- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,615

Chân Dung Trắng

23 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 25585)



chandung-nguyenyen-content

(Tranh Lê Thánh Thư) 

LTS: Khi nhận được những sáng tác của Nguyên Yên chúng tôi thật sự ngạc nhiên về nội lực của người viết nầy, đó là một sự đáng mừng. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những bài viết của Nguyên Yến đến quí độc giả và văn hữu như những mở đầu tốt đẹp trong năm 2014.

TCHL

(Tặng T & K – hai người bạn thân quý.)

Tôi sinh ra là con gái. Hay ít nhất, bà ngoại thường gọi tôi là Gái. Tôi lớn lên với ngoại, được bà nuôi ăn nuôi học dạy dỗ thành người. Thuở nhỏ tôi thường hỏi ngoại Ba Mẹ tôi là ai, bà thường nói mẹ là nàng tiên xinh đẹp bị trời đày xuống trần gian. Trong đêm đen định mệnh giữa lòng đại dương, mẹ ra đi theo giông tố biển cả để hai bà cháu được bình an. Tuy xa mẹ từ đó, nhưng những câu chuyện bà thường kể về mẹ khiến hình ảnh mẹ trong tôi rất thân quen, gần gũi. Khi ai hỏi tôi giống ai, tôi không ngần ngại trả lời tôi giống mẹ. Không hiểu sao tôi luôn biết rõ chân dung của mẹ, không chỉ cái hình dạng bên ngoài, mà từ cái buồn, cái lạc lõng, lối suy tư, tôi luôn biết mình là cái tượng đúc tạc từ chân dung của mẹ.

 

Còn bố? Tôi hoàn toàn mù tịt. Mỗi khi hỏi đến bố, bà ngoại thường giả lơ như không nghe. Tôi phải hỏi bà nhiều lần, bà chỉ ậm à ậm ừ cho qua chuyện, không bao giờ có câu trả lời nhất định. Một hôm tôi hỏi nhiều làm bà nỗi cáu, bà nói: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, không có chân dung”. Từ nhiều mẩu, nhiều mảnh, tôi chắp nối, lắp ráp cho mình chân dung của ông, mờ nhạt, mơ hồ. Tôi để trí tưởng tượng và kiến thức mập mờ của mình tô vẽ ông. Không hiểu sao tôi cứ khăng khăng ông là chúa tể thế gian. Ông có địa vị, quyền hành. Tôi mơ thấy ông đứng giữa trời giông bão, mặt áo choàng đen, mắt ông đỏ khè như lò than của bà ngoại. Ông dương cao kiếm thần nổi sấm sét phù phép biến mất hai mẹ con trong đêm đen. Đó là hình ảnh tôi vẽ chân dung Ông.

 

Bà ngoại và tôi đặt chân đến Mỹ khi tôi mới tròn 5 tuổi. Bà bước vào tuổi 50. Tôi lớn lên với bà, không có ông ngoại, và cũng không có hình bóng người đàn ông nào trong nhà. Ông ngoại mất trong chiến tranh, bị Việt Cộng chôn sống ở đầu làng. Khi được đào lên đưa về nhà, ông đã yếu sức. Ông mất trong vòng tay của bà. Mỗi khi kể về ông ngoại, mắt bà sáng lên một thứ ánh sáng kỳ lạ. Vừa là ánh bình minh, mà cũng vừa là ánh chiều tà. Như bà vừa sống lại với ký ức, mà cũng vội vã rời xa nó. Bà thường nhắc ngày Mẹ tôi sinh ra đời, ông ngoại đãi cả làng. Ông không giống những người đàn ông cùng thời chỉ ăn mừng khi có con trai. Ông luôn gọi mẹ là nàng tiên giáng trần. Chỉ kể đến đó, mắt bà đã đỏ hoe. Tôi cũng đúc tạc cho mình chân dung ông ngoại với nụ cười hiền hoà, với trái tim thật to, vẽ thêm cho ông bộ râu phất phơ, tưởng tượng gió bay mái tóc chòm râu, như bức tranh tiên ông cỡi hạc bay về trời bà ngoại treo trên tường.

