- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chân Dung Trắng

23 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 65202)



chandung-nguyenyen-content

(Tranh Lê Thánh Thư) 

LTS: Khi nhận được những sáng tác của Nguyên Yên chúng tôi thật sự ngạc nhiên về nội lực của người viết nầy, đó là một sự đáng mừng. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những bài viết của Nguyên Yến đến quí độc giả và văn hữu như những mở đầu tốt đẹp trong năm 2014.

TCHL

(Tặng T & K – hai người bạn thân quý.)

Tôi sinh ra là con gái. Hay ít nhất, bà ngoại thường gọi tôi là Gái. Tôi lớn lên với ngoại, được bà nuôi ăn nuôi học dạy dỗ thành người. Thuở nhỏ tôi thường hỏi ngoại Ba Mẹ tôi là ai, bà thường nói mẹ là nàng tiên xinh đẹp bị trời đày xuống trần gian. Trong đêm đen định mệnh giữa lòng đại dương, mẹ ra đi theo giông tố biển cả để hai bà cháu được bình an. Tuy xa mẹ từ đó, nhưng những câu chuyện bà thường kể về mẹ khiến hình ảnh mẹ trong tôi rất thân quen, gần gũi. Khi ai hỏi tôi giống ai, tôi không ngần ngại trả lời tôi giống mẹ. Không hiểu sao tôi luôn biết rõ chân dung của mẹ, không chỉ cái hình dạng bên ngoài, mà từ cái buồn, cái lạc lõng, lối suy tư, tôi luôn biết mình là cái tượng đúc tạc từ chân dung của mẹ.

 

Còn bố? Tôi hoàn toàn mù tịt. Mỗi khi hỏi đến bố, bà ngoại thường giả lơ như không nghe. Tôi phải hỏi bà nhiều lần, bà chỉ ậm à ậm ừ cho qua chuyện, không bao giờ có câu trả lời nhất định. Một hôm tôi hỏi nhiều làm bà nỗi cáu, bà nói: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, không có chân dung”. Từ nhiều mẩu, nhiều mảnh, tôi chắp nối, lắp ráp cho mình chân dung của ông, mờ nhạt, mơ hồ. Tôi để trí tưởng tượng và kiến thức mập mờ của mình tô vẽ ông. Không hiểu sao tôi cứ khăng khăng ông là chúa tể thế gian. Ông có địa vị, quyền hành. Tôi mơ thấy ông đứng giữa trời giông bão, mặt áo choàng đen, mắt ông đỏ khè như lò than của bà ngoại. Ông dương cao kiếm thần nổi sấm sét phù phép biến mất hai mẹ con trong đêm đen. Đó là hình ảnh tôi vẽ chân dung Ông.

 

Bà ngoại và tôi đặt chân đến Mỹ khi tôi mới tròn 5 tuổi. Bà bước vào tuổi 50. Tôi lớn lên với bà, không có ông ngoại, và cũng không có hình bóng người đàn ông nào trong nhà. Ông ngoại mất trong chiến tranh, bị Việt Cộng chôn sống ở đầu làng. Khi được đào lên đưa về nhà, ông đã yếu sức. Ông mất trong vòng tay của bà. Mỗi khi kể về ông ngoại, mắt bà sáng lên một thứ ánh sáng kỳ lạ. Vừa là ánh bình minh, mà cũng vừa là ánh chiều tà. Như bà vừa sống lại với ký ức, mà cũng vội vã rời xa nó. Bà thường nhắc ngày Mẹ tôi sinh ra đời, ông ngoại đãi cả làng. Ông không giống những người đàn ông cùng thời chỉ ăn mừng khi có con trai. Ông luôn gọi mẹ là nàng tiên giáng trần. Chỉ kể đến đó, mắt bà đã đỏ hoe. Tôi cũng đúc tạc cho mình chân dung ông ngoại với nụ cười hiền hoà, với trái tim thật to, vẽ thêm cho ông bộ râu phất phơ, tưởng tượng gió bay mái tóc chòm râu, như bức tranh tiên ông cỡi hạc bay về trời bà ngoại treo trên tường.

