- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Một Vì Sao Rụng: Thổ Dân Da-đỏ Thế Kỉ Xx Claude Lévi-strauss (1908-2009)

04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 118666)

blankClaude Lévi-Strauss, từ trần hôm nay thứ ba 03/11/2009, hưởng thọ 101 tuổi, là cây đại thụ đã thủ một vai trò quan trọng và rộng lớn trong nền văn học Pháp và thế giới hơn nửa thế kỉ vừa qua, từ giữa thế kỉ XX cho đến đầu kỉ XXI này. Ứng dụng ý niệm cấu trúc trong công trình nghiên cứu các hiện tượng liên quan tới con người, ông gieo vào cấu trúc luận, phôi thai từ nửa sau thế kỉ XIX với những Ferdinand de Saussure (1857-1913 – ngôn ngữ học), Emile Durkheim (1858-1917 – xã hội học), tưởng chừng như nghịch lí, hột giống nhơn bản khiến nó trở thành một luận thuyết có ảnh hướng lớn trong hầu hết mọi hoạt động văn hoá. (1)

 

 Nói cách khác, với một tư duy và văn tài vượt trội, ông đã phát quang và cải cách đường lối suy tưởng đương đại, hệt như những Karl Marx (1818-1883 – kinh tế) và Sigmund Freud (1856-1939 – phân tâm) trước kia - mutatis mutandis, mỗi nhà trong lãnh vực đặc trưng của mình.

Không gian rộng lớn

 Thật vậy, Claude Lévi-Strauss xây dựng tư duy riêng biệt trên một vùng tri thức rộng lớn. Và đa dạng : triết học, lí luận học, dân tộc học, nhơn chủng học, văn học, hội họa - những địa hạt được ông khảo xét không đơn thuần qua con mắt của nhà bác học mà còn qua nhãn quan của một nhà hiền triết, của một văn gia và nghệ sĩ. Mọi địa hạt và phong cách đó qui tụ cùng nhau làm nền cho suy tưởng của ông, lần lượt theo thời gian nghiên cứu và năm tháng tác phẩm ra đời. Nhưng thảy đều hợp nhứt và tương ứng với nhau trong một sự thể gọi là cấu trúc chủ đạo.

 Từ lúc chào đời ngày 18/11/1908 cho tới ngày nhắm mắt sau khi 2.064 trang tác phẩm tuyển chọn in trong Tùng thư La Pléiade (Tao đàn) của Nxb Gallimard năm 2008 đánh dấu sanh nhựt lần thứ 100 (2), ông thật sự đã trải nghiệm một hành trình không mấy thông thường suốt trọn cuộc đời. Khởi hành từ xưởng vẽ của người cha họa sĩ, ông lần hồi bước qua nhiều chặn đường đáng kể, hằn lại những dấu mốc cắm sâu trong quá trình suy luận của mình. Thạc sĩ triết học năm 1931 (3), sau hai năm gõ đầu trẻ ở Pháp, ông được đề cử vào Uỷ ban đại học Brazil, giảng dạy xã hội học Đại học Quốc gia São Paulo từ năm 1935 tới năm 1939. Cũng trong thời gian này, ông tổ chức và điều hành nhiều công trình đi vào vùng sâu vùng xa khảo sát các bộ lạc thiểu số da-đỏ (nay gọi là amérindiens, tộc người Mĩ-Ấn) ở miền cao nguyên Mato Grosso (phía Tây Brazil, nơi cư ngụ rất nhiều bộ lạc thổ dân) và ở miệt châu thổ sông Amazone (phía Bắc Brazil, khí hậu nhiệt đới, rừng hoang bạt ngàn, thổ dân rải rác).

