còn tồn tại trong xã hội đa văn hóa.

Một câu chuyện nhẹ nhàng mà không hẳn nhẹ ý; hài hước nhưng cũng để lại những khoảng lặng đáng suy ngẫm.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quí độc giả, văn hữu, thi hữu, và thân hữu khắp nơi.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

 

HAI BÀ ĐẦM

Truyện ngắn 

Nguyễn Cát Thịnh

 



Cảnh chen lấn xô đẩy liên tục khiến tôi có cảm tưởng máy bay chở quá tải. Có vẻ như số hành khách nhiều hơn số ghế.

 

Khi đã tạm yên vị, nhìn chung quanh mới biết mình lầm. Tôi ngồi bên bìa trái của hàng giữa, bìa phải là một bà đầm, giữa tôi và bà là 2 ghế trống. Trước mặt tôi còn một ghế trống, phía xa hơn cũng thấy trống nhiều.

 

Đây là chuyến bay Hong Kong-Toronto của hãng Cathay Pacific nên nhìn đâu cũng thấy tóc đen da vàng và tóc vàng da vàng, tóc vàng da trắng trở thành lẻ loi.

 

Tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Việt trộn lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn rất chói tai, át hẳn tiếng động cơ phản lực.

 

Giả điếc, cài dây an toàn, tìm một thế ngồi thoải mái. Tôi nhắm mắt cố nghĩ đến những chuyện khác đễ khỏi bận tâm.

 

Nhớ tối hôm trước, buổi tiệc giã từ. Cùng bạn bè ăn nhậu, rượu uống mềm môi, say khướt nhưng vẫn muốn kéo dài để tận hưởng cái hạnh phúc không biết còn được lặp lại không.

Mỗi người bạn, mỗi hình ảnh đậm nét, khó phai. Này Qg. , này Qn., này M., này Th. , này Ta. , này Ti.; tất cả hiện ra trước mắt như trên màn ảnh đại vĩ tuyến.

 

 

Đang lâng lâng với những cảm giác tuyệt vời ấy thì bỗng giật mình vì tiếng sư tử hống phát ra từ phía sau. Không quay lại tôi cũng biết chắc đó là của một nữ đồng bào.

 

Bà la rầy đứa con nhưng cố tình hét thật to để mọi người hiểu rằng bà là một người lịch sự. Với tiếng Anh đặc sệt giọng mít, bà biểu đứa con không được đứng chơi giữa lối đi kẻo cản trở lưu thông. Đứa con gái nhỏ phụng phịu hờn dỗi y hệt con tây, nói tiếng Anh không chút tì vết.

 

Thấy đứa bé xinh xắn dễ thương tôi nghiêng đầu ra sau nói với hai mẹ con bằng tiếng Việt đặc sệt giọng rau muống, đề nghị cho bé lên ngồi hàng ghế trên. Tôi di chuyển vào phía trong ngồi sát bà đầm, nhường hai ghế trống cho bé đủ chỗ chơi đùa.

 

Người đồng bào của tôi nhún vai trả lời sẵng bằng tiếng Anh rằng mẹ con bà không nói tiếng Việt Nam.

 

Tôi chán nản lắc đầu thì nghe đứa bé hỏi mẹ:

 

-Ông đó nói gì mà má bực mình vậy.

 

Bà mẹ thông dịch lại những gì tôi nói. Đứa bé cằn nhằn mẹ, tại sao không nhận. Bà mẹ vội vàng nói chữa:

 

-Tại vì má không thích tiếng Anh của con bị sứt mẻ nếu tiếp xúc nhiều với người Việt, con hiểu chưa?.

 

Bé không đồng ý và nói rằng:

 

-Con Juanita bạn thân của con là dân Mễ, giỏi tiếng Tây Ban Nha, nói ở nhà, nói với bạn Erika, Helena cùng trường mà có sao đâu. Tại sao má không dậy con nói và viết tiếng Việt.

Hồi cuối năm cô giáo kêu cả lớp viết tấm thiệp chúc mừng Giáng sinh gởi các binh sĩ đang chiến đấu ở Afghanistan. Cô khuyến khích viết chữ cảm ơn bằng các ngôn ngữ khác nhau. Con muốn viết chữ Việt mà không biết viết làm sao.

 

Câu trả lời gọn lỏn của bà mẹ làm tôi đau nhói. Bà nói:

 

-Tiếng Việt khác, tiếng Tây Ban Nha khác. Người Việt khác, người Mễ khác.

 

Buồn bà đầm da vàng nhưng mừng cho đứa trẻ vì giáo dục lề đường của bà mẹ chưa lấn được giáo dục đứng đắn của học đường.