 

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc vẽ chân dung Bà Ngoại vì lòng tôi đã thuộc lòng từng nếp nhăn trên mặt Bà. Bà luôn ở bên cạnh tôi, ở trường, trong nhà, ngoài đường, trong lòng. Bà có tài hiện ra ở khắp nơi tôi có mặt, luôn sẵn sàng bảo bọc đứa cháu cưng. Vượt biển sang Mỹ tay không với đứa cháu, hành trang của Bà là nỗi đau chứng kiến cảnh con gái bị vuột khỏi vòng tay mình. Bà tự tranh đấu, cố gắng chôn sâu vết thương, siêng năng làm việc, vất vả một mình nuôi tôi ăn học. Bà dạy tôi theo lối suy nghĩ và quan niệm xưa cũ của bà. Cái định nghĩa về đàn bà con gái khi bà gọi tên tôi là Gái rất rõ rệt. Với bà, đàn bà rõ ràng là cái xương sườn của người đàn ông. Cần biết cứng cỏi. Cần biết mềm mại. Cần biết gập mình bé nhỏ lại khi cần tôn vinh chồng. 

 

Như sợ tôi không tự phân biệt mình là con gái, bà luôn luôn nhắc nhở. Khi tôi nghe nhạc nổi hứng huýt gió theo, bà rầy “con gái con đứa không được huýt gió”; khi tôi nghe kể chuyện hứng chí cười, bà nói “con gái không được cười to”; kể cả khi đã khôn lớn, trong các cuộc đối thoại, khi tôi có lời phê bình, bà mắng “con gái không nên có nhiều ý kiến”. Ngày tôi lấy chồng, bà dặn dò “Con gái phải biết nghe lời chồng, phải hiểu rõ sở thích, ý muốn của chồng mà lấy đó làm ý muốn của chính mình. Được vậy thì con mới có số phận khác với mẹ của con. Mới có hạnh phúc.” Tôi nghe bà dặn giật mình, từ lâu tôi vẫn tưởng rằng Mẹ nhu mì, hiền hoà và yếu đuối như bông hoa, ngọn cỏ. Đó là chân dung Mẹ trong tôi, trở thành bức hoạ của chính tôi. Đêm đó, tôi mơ thấy hình bóng Mẹ, gập ghềnh trên con sóng cao, Mẹ dặn, cuộc đời có nhiều cơn sóng, phải biết cách cưỡi sóng. Mắt mẹ cũng đỏ như mắt bố, chỉ có khác với Ông, mẹ không phù phép cho tôi biến mất. Mắt mẹ u uẩn, trút xuống những cơn mưa ào ạt, tràn ngập, ướt đẫm. Mưa từ mắt mẹ đổ thẳng vào lòng đại dương, cuộn mình theo từng cơn sóng tung cao lên trời, cao hơn cả mẹ. Những cơn sóng cao ngút cuốn Mẹ rời khỏi tôi.

 

Tôi tỉnh dậy bắt đầu cuộc đời làm vợ. Tôi rất hài lòng với chính mình, đã tìm được cho mình một người đàn ông thật sự bằng da bằng thịt, bằng tình yêu anh dành cho tôi, bằng tình yêu tôi dành cho anh. Người đàn ông có mặt mũi, có ánh mắt, có miệng cười, có cái uy nghiêm thần linh của bố, có chất hiền lành như ông tiên của ông ngoại. Từ đây, tôi sẽ nghe lời bà ngoại, sẽ học mọi điều về anh, sẽ nghe lời Mẹ, cưỡi theo cơn sóng trong lòng anh. Tôi sẽ làm cái việc mà từ nhỏ tôi đã ao ước, tôi sẽ vẽ được bức chân dung toàn diện đầu tiên của người đàn ông thật sự trong đời tôi, ngay bên cạnh tôi, không cần phải dùng trí tưởng tượng hay qua những mảng rời từ bà ngoại.

 

***

 

Anh tên là Phong. Ngày quen biết anh, tôi ghi chú trong đầu, à, chàng là ngọn gió, chàng biết bay. Sau đó, tôi còn nhận ra, chàng không chỉ biết bay, chàng biết dừng lại, biết vuốt ve, biết mơn trớn, biết thổi vào lòng tôi những mùi hương kỳ lạ. Tôi bày ra giấy mực, vẽ xuống mái tóc chàng, mái tóc bồng bềnh như cụm mây trời, lãng đãng băng ngang khu vườn tâm hồn tôi. Nhìn đám mây trôi, tôi nhủ lòng, trên trang giấy trắng này, sẽ có ngày tôi hoàn thành bức chân dung toàn diện của anh.

