- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,460,928

Một Vì Sao Rụng: Thổ Dân Da-đỏ Thế Kỉ Xx Claude Lévi-strauss (1908-2009)

04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 81827)

blankClaude Lévi-Strauss, từ trần hôm nay thứ ba 03/11/2009, hưởng thọ 101 tuổi, là cây đại thụ đã thủ một vai trò quan trọng và rộng lớn trong nền văn học Pháp và thế giới hơn nửa thế kỉ vừa qua, từ giữa thế kỉ XX cho đến đầu kỉ XXI này. Ứng dụng ý niệm cấu trúc trong công trình nghiên cứu các hiện tượng liên quan tới con người, ông gieo vào cấu trúc luận, phôi thai từ nửa sau thế kỉ XIX với những Ferdinand de Saussure (1857-1913 – ngôn ngữ học), Emile Durkheim (1858-1917 – xã hội học), tưởng chừng như nghịch lí, hột giống nhơn bản khiến nó trở thành một luận thuyết có ảnh hướng lớn trong hầu hết mọi hoạt động văn hoá. (1)

 

 Nói cách khác, với một tư duy và văn tài vượt trội, ông đã phát quang và cải cách đường lối suy tưởng đương đại, hệt như những Karl Marx (1818-1883 – kinh tế) và Sigmund Freud (1856-1939 – phân tâm) trước kia - mutatis mutandis, mỗi nhà trong lãnh vực đặc trưng của mình.

Không gian rộng lớn

 Thật vậy, Claude Lévi-Strauss xây dựng tư duy riêng biệt trên một vùng tri thức rộng lớn. Và đa dạng : triết học, lí luận học, dân tộc học, nhơn chủng học, văn học, hội họa - những địa hạt được ông khảo xét không đơn thuần qua con mắt của nhà bác học mà còn qua nhãn quan của một nhà hiền triết, của một văn gia và nghệ sĩ. Mọi địa hạt và phong cách đó qui tụ cùng nhau làm nền cho suy tưởng của ông, lần lượt theo thời gian nghiên cứu và năm tháng tác phẩm ra đời. Nhưng thảy đều hợp nhứt và tương ứng với nhau trong một sự thể gọi là cấu trúc chủ đạo.

 Từ lúc chào đời ngày 18/11/1908 cho tới ngày nhắm mắt sau khi 2.064 trang tác phẩm tuyển chọn in trong Tùng thư La Pléiade (Tao đàn) của Nxb Gallimard năm 2008 đánh dấu sanh nhựt lần thứ 100 (2), ông thật sự đã trải nghiệm một hành trình không mấy thông thường suốt trọn cuộc đời. Khởi hành từ xưởng vẽ của người cha họa sĩ, ông lần hồi bước qua nhiều chặn đường đáng kể, hằn lại những dấu mốc cắm sâu trong quá trình suy luận của mình. Thạc sĩ triết học năm 1931 (3), sau hai năm gõ đầu trẻ ở Pháp, ông được đề cử vào Uỷ ban đại học Brazil, giảng dạy xã hội học Đại học Quốc gia São Paulo từ năm 1935 tới năm 1939. Cũng trong thời gian này, ông tổ chức và điều hành nhiều công trình đi vào vùng sâu vùng xa khảo sát các bộ lạc thiểu số da-đỏ (nay gọi là amérindiens, tộc người Mĩ-Ấn) ở miền cao nguyên Mato Grosso (phía Tây Brazil, nơi cư ngụ rất nhiều bộ lạc thổ dân) và ở miệt châu thổ sông Amazone (phía Bắc Brazil, khí hậu nhiệt đới, rừng hoang bạt ngàn, thổ dân rải rác).