 

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc vẽ chân dung Bà Ngoại vì lòng tôi đã thuộc lòng từng nếp nhăn trên mặt Bà. Bà luôn ở bên cạnh tôi, ở trường, trong nhà, ngoài đường, trong lòng. Bà có tài hiện ra ở khắp nơi tôi có mặt, luôn sẵn sàng bảo bọc đứa cháu cưng. Vượt biển sang Mỹ tay không với đứa cháu, hành trang của Bà là nỗi đau chứng kiến cảnh con gái bị vuột khỏi vòng tay mình. Bà tự tranh đấu, cố gắng chôn sâu vết thương, siêng năng làm việc, vất vả một mình nuôi tôi ăn học. Bà dạy tôi theo lối suy nghĩ và quan niệm xưa cũ của bà. Cái định nghĩa về đàn bà con gái khi bà gọi tên tôi là Gái rất rõ rệt. Với bà, đàn bà rõ ràng là cái xương sườn của người đàn ông. Cần biết cứng cỏi. Cần biết mềm mại. Cần biết gập mình bé nhỏ lại khi cần tôn vinh chồng. 

 

Như sợ tôi không tự phân biệt mình là con gái, bà luôn luôn nhắc nhở. Khi tôi nghe nhạc nổi hứng huýt gió theo, bà rầy “con gái con đứa không được huýt gió”; khi tôi nghe kể chuyện hứng chí cười, bà nói “con gái không được cười to”; kể cả khi đã khôn lớn, trong các cuộc đối thoại, khi tôi có lời phê bình, bà mắng “con gái không nên có nhiều ý kiến”. Ngày tôi lấy chồng, bà dặn dò “Con gái phải biết nghe lời chồng, phải hiểu rõ sở thích, ý muốn của chồng mà lấy đó làm ý muốn của chính mình. Được vậy thì con mới có số phận khác với mẹ của con. Mới có hạnh phúc.” Tôi nghe bà dặn giật mình, từ lâu tôi vẫn tưởng rằng Mẹ nhu mì, hiền hoà và yếu đuối như bông hoa, ngọn cỏ. Đó là chân dung Mẹ trong tôi, trở thành bức hoạ của chính tôi. Đêm đó, tôi mơ thấy hình bóng Mẹ, gập ghềnh trên con sóng cao, Mẹ dặn, cuộc đời có nhiều cơn sóng, phải biết cách cưỡi sóng. Mắt mẹ cũng đỏ như mắt bố, chỉ có khác với Ông, mẹ không phù phép cho tôi biến mất. Mắt mẹ u uẩn, trút xuống những cơn mưa ào ạt, tràn ngập, ướt đẫm. Mưa từ mắt mẹ đổ thẳng vào lòng đại dương, cuộn mình theo từng cơn sóng tung cao lên trời, cao hơn cả mẹ. Những cơn sóng cao ngút cuốn Mẹ rời khỏi tôi.

 

Tôi tỉnh dậy bắt đầu cuộc đời làm vợ. Tôi rất hài lòng với chính mình, đã tìm được cho mình một người đàn ông thật sự bằng da bằng thịt, bằng tình yêu anh dành cho tôi, bằng tình yêu tôi dành cho anh. Người đàn ông có mặt mũi, có ánh mắt, có miệng cười, có cái uy nghiêm thần linh của bố, có chất hiền lành như ông tiên của ông ngoại. Từ đây, tôi sẽ nghe lời bà ngoại, sẽ học mọi điều về anh, sẽ nghe lời Mẹ, cưỡi theo cơn sóng trong lòng anh. Tôi sẽ làm cái việc mà từ nhỏ tôi đã ao ước, tôi sẽ vẽ được bức chân dung toàn diện đầu tiên của người đàn ông thật sự trong đời tôi, ngay bên cạnh tôi, không cần phải dùng trí tưởng tượng hay qua những mảng rời từ bà ngoại.

 

***

 

Anh tên là Phong. Ngày quen biết anh, tôi ghi chú trong đầu, à, chàng là ngọn gió, chàng biết bay. Sau đó, tôi còn nhận ra, chàng không chỉ biết bay, chàng biết dừng lại, biết vuốt ve, biết mơn trớn, biết thổi vào lòng tôi những mùi hương kỳ lạ. Tôi bày ra giấy mực, vẽ xuống mái tóc chàng, mái tóc bồng bềnh như cụm mây trời, lãng đãng băng ngang khu vườn tâm hồn tôi. Nhìn đám mây trôi, tôi nhủ lòng, trên trang giấy trắng này, sẽ có ngày tôi hoàn thành bức chân dung toàn diện của anh.