 

Cũng như tôi, anh lớn lên với bà nội. Bà nội gởi anh theo ông chú đi vượt biển sang Mỹ. Bố anh đi học tập cải tạo. Mẹ ở nhà bỏ đi lấy chồng. Anh không nhớ gì nhiều về Mẹ. Khác với tôi, anh không đeo bà, không mấy thần tượng Mẹ. Trong lòng anh có hình ảnh ông chú nghiêm khắc, có bức ảnh ông Bố được bà nội dúi vào túi áo ngày rời Việt Nam anh mang theo và giữ cho đến bây giờ. Khi tôi hỏi anh về bức chân dung của Bố anh, anh không hiểu, trả lời anh chỉ có tấm ảnh cũ của bố, không có bức vẽ chân dung. Tôi hỏi gặng: Em muốn hỏi khi nhớ đến Bố, anh nghĩ gì. Không cần suy nghĩ, anh nói: “Anh thấy mắt bố dõi theo anh trong từng bước đi, đợi chờ và đặt kỳ vọng vào anh.” “Kỳ vọng như thế nào? Anh ngập ngừng: “Bố muốn anh trở thành somebody”. Thành somebody để làm gì? Anh lúng túng: “Để em sẽ không bỏ anh như Mẹ đã bỏ Bố và anh”. Tôi thở phào, tưởng gì, điều này dễ ợt. Em đời nào lại bỏ anh. Tôi lấy giấy mực ra, vẽ ánh mắt sâu thẳm in hình bóng giấc mơ của anh. Tôi đắc ý pha thêm chút ánh mắt anh van nài.

 

Anh yêu tôi nhiều như anh yêu đời sống, bút sách, công việc. Anh nồng nhiệt đặt kế hoạch cho tương lai. Trong bảng vẽ phác hoạ cuộc đời của anh có ngày, có tháng, có con số, có mái nhà, có công việc, dĩ nhiên là có tôi. Thật không hời hợt như bức hoạ của tôi, chỉ có mỗi mình anh, mà cũng chỉ có vài nét nguệch ngoạc không có gì rõ ràng. Nhiệt tình của anh khiến tôi yêu anh nhiều hơn tôi yêu bảng nhạc, lời ca. Giá mà người ta có thể vẽ chân dung bằng những khúc nhạc đang reo trong lòng, thì tôi sẽ dễ dàng hoàn tất bức chân dung anh.

 

Ngày anh đỗ cử nhân, anh đến nhà xin hỏi cưới tôi. Mắt anh chân thành, quả quyết, háo thắng như tướng lãnh xuất trận. Bà ngoại gật đầu, tôi nghe lòng ấm áp. Tôi nghĩ đến bức tranh vẽ của anh. Mường tượng ra cả bầu trời. Có căn nhà cuối con đường dốc, có vườn cỏ xanh ngút ngàn, có tiếng gió, tiếng chim hót, tiếng cười trẻ thơ. Có anh cùng tôi bước hết đoạn đường.

 

Chúng tôi sống với nhau những ngày, những tháng, những năm. Anh vừa say mê làm việc vừa tiếp tục với đèn sách. Tôi vun xén đời sống, gieo hạt, rải mầm. Chúng tôi có những ngày trọn vẹn bên nhau. Tôi luôn bên cạnh anh như bình minh xung quanh mặt trời. Bức chân dung về anh trong tôi có thêm nhiều đường nét. Thế giới dường như chỉ có anh và tôi. Chúng tôi xây nhà, dệt mộng, quay cuồng trong vũ khúc tình yêu, khát vọng và ngông cuồng của tuổi trẻ.