 Trở về Paris khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Pháp bị Đức chiếm đóng cùng với chánh sách bài do thái, ông buộc phải lủi trốn sang New York. Rổi năm 1944, lại quay về nước sung vào lực lượng võ trang Kháng chiến. Chiến tranh chấm dứt, được gởi qua Hoa kì làm tham tán văn hóa cho Sứ quán Pháp ở Washington. Từ chức năm 1948 để hoàn tất luận án Tiến sĩ văn chương. Năm 1949, được bổ nhiệm làm phó giám đốc Musée de l’Homme (Bảo tàng nhơn chủng học), rồi sau đó giữ chức khoa trưởng École pratique des Hautes études (Trường Cao đẳng thực nghiệm). Được bầu năm 1959 vào Collège de France (Trường Quốc gia – là trường giảng dạy các môn chưa được ghi vào chương trình đại học, dành cho giới nghiên cứu) giảng dạy môn nhơn chủng học, năm 1973 vào Hản lâm viện Pháp. Trong thời gian này, không ngừng suy ngẫm về hội họa và văn chương. Năm 2007, trở thành quản thủ danh dự Musée du Quai-Branly (Bảo tàng văn hóa sơ khai). Đến nay, ông được hơn hai chục đại học danh tiếng trên thế giới phong bằng Tiến sĩ danh đự.

 Trên đây là các chặn đường chủ yếu đánh dấu hành trình nghiên cứu đương sự đã trải qua, cơ hội dành cho ông đặt nền móng cho khoa nhơn chủng học hiện đại.

Cấu trúc chủ đạo

 « Tôi vốn không ưa du hành và các nhà thám hiểm. » Đây là câu giáo đầu cuốn Tristes tropiques (Buồn thay miền nhiệt đới – 1955), cùng với các cuốn Structures élémentaires de la parenté (Cấu trúc cơ bản trong dòng họ - 1949) và La Pensée sauvage (Tư duy man rợ - 1962), là tác phẩm biểu đạt trọn vẹn nhứt suy tưởng của ông trong một sự nghiệp gồm hai mươi đầu sách cũng chẳng kém phần súc tích. Vậy mà ông chẳng ngại lôi kéo chúng ta dấn bước trên con đường hoang dã chưa được khai thông dày đặc chông gai, với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, lội rạch băng rừng thọc sâu vào vùng xa, tận các ngôi làng hẻo lánh của người thổ dân da-đỏ. Thám hiểm, khám phá, phát hiện, khảo sát các bộ lạc sống còn cho tới ngày nay sau hơn năm thế kỉ bị thôn tính, sát hại : Cuduveo, Bororo, Nambikwara. (4)

 Qua công trình khảo sát các bộ lạc này, ông lần hồi xa lánh cung cách nghiên cứu cố hữu của ngành dân tộc học bấy giờ vẫn ngụp mình trong tinh thần kẻ cả, thực dân - miệt thị và khinh rẻ tộc người thiểu số, coi họ là phường sauvages, man di mọi rợ. Là bởi, tìm hiểu đời sống xã hội của họ và, đồng thời, các thần thoại mà họ truyền tụng, ông phát hiện một sự kiện mấu chốt. Rằng các bộ lạc sans écriture, không có chữ viết ấy đều là những tổ chức phức tạp và hạp lí về mặt dàn dựng trí thức và văn hóa, chẳng thua kém gì các xã hội tự coi là văn minh. Ông nhận chân sự kiện đó khi phân tách cấu trúc cơ bản trong dòng họ thổ dân, như nhan đề tác phẩm vừa nhắc tới trên, và các thần thoại truyền tụng, như nhan đề bộ tứ Mythologies (Thần thoại – 1964, 1967, 1968, 1971) - nghĩa là qua các dữ kiện xã hội và truyền thuyết phổ biến trong bộ lạc.

 Bất luận tập thể nào, văn hóa nào của con người đều có những điều kiêng cử sơ khởi. Một trong các cấm kị ấy là l’inceste, hay loạn luân nội thích, quan hệ tình dục giữa những người họ hàng gần kề như cha với con, mẹ với con, anh chị em ruột thịt với nhau. Hệ thống trong dòng họ các bộ lạc cũng cấu trúc y chang như vậy : cấm kị tình dục nội thích này tự nó biến sự thể thiên nhiên gọi là consanguinité, hay huyết thống nội thích, thành một sự thể văn hóa, hệt như ở mọi xã hội khác, ‘’sơ khai’’ hay ‘’ văn minh’’. Rồi từ chỗ tiếp cận cấu trúc trong dòng họ của nền văn hóa hoang dã đó, Claude Lévi-Strauss bước qua địa hạt thần thoại truyền tụng trong bộ lạc, góp nhặt biết bao tư liệu trực tiếp từ các truyền thuyết này. Ở đây nữa cũng vậy, ông vạch ra các cấu trúc cơ bản ông gọi là mythèmes, hay huyền tố, những yếu tố chủ đạo giải thích ý nghĩa các thần thoại phổ biến trong bộ lạc. Chẳng hạn như khi ông phát hiện trong truyền thuyết ý nghĩa của thao tác nấu nướng, một sự kiện văn hóa tột bực. Bởi thao tác biến đồ ăn sống (le cru) thành đồ ăn chín (le cuit) để nó khỏi hư hỏng là một sự thể văn hóa, hệt như ở mọi xã hội khác - sống và chín, le cru et le cuit, vốn là phụ đề tác phẩm Mythologies tập I của ông. Và biết bao huyền tố khác nữa.