 

Cũng như tôi, anh lớn lên với bà nội. Bà nội gởi anh theo ông chú đi vượt biển sang Mỹ. Bố anh đi học tập cải tạo. Mẹ ở nhà bỏ đi lấy chồng. Anh không nhớ gì nhiều về Mẹ. Khác với tôi, anh không đeo bà, không mấy thần tượng Mẹ. Trong lòng anh có hình ảnh ông chú nghiêm khắc, có bức ảnh ông Bố được bà nội dúi vào túi áo ngày rời Việt Nam anh mang theo và giữ cho đến bây giờ. Khi tôi hỏi anh về bức chân dung của Bố anh, anh không hiểu, trả lời anh chỉ có tấm ảnh cũ của bố, không có bức vẽ chân dung. Tôi hỏi gặng: Em muốn hỏi khi nhớ đến Bố, anh nghĩ gì. Không cần suy nghĩ, anh nói: “Anh thấy mắt bố dõi theo anh trong từng bước đi, đợi chờ và đặt kỳ vọng vào anh.” “Kỳ vọng như thế nào? Anh ngập ngừng: “Bố muốn anh trở thành somebody”. Thành somebody để làm gì? Anh lúng túng: “Để em sẽ không bỏ anh như Mẹ đã bỏ Bố và anh”. Tôi thở phào, tưởng gì, điều này dễ ợt. Em đời nào lại bỏ anh. Tôi lấy giấy mực ra, vẽ ánh mắt sâu thẳm in hình bóng giấc mơ của anh. Tôi đắc ý pha thêm chút ánh mắt anh van nài.

 

Anh yêu tôi nhiều như anh yêu đời sống, bút sách, công việc. Anh nồng nhiệt đặt kế hoạch cho tương lai. Trong bảng vẽ phác hoạ cuộc đời của anh có ngày, có tháng, có con số, có mái nhà, có công việc, dĩ nhiên là có tôi. Thật không hời hợt như bức hoạ của tôi, chỉ có mỗi mình anh, mà cũng chỉ có vài nét nguệch ngoạc không có gì rõ ràng. Nhiệt tình của anh khiến tôi yêu anh nhiều hơn tôi yêu bảng nhạc, lời ca. Giá mà người ta có thể vẽ chân dung bằng những khúc nhạc đang reo trong lòng, thì tôi sẽ dễ dàng hoàn tất bức chân dung anh.

 

Ngày anh đỗ cử nhân, anh đến nhà xin hỏi cưới tôi. Mắt anh chân thành, quả quyết, háo thắng như tướng lãnh xuất trận. Bà ngoại gật đầu, tôi nghe lòng ấm áp. Tôi nghĩ đến bức tranh vẽ của anh. Mường tượng ra cả bầu trời. Có căn nhà cuối con đường dốc, có vườn cỏ xanh ngút ngàn, có tiếng gió, tiếng chim hót, tiếng cười trẻ thơ. Có anh cùng tôi bước hết đoạn đường.

 

Chúng tôi sống với nhau những ngày, những tháng, những năm. Anh vừa say mê làm việc vừa tiếp tục với đèn sách. Tôi vun xén đời sống, gieo hạt, rải mầm. Chúng tôi có những ngày trọn vẹn bên nhau. Tôi luôn bên cạnh anh như bình minh xung quanh mặt trời. Bức chân dung về anh trong tôi có thêm nhiều đường nét. Thế giới dường như chỉ có anh và tôi. Chúng tôi xây nhà, dệt mộng, quay cuồng trong vũ khúc tình yêu, khát vọng và ngông cuồng của tuổi trẻ.