 

Thời gian làm chính chắn khái niệm tình yêu chúng tôi dành cho nhau. Thời gian, dù là thời gian của cái “thuở ban đầu lưu luyến” khi vạn vật chỉ là trời xanh, là bóng mát, cũng khiến tôi hiểu ra nhiều điều về anh. Có ngày, tôi chợt nhận ra anh không hẳn luôn là ngọn gió. Có những lúc lá rừng rủ rê, anh nhất định không bay. Anh không thích tiếng xào xạc. Như hôm nay, anh khắt khe nhìn đám lá vàng rủ nhau lìa cành. Anh thờ ơ nhìn ánh hoàng hôn của ngày. Tôi nói trong sự từ giã có cái đẹp của sự từ giã. Ánh vàng cuối ngày là khởi điểm cho màn đêm bao dung. Anh không đồng ý, nói tôi vớ vẩn. Tôi giận, nhưng nghĩ đến lời dặn của bà ngoại, tôi nhận mình vớ vẩn. Sau đó lẻn vào bàn giấy lấy chân dung của anh ra, nhìn ngắm, tôi đặt bút sửa lại cho mái tóc anh bớt bồng bềnh.

 

Tôi sanh bé Nhi vào đầu thu. Khi bác sĩ chúc mừng chúng tôi có con gái, tôi nuốt xuống cái nghẹn bất chợt dâng lên trong cổ khi nhận thấy nỗi thất vọng lộ liễu trong mắt anh. Chiều hôm đó, nằm trong phòng bệnh viện nhìn xuống con đường tràn ngập đám lá vàng, nghe bước chân anh đạp trên những ngọn lá khô, tôi nghe như tiếng dẫm trong tim. Ngày hôm sau anh đón tôi và bé Nhi về nhà, tôi im lặng suốt ngày. Tôi không cầm được lòng lại lấy bảng vẽ ra sửa lại nụ cười của anh cho bớt giống nụ cười ông ngoại. Bà ngoại đến, tôi thì thầm với bà, anh không giống ông Ngoại. Bà nhìn tôi chăm chú không hiểu tôi có ý gì. Tôi làm thinh không giải thích. Lần đầu tiên trong đời, tôi đối diện với một nỗi cô đơn kỳ lạ. Như thể thế giới này chỉ đơn độc mình tôi. Cả bà ngoại vạn năng cũng không thể lọt vào trong tâm hồn tôi nữa.

 

Cuộc sống của chúng tôi qua nhanh. Lúc nắng, lúc mưa, lúc ngọt, lúc đắng. Chàng thanh niên nhẹ nhàng như ngọn gió trong anh đã lột xác thành người đàn ông của cây cổ thụ, chọn vùng đất cố định đâm sâu gốc rễ, hình thành những tàn cây dài rộng phủ bóng xác định bóng mát cho riêng mình. Tôi cũng đem lại cho anh nhiều bóng mát. Ngày tôi sanh thằng Cu, tôi gặp lại bầu trời mênh mang trong mắt anh, nghe tiếng gió reo trong lòng anh. Lòng tôi lẫn lộn vui buồn, không biết mình đang cưỡi cơn sóng của Mẹ hay đang sống với định nghĩa đàn bà của Ngoại. Tôi thấy anh mở ví ra nhìn tấm hình của Bố anh. Tôi cảm động, dặn lòng mình sẽ tiếp tục vẽ bức chân dung của anh.

 

Đời sống và công việc chúng tôi suông sẻ. Bản tính làm việc tới nơi tới chốn và những đam mê xây dựng của anh cùng với sự hỗ trợ của tôi khiến chúng tôi lập nghiệp dễ dàng. Khi bé Nhi lên 6 tuổi, ngày sinh nhật con, như để chuộc tội với mẹ con tôi, anh tặng bé Nhi căn nhà kính be bé, rồi anh bất ngờ có quà cho tôi. Anh mở cặp táp đưa cho tôi tấm ảnh căn nhà kính khung sắt cao lồng lộng ngay sát bờ biển, và giấy tờ anh mới ký giấy mua căn nhà. Tôi chưng hửng không xác định được cảm xúc, thấy cái cảm giác ngộp đang dâng lên trong lồng ngực, như đang bị ai đó nhận chìm. Hồi chọn căn nhà trên dốc núi, tôi có nói với anh tôi muốn ở thật cao, thật xa biển, xa những cơn ác mộng. Tôi chưa kịp phản ứng, anh đã có vẻ giận thấy tôi không mừng rỡ.