 Trở về Paris khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Pháp bị Đức chiếm đóng cùng với chánh sách bài do thái, ông buộc phải lủi trốn sang New York. Rổi năm 1944, lại quay về nước sung vào lực lượng võ trang Kháng chiến. Chiến tranh chấm dứt, được gởi qua Hoa kì làm tham tán văn hóa cho Sứ quán Pháp ở Washington. Từ chức năm 1948 để hoàn tất luận án Tiến sĩ văn chương. Năm 1949, được bổ nhiệm làm phó giám đốc Musée de l’Homme (Bảo tàng nhơn chủng học), rồi sau đó giữ chức khoa trưởng École pratique des Hautes études (Trường Cao đẳng thực nghiệm). Được bầu năm 1959 vào Collège de France (Trường Quốc gia – là trường giảng dạy các môn chưa được ghi vào chương trình đại học, dành cho giới nghiên cứu) giảng dạy môn nhơn chủng học, năm 1973 vào Hản lâm viện Pháp. Trong thời gian này, không ngừng suy ngẫm về hội họa và văn chương. Năm 2007, trở thành quản thủ danh dự Musée du Quai-Branly (Bảo tàng văn hóa sơ khai). Đến nay, ông được hơn hai chục đại học danh tiếng trên thế giới phong bằng Tiến sĩ danh đự.

 Trên đây là các chặn đường chủ yếu đánh dấu hành trình nghiên cứu đương sự đã trải qua, cơ hội dành cho ông đặt nền móng cho khoa nhơn chủng học hiện đại.

Cấu trúc chủ đạo

 « Tôi vốn không ưa du hành và các nhà thám hiểm. » Đây là câu giáo đầu cuốn Tristes tropiques (Buồn thay miền nhiệt đới – 1955), cùng với các cuốn Structures élémentaires de la parenté (Cấu trúc cơ bản trong dòng họ - 1949) và La Pensée sauvage (Tư duy man rợ - 1962), là tác phẩm biểu đạt trọn vẹn nhứt suy tưởng của ông trong một sự nghiệp gồm hai mươi đầu sách cũng chẳng kém phần súc tích. Vậy mà ông chẳng ngại lôi kéo chúng ta dấn bước trên con đường hoang dã chưa được khai thông dày đặc chông gai, với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, lội rạch băng rừng thọc sâu vào vùng xa, tận các ngôi làng hẻo lánh của người thổ dân da-đỏ. Thám hiểm, khám phá, phát hiện, khảo sát các bộ lạc sống còn cho tới ngày nay sau hơn năm thế kỉ bị thôn tính, sát hại : Cuduveo, Bororo, Nambikwara. (4)

 Qua công trình khảo sát các bộ lạc này, ông lần hồi xa lánh cung cách nghiên cứu cố hữu của ngành dân tộc học bấy giờ vẫn ngụp mình trong tinh thần kẻ cả, thực dân - miệt thị và khinh rẻ tộc người thiểu số, coi họ là phường sauvages, man di mọi rợ. Là bởi, tìm hiểu đời sống xã hội của họ và, đồng thời, các thần thoại mà họ truyền tụng, ông phát hiện một sự kiện mấu chốt. Rằng các bộ lạc sans écriture, không có chữ viết ấy đều là những tổ chức phức tạp và hạp lí về mặt dàn dựng trí thức và văn hóa, chẳng thua kém gì các xã hội tự coi là văn minh. Ông nhận chân sự kiện đó khi phân tách cấu trúc cơ bản trong dòng họ thổ dân, như nhan đề tác phẩm vừa nhắc tới trên, và các thần thoại truyền tụng, như nhan đề bộ tứ Mythologies (Thần thoại – 1964, 1967, 1968, 1971) - nghĩa là qua các dữ kiện xã hội và truyền thuyết phổ biến trong bộ lạc.