Trích đoạn

 * Đêm thật lạnh, mặt trăng ló dạng qua màn mây khi tỏ khi mờ. Nằm trên bao gạo thật đau lưng. Thức dậy cùng với mặt trời, 6 giớ sáng. Cà phê, rửa ráy qua loa. Các anh nuôi giăng lều bằng vải bạt. Nước thì phải ra tận nguồn rạch Tombador, xa chừng 1 kí lô mét. Tôi và Luis cùng nhau tập bắn súng lục, rồi đi đốn thốt nốt loại carirova. Trái thốt nốt loại này đắng ngắt tựa như ngậm kí ninh, cả khi đã nấu chín, chẳng cơm cháo gì được. Các anh nuôi trở về xách theo mấy thùng nước, nói dọc đường thấy có nhiều cây burity. Nghe lời tôi, họ quay lưng lại vác theo một cái rìu, rồi hai giờ sau trở về với một thứ vang, màu hồng nhưng rất trong, hương vị như được ngâm dưới hầm rượu, ngọt và pha lẫn chút mùi phênol. (Nhựt kí, ngày 10 tháng 06/1938)

 *Nhà ở của họ (của thổ dân da-đỏ) không được xây dựng một cách vững chắc, mà chỉ buộc chằng chịt, kết nối, thắt chặt, trơn sờn theo ngày tháng: thay vì đè họ dưới một khối đá nặng trịch vô cảm, nó thích ứng với họ mỗi khi họ ra vô, nằm ngồi trong nhà. (Cấu trúc cơ bản trong dòng họ)

 * Sự trần truồng của họ xem chừng được phên cót và lá cọ quây che bao bọc : mỗi lần bước ra khỏi nhà như thể là họ cởi bỏ lớp áo quần rộng thình dệt bằng lông đà điểu. (Buồn thay miền nhiệt đới)

 * Trái đất khai mào không có bóng con người, rồi cũng sẽ kết cuộc chẳng có bóng con người. Các định chế, phong tục, tập quán mà tôi đã mài công kiểm kê và tìm hiểu chỉ là một lớp phấn mỏng, phù du, phủ trên cuộc khai thiên lập địa, chẳng mang một ý nghĩa nào, trừ chỗ cho phép con người diễn tấu vai trò của mình trên quả địa cầu. (Buồn thay miền nhiệt đới)

 * Hồi tôi mới chào đời (1908), dân số đếm cả thảy là 1 tỉ rưỡi trên toàn thế giới. Khi tôi bắt đầu lập nghiệp, khoảng 1930, nó đà lên tới 2 tỉ. Rồi bây giờ (2005) thì là 6 tỉ và, theo dự kiến của các nhà dân số học, cứ theo đà này thì trong vài thập niên nữa nó sẽ vọt lên tới 9 tỉ. Nhưng họ lại bảo rằng đó là tột điểm, dân số rồi sẽ lần hồi sụt xuống, có người cho là sẽ rất mau lẹ, đến độ chừng vài ba thế kỉ nữa thì nhơn loại có thể suy tàn. Khiến cho tánh cách da dạng không những của nền văn hóa chung bị mai một mà luôn cả động vật và thực vật nữa cũng vậy. (Diễn từ nhận Giải Quốc tế Catalona)

 * Tuổi đời càng cao, càng có nhiều mảng quá khứ trồi lên trong trí nhớ, hay nói một cách khác, càng có nhiều khúc quành lần lượt bị khép kín. (Nghĩ gần nghĩ xa)

 * ...   