 

Ngày tạm biệt căn nhà cuối con dốc, tôi cố nấn ná chờ đợi tia nắng vàng cuối ngày. Gió rung cành phong già trước nhà gần như đã trần trụi. Đám cành cây rùng mình rủ bỏ những ngọn lá cuối cùng chuẩn bị đón mùa đông. Lòng tôi rưng rưng chuyển mùa. Sự lưu luyến, bịn rịn của tôi làm anh cáu tiết, anh nhấn gas phóng xe vù khỏi con dốc, để lại những đám bụi mù tung theo đám lá khô. Tự cảm thấy mình có lỗi, tôi nuốt xuống cái mặn chát trong cổ, tựa đầu vào vai anh làm huề. Tôi tự nhủ sẽ nghe lời Ngoại, sẽ học yêu ý thích của anh, yêu căn nhà kính đen khung thép màu chì anh tự quyết định dọn chúng tôi vào.

 

***

 

Từ ngày dọn về căn nhà sát bờ biển, chân dung của Bố thường xuyên đến trong giấc mộng hằng đêm. Có lần, tôi mơ thấy Bố Mẹ và hai bà cháu cùng đang ở trên thuyền dưới bầu trời mênh mông ngút bờ. Trời nổi cơn giông tố, Ông nổi giận quẳng mẹ xuống biển. Bà ngoại ôm chặt tôi vào lòng. Trong trận cuồng phong, hình ảnh anh xuất hiện, mờ ảo... Tôi thức dậy không dám trở về với giấc ngủ. Tâm thần tôi ngày càng bất ổn. Còn anh, gió biển bốc anh lên cao ngút trời, như cánh diều lướt theo hướng gió, anh hứng khởi tung bay. 

 

Ngày thằng Út chào đời hai năm sau, anh đang ở Á Châu lo mở rộng công việc làm ăn. Độ này, anh ít khi ở nhà, hơn nửa thời gian ở nước ngoài, nửa còn lại anh bận rộn công việc. Anh không có thì giờ với sách vở, nói gì đến thời giờ cho mấy mẹ con. Bà Ngoại tỏ ý lo ngại, còn tôi, lẫn lộn với cảm xúc, tôi cố gắng phớt lờ tập trung vào con cái, nhà cửa, thỉnh thoảng giúp công ty lo công việc sổ sách, giấy tờ. Cuộc sống của chúng tôi ngày càng lạt lẽo. Anh giận dữ thấy tôi không biết vui với niềm vui của anh. Tôi khổ sở nhìn chân dung anh mỗi ngày mỗi xa lạ.

 

Đời sống chung của chúng tôi là hai đời sống hoàn toàn riêng biệt. Mọi gắn bó đều không còn. Anh đi, anh về, anh ngủ, anh thức, anh ăn uống, anh nói điện thoại, anh cười, anh xem truyền hình... tất cả đều không liên quan đến tôi. Thoạt đầu tôi hờn tủi, quay quắt, ghen tuông, giận dữ, rồi sau đó làm hoà với anh, đúng hơn là làm hoà với chính mình. Tình cảm có thể nguội lạnh, nhưng sao có thể bỏ cuộc, làm sao có thể để cơn sóng nhận chìm? Tôi cảm giác có lỗi khi nhận ra sự thờ ơ, bàng quang trong tình cảm của chính mình. Nhưng khi tôi nhẹ nhàng hơn, anh lại thân thiện hơn. Chúng tôi sống bên nhau không có hơi thở của hiện tại, sống bằng dư vị của tình yêu ngày cũ với hy vọng hàn gắn cho ngày sắp tới.

 

Chân dung của anh mỗi ngày mỗi mạnh mẽ. Chưa đến tuổi 40, anh đã là ông chủ của một công ty trên trăm nhân viên, có văn phòng ở Á Châu và Âu Châu. Anh cường tráng từ thể xác đến cái đầu, với kinh nghiệm dày dặn, kiến thức ngày càng xa rộng. Chỉ có ngọn lửa thôi thúc vào đời ngày nào hình như đã tắt ngúm, thay vào đó là một nụ cười tự mãn. Tôi gắng đến mấy cũng không làm sao vui với niềm tự mãn của anh. Anh đã đạt đến đích trở thành “somebody”? Tôi đã chẳng có lần hứa với anh ước mơ của anh là ước mơ của tôi đó sao?