 

Máy bay vẫn lướt êm. Thời gian trôi chậm chạp. Chớp mắt ngủ được một giấc ngắn.

 

Thấy tôi mở mắt bà đầm da trắng ngồi cùng hàng giơ ngón tay ngoắc lại gần ghé tai nói nhỏ:

 

-Ông có nhìn thấy ba gã Trung Đông ngồi xéo xéo phía trước không.

 

Theo hướng bà chỉ, tôi thấy hai gã da ngăm đen tuổi ngoài hai mươi, râu ria xồm xoàm che hết cả miệng ngồi chung một hàng. Hàng ghế trước là một gã da nâu xậm, sạch râu hơn và già hơn.

 

-Tôi thấy rồi, có gì lạ đâu, đó là các hành khách như chúng ta vậy.

 

-Như chúng ta! Ông có chắc không? Tôi lo lắng quá. Chẳng lẽ Chúa đã gửi tôi đi chuyến bay định mệnh này sao?.

 

-Cái gì mà chuyến bay định mệnh? Ý bà muốn nói gì? Bà nghi họ là những gã khủng bố à? Bà làm tôi hơi rét.

 

-Tôi còn rét hơn ông. Ông có nghĩ rằng chúng ta nên làm một cái gì chứ.

 

-Làm gì bây giờ? An ninh hàng không, an ninh phi trường có danh sách cấm bay các người trong sổ bìa đen. Họ đã thanh lọc hành khách kỹ lưỡng. Tôi cho là bà lo quá đáng.

 

-Tôi mong rằng ông đúng nhưng tôi không thể nào không lo được. Tôi sẽ để mắt quan sát. Nếu có gì khả nghi tôi sẽ báo cho ông ngay. Ông phải hứa với tôi nếu có chuyện gì xảy ra thì ông phải che chở tôi nhé. Chúa sẽ đền ơn ông.

 

-Cám ơn bà, tôi sẽ làm những gì tốt nhất mà tôi có thể làm.

 

Đúng là vớ vẩn, ôi bà đầm da trắng.

 

Máy bay ghé Anchorage Alaska để đổ thêm nhiên liệu. Mọi người phải rời vào đợi trong phòng kín của phi trường khoảng hơn một giờ đồng hồ.

Lại ồn ào như cũ. Đi loanh quanh cho chân cẳng thư giãn. Đến hàng ghế sát cửa kính nhìn ra phía ngoài thì gặp hai mẹ con bà đầm da vàng.

Đứa bé vẫn nói líu lo líu lít như chim, rất êm tai. Định bước nhanh cho khuất thì bất ngờ bà mẹ lên tiếng, vừa cười vừa giơ tay làm dáng kiểu cách, mời ngồi.

 

Đứa bé đứng dậy nhường chỗ. Bà mẹ bắt chuyện rất nhanh. Bà nói, thấy tôi chuyện trò thân mật với bà đầm da trắng nên có cảm tình với người biết tiếng Anh.

 

Bà kể chuyện về thăm Việt Nam, chuyện gia đình, chuyện cửa tiệm kinh doanh của bà ở Hamilton, và dĩ nhiên, chuyện khen đứa bé.

 

Bà nói huyên thuyên bằng tiếng Anh, nhấn mạnh vì không quen dùng tiếng Việt. Tôi vẫn nói với bà bằng tiếng Việt. Những người ngồi chung quanh nếu chú ý nghe sẽ nhận ra ngay sự khôi hài trong đối thoại giữa hai người.

 

Làm thân với đứa bé, biết bé không hiểu tiếng Việt, tôi nói tiếng Anh khen bé ngoan, đẹp và giỏi. Hỏi thăm về lớp học, bạn bè, cô giáo của bé. Bé chưa kịp trả lời thì bà mẹ xen vào khoe:

 

-Cô Mann tháng nào củng gọi điện thoại khen cháu nức nở. Luôn luôn khẳng định cháu là học trò cưng nhất của cô từ trước đến giờ. Cháu có rất nhiều bạn. Sinh nhật của cháu, tôi mời tất cả đến nhà hàng Tây, vui ơi là vui.

 

Tôi hỏi bé:

 

-Bé có nhiều bạn khi ở Việt Nam không và nói chuyện với các bạn như thế nào?.

 

Bé kể một lô tên các bạn, phát âm rất rõ ràng các tên Tuyết, Hoa, Cúc . . .,

 

-Cháu nói gì tụi nó cũng cười và nói ô kê, còn tụi nó nói gì thì cháu chỉ đoán mò.