 

Thời gian làm chính chắn khái niệm tình yêu chúng tôi dành cho nhau. Thời gian, dù là thời gian của cái “thuở ban đầu lưu luyến” khi vạn vật chỉ là trời xanh, là bóng mát, cũng khiến tôi hiểu ra nhiều điều về anh. Có ngày, tôi chợt nhận ra anh không hẳn luôn là ngọn gió. Có những lúc lá rừng rủ rê, anh nhất định không bay. Anh không thích tiếng xào xạc. Như hôm nay, anh khắt khe nhìn đám lá vàng rủ nhau lìa cành. Anh thờ ơ nhìn ánh hoàng hôn của ngày. Tôi nói trong sự từ giã có cái đẹp của sự từ giã. Ánh vàng cuối ngày là khởi điểm cho màn đêm bao dung. Anh không đồng ý, nói tôi vớ vẩn. Tôi giận, nhưng nghĩ đến lời dặn của bà ngoại, tôi nhận mình vớ vẩn. Sau đó lẻn vào bàn giấy lấy chân dung của anh ra, nhìn ngắm, tôi đặt bút sửa lại cho mái tóc anh bớt bồng bềnh.

 

Tôi sanh bé Nhi vào đầu thu. Khi bác sĩ chúc mừng chúng tôi có con gái, tôi nuốt xuống cái nghẹn bất chợt dâng lên trong cổ khi nhận thấy nỗi thất vọng lộ liễu trong mắt anh. Chiều hôm đó, nằm trong phòng bệnh viện nhìn xuống con đường tràn ngập đám lá vàng, nghe bước chân anh đạp trên những ngọn lá khô, tôi nghe như tiếng dẫm trong tim. Ngày hôm sau anh đón tôi và bé Nhi về nhà, tôi im lặng suốt ngày. Tôi không cầm được lòng lại lấy bảng vẽ ra sửa lại nụ cười của anh cho bớt giống nụ cười ông ngoại. Bà ngoại đến, tôi thì thầm với bà, anh không giống ông Ngoại. Bà nhìn tôi chăm chú không hiểu tôi có ý gì. Tôi làm thinh không giải thích. Lần đầu tiên trong đời, tôi đối diện với một nỗi cô đơn kỳ lạ. Như thể thế giới này chỉ đơn độc mình tôi. Cả bà ngoại vạn năng cũng không thể lọt vào trong tâm hồn tôi nữa.

 

Cuộc sống của chúng tôi qua nhanh. Lúc nắng, lúc mưa, lúc ngọt, lúc đắng. Chàng thanh niên nhẹ nhàng như ngọn gió trong anh đã lột xác thành người đàn ông của cây cổ thụ, chọn vùng đất cố định đâm sâu gốc rễ, hình thành những tàn cây dài rộng phủ bóng xác định bóng mát cho riêng mình. Tôi cũng đem lại cho anh nhiều bóng mát. Ngày tôi sanh thằng Cu, tôi gặp lại bầu trời mênh mang trong mắt anh, nghe tiếng gió reo trong lòng anh. Lòng tôi lẫn lộn vui buồn, không biết mình đang cưỡi cơn sóng của Mẹ hay đang sống với định nghĩa đàn bà của Ngoại. Tôi thấy anh mở ví ra nhìn tấm hình của Bố anh. Tôi cảm động, dặn lòng mình sẽ tiếp tục vẽ bức chân dung của anh.

 

Đời sống và công việc chúng tôi suông sẻ. Bản tính làm việc tới nơi tới chốn và những đam mê xây dựng của anh cùng với sự hỗ trợ của tôi khiến chúng tôi lập nghiệp dễ dàng. Khi bé Nhi lên 6 tuổi, ngày sinh nhật con, như để chuộc tội với mẹ con tôi, anh tặng bé Nhi căn nhà kính be bé, rồi anh bất ngờ có quà cho tôi. Anh mở cặp táp đưa cho tôi tấm ảnh căn nhà kính khung sắt cao lồng lộng ngay sát bờ biển, và giấy tờ anh mới ký giấy mua căn nhà. Tôi chưng hửng không xác định được cảm xúc, thấy cái cảm giác ngộp đang dâng lên trong lồng ngực, như đang bị ai đó nhận chìm. Hồi chọn căn nhà trên dốc núi, tôi có nói với anh tôi muốn ở thật cao, thật xa biển, xa những cơn ác mộng. Tôi chưa kịp phản ứng, anh đã có vẻ giận thấy tôi không mừng rỡ.