 Bất luận tập thể nào, văn hóa nào của con người đều có những điều kiêng cử sơ khởi. Một trong các cấm kị ấy là l’inceste, hay loạn luân nội thích, quan hệ tình dục giữa những người họ hàng gần kề như cha với con, mẹ với con, anh chị em ruột thịt với nhau. Hệ thống trong dòng họ các bộ lạc cũng cấu trúc y chang như vậy : cấm kị tình dục nội thích này tự nó biến sự thể thiên nhiên gọi là consanguinité, hay huyết thống nội thích, thành một sự thể văn hóa, hệt như ở mọi xã hội khác, ‘’sơ khai’’ hay ‘’ văn minh’’. Rồi từ chỗ tiếp cận cấu trúc trong dòng họ của nền văn hóa hoang dã đó, Claude Lévi-Strauss bước qua địa hạt thần thoại truyền tụng trong bộ lạc, góp nhặt biết bao tư liệu trực tiếp từ các truyền thuyết này. Ở đây nữa cũng vậy, ông vạch ra các cấu trúc cơ bản ông gọi là mythèmes, hay huyền tố, những yếu tố chủ đạo giải thích ý nghĩa các thần thoại phổ biến trong bộ lạc. Chẳng hạn như khi ông phát hiện trong truyền thuyết ý nghĩa của thao tác nấu nướng, một sự kiện văn hóa tột bực. Bởi thao tác biến đồ ăn sống (le cru) thành đồ ăn chín (le cuit) để nó khỏi hư hỏng là một sự thể văn hóa, hệt như ở mọi xã hội khác - sống và chín, le cru et le cuit, vốn là phụ đề tác phẩm Mythologies tập I của ông. Và biết bao huyền tố khác nữa.

Trích đoạn

 * Đêm thật lạnh, mặt trăng ló dạng qua màn mây khi tỏ khi mờ. Nằm trên bao gạo thật đau lưng. Thức dậy cùng với mặt trời, 6 giớ sáng. Cà phê, rửa ráy qua loa. Các anh nuôi giăng lều bằng vải bạt. Nước thì phải ra tận nguồn rạch Tombador, xa chừng 1 kí lô mét. Tôi và Luis cùng nhau tập bắn súng lục, rồi đi đốn thốt nốt loại carirova. Trái thốt nốt loại này đắng ngắt tựa như ngậm kí ninh, cả khi đã nấu chín, chẳng cơm cháo gì được. Các anh nuôi trở về xách theo mấy thùng nước, nói dọc đường thấy có nhiều cây burity. Nghe lời tôi, họ quay lưng lại vác theo một cái rìu, rồi hai giờ sau trở về với một thứ vang, màu hồng nhưng rất trong, hương vị như được ngâm dưới hầm rượu, ngọt và pha lẫn chút mùi phênol. (Nhựt kí, ngày 10 tháng 06/1938)

 *Nhà ở của họ (của thổ dân da-đỏ) không được xây dựng một cách vững chắc, mà chỉ buộc chằng chịt, kết nối, thắt chặt, trơn sờn theo ngày tháng: thay vì đè họ dưới một khối đá nặng trịch vô cảm, nó thích ứng với họ mỗi khi họ ra vô, nằm ngồi trong nhà. (Cấu trúc cơ bản trong dòng họ)

 * Sự trần truồng của họ xem chừng được phên cót và lá cọ quây che bao bọc : mỗi lần bước ra khỏi nhà như thể là họ cởi bỏ lớp áo quần rộng thình dệt bằng lông đà điểu. (Buồn thay miền nhiệt đới)

 * Trái đất khai mào không có bóng con người, rồi cũng sẽ kết cuộc chẳng có bóng con người. Các định chế, phong tục, tập quán mà tôi đã mài công kiểm kê và tìm hiểu chỉ là một lớp phấn mỏng, phù du, phủ trên cuộc khai thiên lập địa, chẳng mang một ý nghĩa nào, trừ chỗ cho phép con người diễn tấu vai trò của mình trên quả địa cầu. (Buồn thay miền nhiệt đới)

 * Hồi tôi mới chào đời (1908), dân số đếm cả thảy là 1 tỉ rưỡi trên toàn thế giới. Khi tôi bắt đầu lập nghiệp, khoảng 1930, nó đà lên tới 2 tỉ. Rồi bây giờ (2005) thì là 6 tỉ và, theo dự kiến của các nhà dân số học, cứ theo đà này thì trong vài thập niên nữa nó sẽ vọt lên tới 9 tỉ. Nhưng họ lại bảo rằng đó là tột điểm, dân số rồi sẽ lần hồi sụt xuống, có người cho là sẽ rất mau lẹ, đến độ chừng vài ba thế kỉ nữa thì nhơn loại có thể suy tàn. Khiến cho tánh cách da dạng không những của nền văn hóa chung bị mai một mà luôn cả động vật và thực vật nữa cũng vậy. (Diễn từ nhận Giải Quốc tế Catalona)

 * Tuổi đời càng cao, càng có nhiều mảng quá khứ trồi lên trong trí nhớ, hay nói một cách khác, càng có nhiều khúc quành lần lượt bị khép kín. (Nghĩ gần nghĩ xa)

 * ...   