 

Tôi dạy bé một vài tiếng Việt Nam đơn giản và cách xưng với cha mẹ các anh chị em các cô chú bác các người lớn tuổi.

 

Bé rất thông minh, tiếp thu nhanh hơn tôi nghĩ. Bà mẹ im lặng thụ động phản đối một cách khó chịu.

 

Đứa bé không để ý đến thái độ của mẹ, nói:

 

-Bác dậy thêm nhiều nữa cho cháu đi.

 

Bé nói tiếng Anh nhưng không xưng ai (I) mà xưng Cháu, không gọi tôi là You mà là Bác, nghe ngồ ngộ.

 

Tôi kể cho bà mẹ về linh mục Gildo Dominici, gốc Ý đại lợi thuộc dòng Tên. Cha đến VN năm1968. Học tiếng VN để giao tiếp và giảng dậy tại Giáo Hoàng học viện Đà Lạt. Cha lấy tên VN là Đỗ Minh Trí.

 

Sau 1975, chính quyền mới của VN trục xuất Cha khỏi VN. Cha tìm đến với những người tỵ nạn ở Indonesia, Phi Luật Tân. Cha lập nhà thờ trên đảo Galang, Bataan, làm lễ và giảng hoàn toàn bằng tiếng Việt.

 

Cha viết báo tiếng Việt, dùng chữ lưu loát như một học giả Việt Nam.

Cha mở những lớp học Việt ngữ thay vì Anh ngữ cho trẻ con. Hỏi thì cha nói cần phải bảo tồn văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam cho thế hệ trẻ. Anh ngữ Pháp ngữ học lúc nào cũng được, không khó.

 

Cha gom góp những bài viết rải rác trong các báo thành một quyển sách dưới tựa đề "Việt Nam, quê hương tôi".

 

Cha khuyên các bậc cha mẹ noi gương truyền thống của các dân tộc Do Thái hoặc Trung Hoa, không để mất gốc.

 

Trong một lần ghé thăm Ottawa, Cha được các người định cư cũ và mới tổ chức đón tiếp linh đình.

 

Một số người muốn gián tiếp chứng tỏ sự hội nhập nhanh chóng vào xã hội tây phương, chào mừng Cha bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Cha cắt ngang, thân mật nói với họ bằng tiếng Việt rằng Cha chỉ thích nghe và nói tiếng Việt bởi vì Cha xác tây nhưng hồn ta.

Cha dành nhiều thì giờ tiếp xúc với giới trẻ.

 

Khi từ giã, được mời phát biểu, Cha nói rất hãnh diện thấy cộng đồng VN lớn mạnh. Rất vui khi biết trẻ con VN học vượt trội các sắc dân khác kể cả dân bản xứ.

 

Cuối cùng giọng Cha chùng xuống. Nói rằng, Cha không hiểu tại sao trẻ lười nói tiếng Việt như thế. Cha kinh hoảng trước sự tây hóa thái quá của thế hệ trẻ.

 

Cha mong phụ huynh nên xét lại quan niệm vọng ngoại và hứa hẹn sẽ trở lại cũng trong hội trường này. Cha hy vọng sẽ được nghe những âm thanh thân quen của tiếng Việt trên tất cả đầu môi chót lưỡi của già trẻ trai gái trong cộng đồng VN.

 

Cha đã mất năm 2003 vì bệnh ung thư. Quyển "Việt Nam, quê hương tôi" của Cha đã nói lên tấm lòng của Cha đối với VN.

Cha tự nhận là người VN, hãnh diện là người VN trong khi đó có những người VN chính gốc tìm cách che dấu vết tích VN và lấy làm xấu hổ nếu bị nhận diện là VN.

 

Tôi nói với bà mẹ hy vọng của Cha vẫn còn nếu những trẻ như bé được cha mẹ nhiệt tâm hướng dẫn tìm về với cội nguồn.

Tôi không biết có tác động được bà không khi bà vụt đứng dậy, xin phép ngắt câu chuyện. Bà dắt con đi nhà vệ sinh không cần biết đứa bé có muốn không.

 

Còn khá lâu mới lên máy bay. Tôi rảo bước tìm bà đầm da trắng nói chuyện cho qua thời giờ. Không tìm đâu xa, bà ngồi ngay phía đầu dãy ghế phía đối diện.

 

Hết chuyện mưa nắng, chuyện sức khoẻ, bà cho biết vừa mới làm một tour du lịch Thái Lan, Căm Pu Chia, Việt Nam và Hồng Kông. Bà tách khỏi nhóm và ở laị Hồng Kông thêm một tuần lễ, sống với con gái, con rể cùng hai đứa cháu ngoại đang cư trú tại đây.