 

Ngày tạm biệt căn nhà cuối con dốc, tôi cố nấn ná chờ đợi tia nắng vàng cuối ngày. Gió rung cành phong già trước nhà gần như đã trần trụi. Đám cành cây rùng mình rủ bỏ những ngọn lá cuối cùng chuẩn bị đón mùa đông. Lòng tôi rưng rưng chuyển mùa. Sự lưu luyến, bịn rịn của tôi làm anh cáu tiết, anh nhấn gas phóng xe vù khỏi con dốc, để lại những đám bụi mù tung theo đám lá khô. Tự cảm thấy mình có lỗi, tôi nuốt xuống cái mặn chát trong cổ, tựa đầu vào vai anh làm huề. Tôi tự nhủ sẽ nghe lời Ngoại, sẽ học yêu ý thích của anh, yêu căn nhà kính đen khung thép màu chì anh tự quyết định dọn chúng tôi vào.

 

***

 

Từ ngày dọn về căn nhà sát bờ biển, chân dung của Bố thường xuyên đến trong giấc mộng hằng đêm. Có lần, tôi mơ thấy Bố Mẹ và hai bà cháu cùng đang ở trên thuyền dưới bầu trời mênh mông ngút bờ. Trời nổi cơn giông tố, Ông nổi giận quẳng mẹ xuống biển. Bà ngoại ôm chặt tôi vào lòng. Trong trận cuồng phong, hình ảnh anh xuất hiện, mờ ảo... Tôi thức dậy không dám trở về với giấc ngủ. Tâm thần tôi ngày càng bất ổn. Còn anh, gió biển bốc anh lên cao ngút trời, như cánh diều lướt theo hướng gió, anh hứng khởi tung bay. 

 

Ngày thằng Út chào đời hai năm sau, anh đang ở Á Châu lo mở rộng công việc làm ăn. Độ này, anh ít khi ở nhà, hơn nửa thời gian ở nước ngoài, nửa còn lại anh bận rộn công việc. Anh không có thì giờ với sách vở, nói gì đến thời giờ cho mấy mẹ con. Bà Ngoại tỏ ý lo ngại, còn tôi, lẫn lộn với cảm xúc, tôi cố gắng phớt lờ tập trung vào con cái, nhà cửa, thỉnh thoảng giúp công ty lo công việc sổ sách, giấy tờ. Cuộc sống của chúng tôi ngày càng lạt lẽo. Anh giận dữ thấy tôi không biết vui với niềm vui của anh. Tôi khổ sở nhìn chân dung anh mỗi ngày mỗi xa lạ.

 

Đời sống chung của chúng tôi là hai đời sống hoàn toàn riêng biệt. Mọi gắn bó đều không còn. Anh đi, anh về, anh ngủ, anh thức, anh ăn uống, anh nói điện thoại, anh cười, anh xem truyền hình... tất cả đều không liên quan đến tôi. Thoạt đầu tôi hờn tủi, quay quắt, ghen tuông, giận dữ, rồi sau đó làm hoà với anh, đúng hơn là làm hoà với chính mình. Tình cảm có thể nguội lạnh, nhưng sao có thể bỏ cuộc, làm sao có thể để cơn sóng nhận chìm? Tôi cảm giác có lỗi khi nhận ra sự thờ ơ, bàng quang trong tình cảm của chính mình. Nhưng khi tôi nhẹ nhàng hơn, anh lại thân thiện hơn. Chúng tôi sống bên nhau không có hơi thở của hiện tại, sống bằng dư vị của tình yêu ngày cũ với hy vọng hàn gắn cho ngày sắp tới.

 

Chân dung của anh mỗi ngày mỗi mạnh mẽ. Chưa đến tuổi 40, anh đã là ông chủ của một công ty trên trăm nhân viên, có văn phòng ở Á Châu và Âu Châu. Anh cường tráng từ thể xác đến cái đầu, với kinh nghiệm dày dặn, kiến thức ngày càng xa rộng. Chỉ có ngọn lửa thôi thúc vào đời ngày nào hình như đã tắt ngúm, thay vào đó là một nụ cười tự mãn. Tôi gắng đến mấy cũng không làm sao vui với niềm tự mãn của anh. Anh đã đạt đến đích trở thành “somebody”? Tôi đã chẳng có lần hứa với anh ước mơ của anh là ước mơ của tôi đó sao?