 

Băn khoăn, khó chịu, dày vò, thật ra, tôi biết mình đang ở trong trạng thái phủ nhận. Tôi biết rõ cái nguyên nhân đẩy anh ra xa tôi. Biết rằng đơn vị cân đo sự thành công của anh và tôi đã nằm ở hai đầu thái cực. Anh đo bằng cây thước phù phép của Bố; tôi cân bằng cán cân tình yêu và hạnh phúc trong lòng ông ngoại. Cho nên từ bao năm nay, tôi không dám lấy bức chân dung dở dang của anh ra, dù chỉ để nhìn ngắm, e sợ sẽ thấy chân dung Bố ẩn hiện.

 

***

 

Buổi sáng mùa hè, biển hiền hoà bình lặng, từng con sóng lấp lánh tiếp nối nhau nhẹ nhàng ôm lấy bờ. Bé Nhi và hai thằng Cu lăng xăng rượt nhau trên cát. Tôi nghe tiếng cười dòn của các con. Mặt trời thả tia nắng ấm áp vào lòng. Lần đầu tiên tôi cảm được cái mặn cái nồng của làn gió biển.

 

Mới sáng nay, khi đáp máy bay từ Thái Lan về, anh gọi từ phi trường hẹn chiều nay sẽ về đưa tôi đi ăn tối. Tôi hỏi hờn ăn mừng điều gì mà nghe lòng rung động. Cái cảm giác máu dồn nhịp tim thời mới quen nhau. Có thật là anh nhớ kỷ niệm 20 năm ngày cưới?

 

Lùa đám nhóc vào nhà, cái vali của anh nằm chắn ngay phía trước. Thằng Cu vấp chân đá cái vali tung toé. Thu nhặt xếp gọn vào vali trở lại, một tấm ảnh lớn nằm áp sàn nhà. Tôi nhặt lên, nhìn sững vào tấm ảnh mà nhìn thấy toàn cảnh phía bên kia bờ đại dương. Cũng trời xanh, cũng nắng vàng, cũng bờ cát trắng, hình ảnh anh ôm vai cô gái nhỏ nhắn có màu da muối mặn, hai bên là hai đứa bé trạc tuổi thằng Út giống anh như khuôn đúc, đang lôi tay hai người. Gió thổi mái tóc anh bồng bềnh. Chỉ khác là tôi thấy trên mặt anh có nụ cười tươi. Mắt anh có bầu trời, có mặt hồ in bóng, lung linh ánh lửa anh nhen nhúm ở bên kia bờ.

 

Tôi xếp gọn mọi thứ, trả tấm ảnh ngay ngắn vào vali. Tối hôm đó, anh ngọt ngào đến lạ lùng. Anh đưa tôi đến quán vỉa hè ngày xưa hai đứa thường hẹn hò. Trong men rượu, anh cầm tay tôi nói lời xin lỗi. Anh xin lỗi đã đánh mất “bọn mình”, đã đánh mất chính anh. Anh xin lỗi đã không giữ lời hò hẹn, đã không gieo cho tôi hạnh phúc. Anh hứa sẽ để tôi có dịp vẽ nốt bức chân dung của anh. Anh nói rất nhiều, tôi nhận ra cơn gió sôi nổi ngày nào. Tôi gặp lại ngọn lửa trong mắt anh dành cho tôi. Cũng ngay trong khoảnh khắc đó, ngọn lửa trong tôi chợt nguội lạnh. Bức họa chân dung anh bỗng mờ nhạt, trắng xoá. Tôi chợt nghe và hiểu lời bà ngoại nói ngày nào: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, nhưng không có chân dung.”

 

Đêm đó, trăng lên đưa thuỷ triều lên cao.Trăng sáng cả vùng trời, tôi thấy khuôn mặt anh nhẹ nhàng, hiền hoà trong giấc ngủ. Có lẽ anh đang thật sự gặp lại giấc mơ ngày xưa. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình tỉnh thức, hiểu rõ hơn bao giờ, từ bao năm nay, tôi đã không giống mẹ dám cưỡi cơn sóng cao. Tôi ngồi dậy lấy tấm chân dung dở dang của anh ra ngắm nhìn lần cuối. Và tôi bắt đầu bôi xoá...