 

Bà ca tụng Bangkok sạch, đẹp, sinh hoạt không đắt đỏ. Người dân lịch sự, hiếu khách, sùng đạo Phật và phục tùng hoàng gia tuyệt đối. Căm Pu Chia nghèo nàn, thành phố Nam Vang dơ bẩn. Nhưng các phế tích ở khu Angkor là những dấu chỉ của nền văn minh Khmer rất đáng chiêm ngưỡng.

 

Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội của VN đã để lại cho bà nhiều ấn tượng xấu. Sự ô nhiễm môi trường quá sức tưởng tượng. Xe cộ lưu thông vô luật lệ, bóp còi inh ỏi. Dân chúng xả rác, tiêu tiểu bừa bãi. Nhà cửa xây cất đủ kiểu hổ lốn, phản mỹ thuật.

Duy nhất chỉ nghe bà khen phong cảnh vịnh Hạ Long.

 

Trở lại Hồng Kông, bà giơ hai tay lên trời cám ơn Chúa đã cho bà gặp lại thế giới văn minh. Vì lầm tưởng tôi là dân Hồng Kông nên khi biết tôi là người Việt Nam, bà cuống quít xin lỗi.

 

Tôi nói:

 

Bà không cần phải xin lỗi. Tôi hoàn toàn đồng ý với bà. Có rất nhiều thứ khác tệ hơn thế nửa mà bà không biết. Đất nước tôi đang được quản lý một cách độc đáo đầy tính sáng tạo của các đỉnh cao trí tuệ loài người, những cựu chiến sĩ Trường Sơn đông Trường Sơn tây đặc cách vinh phong Phó Giáo Sư, Giáo Sư, Thạc Sĩ, Tiến Sĩ, nên mới có bộ mặt như bà thấy.

 

Bà cười thông cảm và có vẻ tội nghiệp cho dân ta. Bà nói, VN giàu nhân lực, tài nguyên. Đáng lẽ VN phải là một con rồng lớn của Á Châu từ thế kỷ trước.

 

Lục tục kéo nhau lên máy bay đi tiếp đoạn đường dài. Tôi tìm được một giấc ngủ thật thoải mái cho đến khi bị đánh thức bởi tiếng la nhỏ nhưng đầy hốt hoảng của bà đầm. Bà đã di chuyển đến sát tôi tự bao giờ:

 

-Dậy! Dậy đi! Tới số rồi ông ơi. Họ sắp sửa ra tay đấy, cả ba gã đang đọc kinh lần cuối, coi bộ nghiêm trọng lắm.

 

Trong một thoáng ngái ngủ tôi cũng thấy chột dạ, cố nhướng mắt quan sát.

 

Một gã đang loay hoay tìm chỗ trống dập đầu xuống sàn, soải hai tay về phía trước vái vái.

Hai gã còn lại úp mặt vào lòng bàn tay rồi đập đầu vào tay dựa ghế.

Xem đồng hồ, thấy đúng giờ lễ cầu nguyện thường lệ buổi chiều của tín đồ Hồi giáo ngoan đạo. Tôi trấn an bà đầm.

 

Bà không chịu tin và đòi tôi phải khẩn cấp hành động. Tôi cười ha hả, nói không làm gì cả. Sẽ ngủ lại và sẽ ngủ rất dễ dàng. Nếu vẫn còn thắc mắc, bà có thể nhờ cô tiếp viên theo dõi hoặc báo cáo với phi cơ trưởng.

 

Bà trở lại ghế của mình, bớt lo sợ hơn. Có lẽ sự bình thản của tôi đã truyền lây sang bà hay lời thuyết phục của có hiệu quả chăng?.

 

Nhắm mắt nhưng không ngủ được. Nghĩ đến chuyến đi, ngẫu nhiên gặp hai bà đầm trên cùng chuyến bay. Tôi hứng chí, nhẩm vài câu thơ chợt đến trong đầu, đắc ý cười thành tiếng.

 

Bà đầm da vàng thấy tôi đang vui vẻ bèn níu vai áo, chồm người lên hỏi bâng khua bằng tiếng Việt Nam êm ái, giọng miệt vườn làm tôi nhảy nhổm ngạc nhiên:

 

-Anh có gì dzui nói cho em nghe với.

 

-Không nói được là không nói được. Tiếu lâm lắm, kỳ lắm, nghe sẽ đụng chạm hà.

 

-Nói đi hông sao. Hông có gì đụng chạm hớt. Mình người Dziệc với nhau mà.

 

-Vâng, vì bà nói bà không rành tiếng Việt nên chắc vô hại. Tôi sẽ đọc cho bà nghe nếu bà muốn. Nghe cho vui tai nhưng đừng bắt tôi cắt nghĩa nghen.

 

-Hay là anh dịch ra tiếng Anh đi cho dễ hiểu.

 

-Ấy! Cái đó thì tôi chịu thua. Tôi không đủ khả năng. . ., tôi đọc cho bà nghe thôi:

 

Hai O đầm trắng đầm vàng

Mỗi O mỗi vẻ mười phần hỏng năm

O này mặt khó đăm đăm

Nhìn ai cũng ngỡ họ hàng Laden

O kia (coi bộ) táo bón kinh niên

Sống thờ hot dog mà thêm đẫy đà

Trông người lại ngẫm đến ta

Chẳng ke (care) xấu tốt đầm nhà vẫn hơn...

 

Chưa kịp nghe dứt câu cuối bà buông vai áo tôi, thả người rơi phịch xuống ghế, suy nghĩ vài ba giây rồi giận dữ quát:

 

-Rõ... đồ mắc dịch!

 

Máy bay đáp xuống phi trưòng Pearson an toàn và đang lăn bánh trên phi đạo.

 

Tôi liếc qua bà đầm da trắng cười rạng rỡ. Bà bẽn lẽn tránh cái nhìn tưởng như chế diễu của tôi.

 

Để tỏ vẻ thân thiện, tôi nói với bà rằng lúc đó tôi cũng sợ hãi không kém. Biết không thể làm gì được dù có là Rambo tái xuất, nên tôi cố tỏ ra bình thản để tự trấn an mình bằng cách trấn an người khác.

 

Tôi nói thêm:

 

-Tuy nhiên vì là một người lạc quan tếu, tôi luôn luôn tìm một lý do để hoan hỉ chấp nhận bất kỳ hoàn cảnh ngặt nghèo nào.

 

Bà hỏi:

 

-Thế ông đã tìm được lý do gì.

 

Tôi mỉm cười, nói mắc cỡ khó nói lắm khiến bà càng thêm tò mò nhất định ép tôi phải nói...

 

-Nếu đó là chuyến bay định mệnh thì âu cũng là có sự sắp xếp của Chúa nhiệm mầu. Bà sẽ không ra đi trong cô đơn. Chúng ta đã quen nhau và chắc chắn sẽ là bạn đồng hành tốt trên đại lộ âm phủ, dẫu tôi và bà chưa biết tên nhau...

 

Bà không trả lời mà nguýt lườm tôi. Cái lườm sắc như dao cạo có thể diễn dịch ra tiếng Việt Nam là... rõ đồ dzô dziên!

 

Máy bay đã ngừng hẳn. Mọi người lục tục đứng dậy vói tay lấy hành lý và chen lấn bước ra hai lối đi hai bên. Cả hai bà đầm đều chọn lối đi bên trái, tôi đi lối bên phải. Tôi mất dấu cả hai khi ra ngoài.

 

Đang đứng sắp hàng chờ trình giấy tờ ở cổng quan thuế, tôi bỗng thấy nhột sau gáy. Quay lại, bắt gặp ánh mắt quét ngang dọc của bà đầm da trắng ở gần cuối hàng bên cạnh, tôi giơ tay chào kiểu nhà binh và nói từ giã. Bà bất động vô cảm như người mù câm điếc.

 

Lững thững kéo lết chiếc va li sắp sửa bước vào cầu thang lăn thì nghe tiếng kêu mừng rỡ từ phía sau: “Bác! Bác!”. Tôi dừng ngay. Quay đầu lại, thấy hai mẹ con bà đầm da vàng đi tới. Tôi chờ đợi. Bà mẹ xốc tay đứa bé rảo bước thật nhanh, qua mặt tôi, vào cầu thang, không thèm nhìn. Thêm một người mù câm điếc!

 

Đứa bé giật tay khỏi tay mẹ, đứng xoay ngược lại, giơ tay vẫy vẫy, nói bằng tiếng Việt Nam hơi ngọng ngịu: "Chào bác! Chào bác!". Tôi vẫy trả và gửi một cái hôn gió, nói thật to: "Chào cháu".

 

Hình ảnh đứa bé đẹp như thiên thần với tiếng chào bác chào bác theo tôi suốt quãng đường về nhà.

 

Nguyễn Cát Thịnh

Ngày 4 Tháng 2 Năm 2011

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 3350)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 4874)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 5044)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 4244)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 5506)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 7484)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 6963)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 6507)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 6747)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 8219)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.