 

Băn khoăn, khó chịu, dày vò, thật ra, tôi biết mình đang ở trong trạng thái phủ nhận. Tôi biết rõ cái nguyên nhân đẩy anh ra xa tôi. Biết rằng đơn vị cân đo sự thành công của anh và tôi đã nằm ở hai đầu thái cực. Anh đo bằng cây thước phù phép của Bố; tôi cân bằng cán cân tình yêu và hạnh phúc trong lòng ông ngoại. Cho nên từ bao năm nay, tôi không dám lấy bức chân dung dở dang của anh ra, dù chỉ để nhìn ngắm, e sợ sẽ thấy chân dung Bố ẩn hiện.

 

***

 

Buổi sáng mùa hè, biển hiền hoà bình lặng, từng con sóng lấp lánh tiếp nối nhau nhẹ nhàng ôm lấy bờ. Bé Nhi và hai thằng Cu lăng xăng rượt nhau trên cát. Tôi nghe tiếng cười dòn của các con. Mặt trời thả tia nắng ấm áp vào lòng. Lần đầu tiên tôi cảm được cái mặn cái nồng của làn gió biển.

 

Mới sáng nay, khi đáp máy bay từ Thái Lan về, anh gọi từ phi trường hẹn chiều nay sẽ về đưa tôi đi ăn tối. Tôi hỏi hờn ăn mừng điều gì mà nghe lòng rung động. Cái cảm giác máu dồn nhịp tim thời mới quen nhau. Có thật là anh nhớ kỷ niệm 20 năm ngày cưới?

 

Lùa đám nhóc vào nhà, cái vali của anh nằm chắn ngay phía trước. Thằng Cu vấp chân đá cái vali tung toé. Thu nhặt xếp gọn vào vali trở lại, một tấm ảnh lớn nằm áp sàn nhà. Tôi nhặt lên, nhìn sững vào tấm ảnh mà nhìn thấy toàn cảnh phía bên kia bờ đại dương. Cũng trời xanh, cũng nắng vàng, cũng bờ cát trắng, hình ảnh anh ôm vai cô gái nhỏ nhắn có màu da muối mặn, hai bên là hai đứa bé trạc tuổi thằng Út giống anh như khuôn đúc, đang lôi tay hai người. Gió thổi mái tóc anh bồng bềnh. Chỉ khác là tôi thấy trên mặt anh có nụ cười tươi. Mắt anh có bầu trời, có mặt hồ in bóng, lung linh ánh lửa anh nhen nhúm ở bên kia bờ.

 

Tôi xếp gọn mọi thứ, trả tấm ảnh ngay ngắn vào vali. Tối hôm đó, anh ngọt ngào đến lạ lùng. Anh đưa tôi đến quán vỉa hè ngày xưa hai đứa thường hẹn hò. Trong men rượu, anh cầm tay tôi nói lời xin lỗi. Anh xin lỗi đã đánh mất “bọn mình”, đã đánh mất chính anh. Anh xin lỗi đã không giữ lời hò hẹn, đã không gieo cho tôi hạnh phúc. Anh hứa sẽ để tôi có dịp vẽ nốt bức chân dung của anh. Anh nói rất nhiều, tôi nhận ra cơn gió sôi nổi ngày nào. Tôi gặp lại ngọn lửa trong mắt anh dành cho tôi. Cũng ngay trong khoảnh khắc đó, ngọn lửa trong tôi chợt nguội lạnh. Bức họa chân dung anh bỗng mờ nhạt, trắng xoá. Tôi chợt nghe và hiểu lời bà ngoại nói ngày nào: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, nhưng không có chân dung.”

 

Đêm đó, trăng lên đưa thuỷ triều lên cao.Trăng sáng cả vùng trời, tôi thấy khuôn mặt anh nhẹ nhàng, hiền hoà trong giấc ngủ. Có lẽ anh đang thật sự gặp lại giấc mơ ngày xưa. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình tỉnh thức, hiểu rõ hơn bao giờ, từ bao năm nay, tôi đã không giống mẹ dám cưỡi cơn sóng cao. Tôi ngồi dậy lấy tấm chân dung dở dang của anh ra ngắm nhìn lần cuối. Và tôi bắt đầu bôi xoá...

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6188)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30693)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81715)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.