Cống hiến

 Nói tới khoa nhơn chủng hiện đại tức là nhắc tới nhơn chủng học cấu trúc và người đã ứng nghiệm phương pháp cấu trúc, phôi thai từ cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, trong ngành dân tộc học : Claude Lévi-Strauss. Người đã phát hiện trong những thủ tục lấy vợ lấy chồng xem chừng tùy tiện của các thổ dân da-đỏ tánh chất hạp lí luôn được cấu trúc một cách chặt chẽ và trong mớ tư duy gọi là man rợ xem chừng hổ lốn một đường lối suy luận phức tạp vừa mạch lạc vừa sáng tạo. Ngưởi đã minh xác rằng các tộc người thiểu số đâu phải là hiện thân giai đoạn sơ khai trong tiến trình phát triển của con người. Người đã chứng thực rằng trên quả địa cầu tuyệt nhiên không có một nền văn hóa nào trội hơn nền văn hóa nào và nhờ ở tánh chất đa văn hóa mà nhơn loại mới thật sự phong phú.

 Vượt qua khía cạnh dân tộc học và nhơn chủng học, cống hiến của Claude Lévi-Strauss nằm chính ở chỗ đó : buộc các xã hội ‘’văn minh‘’ quá ư hống hách cho tới nay phải dẹp bớt thái độ ngạo nghễ của mình mà suy luận, nhìn đời một cách khiêm nhường.

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 03/11/2009)

----------------------------------

(1) Xem : Trần Thiện-Đạo, Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc (Nxb Văn học – 2001 ; Công ti Bách Việt liên kết với Nxb Trí thức – 2008. Phần II).

(2) Claude Lévi-Strauss, Oeuvres (Tác phẩm – Nxb Gallimard). Tao đàn là tùng thư in tác phẩm của những văn gia đã đuợc hậu thế nhìn nhận ; it có văn gia nào được vinh hạnh này lúc sanh thời, Claude Lévi-Strauss và, trước ông, Albert Camus (1913-1960), là hai trường hợp ngoại lệ chứng minh cho nguyên tắc đặt định vừa kể...

(3) Bằng cấp sư phạm ở Pháp, cho phép đương sự giảng dạy đại học. Khác hẳn cấp bằng cùng tên ở bên ta hiện nay, trình độ thấp hơn nhiều.

(4) Theo thống kê chánh thức thì từ năm 1503 tới năm 1660, không kể số lượng bị hải tặc cướp hay chìm sâu dưới đáy biển, có 185 tấn vàng và 16.000 tấn bạc của thổ dân da-đỏ bị chở về châu Âu làm của. Xem cùng tác giả: Nợ (Hợp lưu, số 96, tháng 9 & 10 / 2007, và Văn hóa Nghệ an, 129, ngày 25 tháng 7 năm 2008).

(5) Gần chúng ta, hơn 10 năm sau, Georges Condominas (sanh năm 1921 ở Hải phòng) cũng đã ‘’ ăn rừng đá thần Gôo‘’ (nhái theo nhan đề tác phẩm chủ yếu của ông) với người Mnông Gar ở làng Sar Luk, nay đổi tên thành làng Rchai, ở Tây nguyên, vào những năm 1948/1949. Hai năm ròng ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng lao động) với tộc người thiểu số này để khảo sát, vạch ra bổn sắc của họ.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 92096)
m ột đêm uống trăng máu ướp vần thơ mộ đỏ bào thai chưa kịp lớn kià thú dữ nốc cạn huyết tươi...
11 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 68027)
Ai nghe thấy tên thành phố Seattle đều ngán về cái mưa dai dẳng, một năm gần sáu tháng trời. Biểu tượng của Seattle là một người cầm dù. Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc Anh có về gọi nắng đến cho em…( Trần Mộng Tú) Vậy mà chúng tôi đã ở thành phố Seattle gần 36 năm trời .
10 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 67096)
Đ ổi mới, không thể viết như cũ, họ biết thế. Nhưng bắt đầu từ đâu? Họ chưa cơ hội nhận được thông tin đa chiều hay tiếp nhận nền thơ ca thế giới với bao nhiêu trào lưu như thứ cửa hàng bách hóa tổng hợp để tha hồ chọn lựa, như thế hệ thơ hậu đổi mới. Mở cửa, họ đối mặt với khoảng trắng mênh mông của sáng tạo, của ý thức và trách nhiệm của nghệ sĩ tự do. Họ cần làm mới, thức nhận rằng mình phải khác. Phải gánh lấy trách nhiệm định phận thi sĩ của thế hệ, của thời đại.
10 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 83106)
M ón trà sữa trân châu rất thịnh hành trong giới trẻ ở Việt Nam, nhưng được biết là món trân châu nhập cảng từ Trung Cộng có pha chất nhựa rất nguy hiểm...
09 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 70249)
N goại trưởng Mỹ nêu đích danh một số nước nặng tay nhất với việc sử dụng Internet như Saudi Arabia, Việt Nam, Sudan và Trung Cộng. Saudi Arabia, một đồng minh thân cận của Mỹ nhưng lại chống đối Hoa Kỳ đẩy mạnh việc cải thiện Dân Chủ trong thế giới Ả Rập.
08 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 57360)
N gười mù, người câm, người điếc, ai cũng thấy hiện trạng xã hội Việt Nam đương đại đang xoay thế nào. Một xã hội bất bình đẳng kinh khủng với ngàn tệ nạn lớn-nhỏ, trẻ-già, sang-hèn. [...] Nhưng chúng ta đã nhìn thấy gì, đã viết được dòng nào từ nguyên liệu khổng lồ ấy? Hay rời rạc dăm câu thơ không rõ nghĩa, vài ba truyện ngăn ngắn kháy khía tủn mủn [...] ngồi nhìn bầu trời xám xịt ô nhiễm, gác chân cho những đứa trẻ tội nghiệp lau giầy, rên ư ử trong nhà hàng bia ôm máy lạnh mà làm thơ móc máy lẫn nhau.
08 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 53744)
C hristine Falkenland, sinh năm 1967, đang là hiện tượng và hy vọng của văn chương Thụy Điển hiện nay. Cô viết tiểu thuyết và làm thơ. Những tác phẩm đã được dịch qua tiếng Pháp: Bóng Tôi (Mon ombre), Cơn Khát Của Hồn (La soif de l’âme), Búa Đe (Le marteau et l’enclume). Bút pháp tiêu biểu Bắc Âu. Văn phong đơn giản, cô đặc nhưng lại cực kỳ day rứt. Nội dung thường hướng về những đau đớn và khúc mắc ái, dục. Búa Đe là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Christine Falkenland được dịch ra tiếng Pháp, do nhà Actes Sud xuất bản tháng Sáu năm 1998.
08 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 64235)
T hơ Việt đi về đâu? Đây là câu hỏi mà tập thể các nhà thơ và giới làm văn hoá-giáo dục VN phải trả lời, với sự đóng góp của ý thức và bản lĩnh từ mỗi cá nhân. Những trang dông dài trên đây chỉ muốn phác họa quang cảnh và vài xu thế chính mà các nhà văn nhà thơ VN đang chứng kiến và đối diện: Sự hình thành nền cộng hòa văn chương VN trong bối cảnh toàn cầu hóa một chiều, cộng thêm bóng đen của toàn trị-mafia và vòng kim cô tự kiểm duyệt trên đầu. May mắn được làm một người quan sát từ ngoài nước [...] Chỉ xin đóng góp ở đây vài ý kiến nghề nghiệp.
07 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 66522)
Q ua chiến tranh, Việt Nam đã chịu biết bao đau thương tan nát. Bằng những hình ảnh và những trang viết, Hợp Lưu 113 sẽ đưa chúng ta một lần nữa... lội qua chiến tranh. Nhìn lại, không phải để đào sâu thêm sự thù hận bởi biên giới chính trị, mà để suy nghiệm về cuộc chiến Việt Nam như những “trận hậu chấn” dần dần tan vào lịch sử...
04 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 92151)
K hông còn gọi là vũ khí, một khẩu colt giữa điệp trùng AK chỉ còn để yên tâm biết trong tay có bạn giữa mịt mùng núi rừng không tìm ra lối đi