Cống hiến

 Nói tới khoa nhơn chủng hiện đại tức là nhắc tới nhơn chủng học cấu trúc và người đã ứng nghiệm phương pháp cấu trúc, phôi thai từ cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, trong ngành dân tộc học : Claude Lévi-Strauss. Người đã phát hiện trong những thủ tục lấy vợ lấy chồng xem chừng tùy tiện của các thổ dân da-đỏ tánh chất hạp lí luôn được cấu trúc một cách chặt chẽ và trong mớ tư duy gọi là man rợ xem chừng hổ lốn một đường lối suy luận phức tạp vừa mạch lạc vừa sáng tạo. Ngưởi đã minh xác rằng các tộc người thiểu số đâu phải là hiện thân giai đoạn sơ khai trong tiến trình phát triển của con người. Người đã chứng thực rằng trên quả địa cầu tuyệt nhiên không có một nền văn hóa nào trội hơn nền văn hóa nào và nhờ ở tánh chất đa văn hóa mà nhơn loại mới thật sự phong phú.

 Vượt qua khía cạnh dân tộc học và nhơn chủng học, cống hiến của Claude Lévi-Strauss nằm chính ở chỗ đó : buộc các xã hội ‘’văn minh‘’ quá ư hống hách cho tới nay phải dẹp bớt thái độ ngạo nghễ của mình mà suy luận, nhìn đời một cách khiêm nhường.

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 03/11/2009)

----------------------------------

(1) Xem : Trần Thiện-Đạo, Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc (Nxb Văn học – 2001 ; Công ti Bách Việt liên kết với Nxb Trí thức – 2008. Phần II).

(2) Claude Lévi-Strauss, Oeuvres (Tác phẩm – Nxb Gallimard). Tao đàn là tùng thư in tác phẩm của những văn gia đã đuợc hậu thế nhìn nhận ; it có văn gia nào được vinh hạnh này lúc sanh thời, Claude Lévi-Strauss và, trước ông, Albert Camus (1913-1960), là hai trường hợp ngoại lệ chứng minh cho nguyên tắc đặt định vừa kể...

(3) Bằng cấp sư phạm ở Pháp, cho phép đương sự giảng dạy đại học. Khác hẳn cấp bằng cùng tên ở bên ta hiện nay, trình độ thấp hơn nhiều.

(4) Theo thống kê chánh thức thì từ năm 1503 tới năm 1660, không kể số lượng bị hải tặc cướp hay chìm sâu dưới đáy biển, có 185 tấn vàng và 16.000 tấn bạc của thổ dân da-đỏ bị chở về châu Âu làm của. Xem cùng tác giả: Nợ (Hợp lưu, số 96, tháng 9 & 10 / 2007, và Văn hóa Nghệ an, 129, ngày 25 tháng 7 năm 2008).

(5) Gần chúng ta, hơn 10 năm sau, Georges Condominas (sanh năm 1921 ở Hải phòng) cũng đã ‘’ ăn rừng đá thần Gôo‘’ (nhái theo nhan đề tác phẩm chủ yếu của ông) với người Mnông Gar ở làng Sar Luk, nay đổi tên thành làng Rchai, ở Tây nguyên, vào những năm 1948/1949. Hai năm ròng ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng lao động) với tộc người thiểu số này để khảo sát, vạch ra bổn sắc của họ.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1162)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1014)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1434)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1267)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1504)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1550)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1553)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1401)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1968)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9381)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16195)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15207)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15567)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1162)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1434)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1504)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1968)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3853)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5712)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5214)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5857)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1267)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1550)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1847)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1804)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1553)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1401)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1586)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1621)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12318)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28627)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35132)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35002)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9836)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11989)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1014)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1434)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1968)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2431)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7017)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6442)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8374)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.