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 127385)
C hính phủ Hoa Kỳ ngày 12 tháng 5 loan báo cho công khai tập tài liệu nổi tiếng mang tên Hồ sơ Ngũ Giác Đài, sau khi các tài liệu về cuộc chiến tranh Việt Nam từng một thời được xem là tối mật bị tiết lộ với báo chí cách nay 4 thập niên.
14 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 124399)
T in Luân Đôn - Trong bản báo cáo thường niên 2011 về tình hình nhân quyền trên thế giới được công bố hôm nay, tổ chức Ân Xá Quốc Tế, Amnesty International đã đưa ra những nhận định đáng lo ngại về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam khi cho rằng các biện pháp hạn chế gắt gao vẫn tiếp tục đè nặng lên quyền tự do ngôn luận, lập hội và hội họp.
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 144731)
g iá như không có em xe rác thành phố chắc sẽ mang tôi đi đến khu vực dành cho những bài thơ tứ cố vô thân lề đường chỉ còn lác đác những mảnh vụn của giấy viết rơi rải từ khe hở của xe rác cũ kỹ
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 121807)
LTS : Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Hoàng Thuỵ Anh hiện sống và làm việc tại thành phố Đồng Hới. Chúng tôi trân trọng giới thiệu những bài viết của tác giả Hoàng Thuỵ Anh đến với quí văn hữu và bạn đọc của Hợp Lưu. TCHL
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 117450)
M ỗi bài thơ là một trải nghiệm. 56 bài thơ trong “Cõi lặng” là 56 nỗi niềm. Những nỗi niềm ấy gom lại kết nên một hồn thơ ưu tư, trăn trở. Sự trăn trở ấy cuồn cuộn khi đón nhận hạnh phúc ngay chính cuộc đời trụi trần này. Nó đã làm nên linh hồn, sức nặng của tập thơ: “Tôi đi mãi vào sớm xuân/ Làm một người trắng nợ/ Thong dong mà mới mẻ/ Cầm tay và giã từ...” (Thành phố, sớm xuân...). 
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 140893)
C ửa nam quan cột ô nhục cây số zéro con mắt mở trừng nghiền nát loài rắn rết hồn thiêng róc thịt vùi khí uất giọt máu nhuộm tình sông núi cắt lìa
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 150128)
N ỗi nhớ em mang cho anh ngày vội vã Chẳng kịp nói dăm ba câu Chuyến tàu lao nhanh như kẻ trộm gặp lệnh truy nã Anh như tội phạm thuộc về riêng em… Và lẩn khuất trong dòng người tấp nập
12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 155478)
T a còn nửa bóng nguyệt hồng Biết bao giờ động tùng dương kiếp này Uống đi!liễu rũ cơn say Ngày mai còn mất trang đài về đâu
07 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 125367)
Đ ến hôm nay, ngày 6 tháng 5, bức hình nay có tên là Situation Room Photo, tự nó đã có đời sống riêng của nó, và người chụp vốn là nhiếp ảnh viên chính thức của toà Bạch Ốc, đã hẳn không còn là cha tinh thần của nó nữa. Hàng triệu người đã thấy nó, đã bị lôi cuốn, đã thích thú, đã soi bói, đã bàn luận và phân tích, cả chất vấn, và mặc sức… hoán đổi (altered, hoặc tiếng nhà nghề là photoshopped).
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 129741)
N hững lời chứng thuyền nhân, những hình ảnh kỷ niệm, những bài viết ngậm ngùi… ngày giỗ năm nay càng thêm lớn với 3 chương trình lễ tưởng niệm nơi tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, đêm thắp nến, hội thảo, chiếu phim, và hàng loạt những chương trình truyền thanh truyền hình, băng đĩa kỷ niệm. “Ngày này năm ấy” được người Việt lưu vong nhắc đến tựa như dân Mỹ đóng lại vở kịch nội chiến 1876 hàng năm. Khác chăng, trang sử của chúng ta chưa thể khép lại. 
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3865)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19668)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18651)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1659)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1820)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2339)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2441)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1486)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2226)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1961)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1397)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2439)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2646)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2388)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 264)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 823)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1050)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1141)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6428)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15903)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32167)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38871)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1501)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6920)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10734)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9953)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10046)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10847)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3471)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11161)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10372)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi