- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HÀ NỘI NĂM TÔI MƯỜI SÁU

09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 6976)
Hồ Gươm- Hà Nội - photo Hồng Sơn
Hồ Gươm-Hà Nội - Photo Hồng Sơn



HÀ NỘI NĂM TÔI MƯỜI SÁU
Truyện ngắn

NGUYỄN CÔNG KHANH

Viết cho một người lại nhớ một người.



Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.

Tối hôm đó tôi lấy cớ kêu mệt, muốn có một ngày nghỉ và có một chút thời giờ để đến thăm một người bạn cũ. Các con tôi bằng lòng, sáng hôm sau xe của hãng du lịch đến đón các con tôi sớm và tôi có một ngày sống riêng với một thành phố của một thời mới lớn. Tôi sửa soạn xong, mở tủ lạnh, định ăn qua loa một thứ gì trước khi đi. Cái tủ lạnh nhỏ đầy ứ những thức ăn và hoa quả. Mấy ngày trước, gặp cái gì gợi nhớ tôi cũng mua, rẻ quá, nên mua nhiều tưởng sẽ ăn hết. Tôi mua chục na, chục hồng, mấy kí cốm Vòng với chuối chín trứng cuốc và cả một mẻ sấu chín. Lại còn đủ các thứ bánh, ít nhất là mỗi thứ một cái. Những ngày nào nếu không đi du ngoạn, các con tôi ba bữa đều kéo tôi đi ăn bên ngoài, thành thử mọi thứ như vẫn còn nguyên. Tôi chợt nhớ ra tôi còn mấy thứ quà Hà-nội phải ăn trước khi rời thành phố này. Tôi đóng tủ lạnh và ra khỏi khách sạn.

Bây giờ là mùa Thu, trời hơi se lạnh, phố vẫn còn vắng, Sáng sớm, trong khu phố cổ, nhiều cửa hàng chưa mở, thỉnh thoảng có những người quang gánh, hay đội thúng trên đầu mang hàng lặng lẽ vội vàng đi cho kịp buổi chợ. Có lúc tôi đi ra gần giữa đường, đứng nhìn hai hàng cây Bàng hai bên đường, lá đã đổi mầu và đã có vài cái rụng trên lề đường mà nhớ tới những cây Bàng trong sân trường hồi nhỏ. Mùa Xuân, mùa Hè lá bàng xanh mát màu ngọc bích. Mùa Thu lá đổi sang màu đỏ tía rồi sang mầu vàng. Mùa Đông lá rụng đầy, mỗi khi có trận gió thổi, những lá bàng chạy theo nhau quanh sân trường. Chúng tôi thường nhặt những quả bàng khô, lấy đá đập cho vỡ để ăn cái hạt ở bên trong, thấy bùi bùi. Cho đến nay, mỗi khi nhớ đến những cây bàng thời thơ ấu vẫn thấy bồi hồi.

Tôi vào chợ Hàng Da, tìm một hàng bún ốc gọi một đĩa ốc hương, vỏ vàng óng, mùi lá chanh và nước mắm gừng làm sao không nhớ cho được. Tôi gọi thêm một tô bún ốc, những con ốc bóng mập trong tô riêu vàng óng mà nhớ đến tất cả những hàng quà năm xưa. Tôi ra thuê taxi, chạy đến các trường cũ. Trường Thanh Quan ở phố Hàng Cót, cổng trường ngay mặt đường, bên trong là một sân rộng, chung quanh là các lớp học hai tầng. Tôi đã thi Tiểu học ở đây, mà bài thuộc lòng tôi đã đọc thi là bài Gió Đầu Mùa của Thạch Lam. Tôi đi qua trường Trưng Vương, nhớ lại những năm đầu học tại đó mà nhớ đến những người bạn cũ, không hiểu họ ở đâu bây giờ. Xe chạy đến Hồ Gươm, tôi vào đền Ngọc Sơn, lúc đứng một mình trên cầu Thê Húc, tôi nhìn ra xa, Tháp Rùa mờ ảo, rặng liễu bên hồ vẫn còn xanh. Tôi nhìn về phía nhà Thủy Tạ, một thời đã là thư viện của thành phố, tôi đã ngồi vừa xem sách vừa nhìn ra măt hồ mơ màng. Phía chéo đối diện là quán Mụ Béo mà tôi có dịp theo các anh họ tôi ăn thịt bò khô ở đó, cay đến suýt soa. Tôi chưa nhìn thấy Mụ Béo béo đến nào mà mụ tự đặt tên quán của mình như thế. Tôi muốn quay lại đường Cổ Ngư một lần nữa, Hè đã qua, hoa phượng không còn nữa nhưng vẫn xôn xao gợi cho tôi những ngày nghỉ hè ở Hà Nội rộn ràng tiếng ve sầu. Tôi xuống đền Quan Thánh và nhớ đến mẹ tôi, mỗi tết đều dắt tôi đi lễ ở đó. Sau khi lễ xong là tôi có dịp đến đứng xoa những ngón chân tượng đồng đen của Thánh để lấy phước. Bây giờ thì tôi phải về thăm lại căn nhà cũ của tôi.

Khi gần đến căn nhà mà tôi ở những năm cuối ở Hà-Nội, tôi nói taxi đỗ lại ở đầu phố. Tôi bước xuống và từ từ đi dọc theo hè phố, hè phố này trước kia tôi đã đi ngày hai buổi đến trường. Hà-Nội năm tôi về thăm vẫn còn nghèo nàn, nhiều khu phố còn vắng người. Phố tôi ở không có gì thay đổi, chỉ thấy cũ đi với thời gian kể từ ngày tôi đi. Tôi đi qua nhà bác tôi, trước kia là lò bánh mì, nay không có bảng hiệu, chắc đã dẹp từ lâu. Tôi dừng lại trước căn nhà mà mẹ tôi và tôi thuê ở mấy chục năm trước, nhìn vào tối om, không trông thấy ai, tôi ngại không muốn vào. Tôi đứng tần ngần bên ngoài, nhìn đường phố xung quanh. Tự nhiên có một cái gì nhắc cho tôi, hình như ngôi nhà hai tầng góc phố ở bên cạnh kia mới là nơi gợi cho tôi những kỷ niệm sâu đậm mà trong bao nhiêu năm tôi đã quên hẳn. Tôi bước đến ngôi nhà đó, cái cửa sổ kia ngày trước lúc nào cũng mở như chờ đón tôi. Tôi đi qua đi lại nhiều lần, nhưng cái cửa ấy hình như đã đóng chặt im lìm. Một bà già đứng trong cổng sau, chắc đã nhìn thấy tôi khá lâu, bước ra hỏi tôi:

-         Cô có phải là cô Tú không?

Tôi nhìn bà trả lời:

      -     Thưa bác, cháu đây ạ!

Bà nhìn lại tôi và nói:

-         Trông cô vẫn thế, không thay đổi.

Tôi cũng nhìn lại bà và như reo lên:

-         Thưa bác, bác có phải là bác Thìn không?

-         Tôi đây.

Tôi vội đến ôm lấy bác rồi nói:

-         Cháu vẫn nhận ra được bác, bác cũng không thay đổi.

Bác mời tôi vào nhà, và quay lại than với tôi:

-         Vất vả lắm cô ơi, cô trông đây này nhà cửa từ khi các cô các cậu đi có được sơn phết lại gì đâu!

Rồi bác quay lại hỏi tôi:

-         Thế còn cậu ấy đâu?

Tôi hỏi lại bác:

     -     Thưa bác, cậu nào ạ?

Bác lưỡng lự, trả lời không hết câu:

-         Cậu ...

Tôi hiểu ý bác, bâng khuâng trả lời:

-         Không đâu bác ạ!

Bác không nhìn tôi, trầm ngâm nói một mình:

-         Thế mà tôi cứ tưởng!

Bác dẫn tôi vào một căn phòng mà tôi nghĩ rằng ngày trước không phải là nơi bác ở. Tôi hỏi bác:

-         Cháu nhớ ngày trước bác ở trên gác mà!

-         Đúng cô ạ, ngày trước tôi ở trên gác, sau này nhà nước phân chia lại hộ, tôi già rồi đi lên đi xuống cầu thang khó khăn, nên xin xuống tầng dưới.

Rồi bác nói thêm:

-         Phòng này chính là phòng cậu ấy ở ngày trước.

Bác nói:

-         Các cô cậu khác đều về thăm lại ngôi nhà này, chỉ có cậu ấy chưa thấy về!

Bác nói với tôi ngồi chơi, để bác đi đun nước pha trà mời tôi. Tôi có dịp ngồi lặng lẽ nhìn quanh gian phòng. Căn phòng khá lớn, thường để cho cả một gia đình ở. Căn phòng này tôi chưa có dịp vào lần nào, nhưng tôi nhớ rõ bàn học của anh kê ngay cửa sổ kia, trông ra đường. Tự nhiên tôi nhớ đến anh, nhớ đến những năm cuối cùng của Hà-Nội, của tôi và của anh.

Thật ra tôi sinh ra ở Hải-phòng, cha tôi mất sớm, để lại cho hai mẹ con tôi một ngôi nhà và vốn liếng sống cũng thong thả. Tôi còn nhớ ngôi nhà đó hai tầng, ở một khu phố mà nhà nào cũng có tường cao ngăn cách nhà này với nhà kia. Nhà ở cách xa đường, mặt trước có tường thấp phía trên là  hàng rào song sắt, một vườn hoa nhỏ và lối đi vào rộng trải sỏi, mà mỗi lần đi qua là mỗi lần sỏi lún xuống kêu lạo sạo và cứ bị những viên sỏi nhỏ nghiến vào chân rất là khó chịu. Cái cửa sắt mỗi lần đi ra đi về là khóa lai. Tôi ở đó với mẹ tôi và một u già. Trong những năm đó tôi không có một người bạn nào, nên mẹ tôi và u già luôn luôn chiều tôi.

Tôi lớn dần, mẹ tôi nghe theo lời bác tôi, cho thuê ngôi nhà đó và dọn về Hà-Nội để mấy người anh họ có thể giúp trông nom tôi trong việc học hành. Mẹ tôi tháng tháng về Hải Phòng thu tiền nhà. Tôi làm quen được với cô bạn gái bằng tuổi tôi cạnh nhà, và tôi bắt đầu để ý đến anh, Gia đình anh cũng ở một căn trong khu nhà đó. Sau này tôi mới biết cô bạn đó là chị họ của anh. Anh hơn chúng tôi hai tuổi, dáng anh cao dong dỏng, trông hiền lành, và lặng lẽ. Thỉnh thoảng, tôi bất chợt thấy anh nhìn tôi, tôi cảm thấy giao động như thấy mình đã lớn.  Tôi nhìn lại anh, tôi thấy trong ánh mắt của anh có một cái gì ngây ngây khác lạ. Tôi sang thăm cô bạn luôn, nhưng ít khi gặp được anh. Ngoài thời giờ ở trường, anh hay đạp xe đi rong chơi với các bạn. Thỉnh thoảng tôi gặp anh, anh và tôi đứng lại nói những chuyện bâng quơ. Nhiều hôm nhìn anh và các bạn anh họp nhau trước cửa nhà để đi chơi xa như Chùa Trầm , chùa Trăm Gian, hay lên Nghi Tàm, Quảng Bá để bơi lội. Tôi cũng háo hức thấy muốn theo anh. Hồi đó tôi bắt đầu mê đọc tiểu thuyết, tôi thường thuê ở một quán sách góc bên ngoài chợ Đồng Xuân. Trong những giấc mơ, tôi thấy anh và tôi giống như những nhân vật trong truyện.

Anh đánh đàn cũng khá hay, anh biết tôi thích mấy bài nổi tiếng thời đó như Dư Âm, Trăng Mờ Bên Suối và Ai Về Sông Tương nên anh thường hay đánh những bài này. Mỗi khi nghe tiếng đàn của anh từ nhà bên vọng sang là tôi biết anh đã về, và hình như mỗi lần như thế tôi đều nghĩ là anh muốn cho tôi biết là anh đã có mặt ở nhà. Tôi muốn thấy anh nên thường tìm cớ đi qua đi lại khung cửa sổ nơi anh đặt bàn học nhìn ra đường. Tôi nhìn qua song thấy anh, anh ngước mắt nhìn lại tôi mỉn cười lặng lẽ. Cứ như thế, nhưng chưa bao giờ tôi dám dừng lại bên cửa sổ để nói chuyện với anh.

Mùa Hè cuối cùng ở Hà-Nội, đất nước chia đôi. Mẹ tôi đem tôi về Hải phòng, tìm cách bán ngôi nhà đó để đi vào Nam. Ai cũng lo chạy, không có ai còn lòng nào mà mua nhà nữa. Gần hai tháng trời, không có bạn nói chuyện, tôi nhớ đến anh và tìm cớ nói với mẹ tôi để về Hà Nội thăm gia đình bác tôi. Tôi không ở nhà bác tôi, mà tôi lại tìm cách ở lại nhà người chị họ của anh, khiến bà bác anh nói xa nói gần cốt để cho tôi nghe: Con gái gì mà như thế! Tôi không để ý đến lời của bác anh, tôi chỉ muốn nhìn thấy anh, mà không có dịp vì anh bận rộn đi tiễn các bạn suốt ngày. Tôi thấy mọi người xung quanh đều sửa soạn hành lý để vào Nam mà gia đình anh không thấy động tĩnh gì cả. Về lại Hải Phòng, mẹ tôi bảo tôi phải sửa soạn ngay để tuần sau là phải theo gia đình bác tôi vào Nam. Ngôi nhà đành phài bỏ lại. Trước khi đi, tôi viết vội cho anh một lá thư, tặng anh một tấm hình của tôi và hẹn gặp anh ở Saigon. Sau này tôi biết được tin anh đã xuống Hải Phòng tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi.

Hai tháng sau khi Hà Nôi đóng cửa, anh tìm lại được tôi ở Saigon. Gia đình anh đã theo sở ra miền Trung, anh ở lại theo trường và ở với bà bác anh. Còn mẹ tôi và tôi ở chung với gia đình bác tôi. Lúc đầu anh hay đến thăm tôi, anh và tôi ngồi hàng giờ ở phòng khách nhỏ hẹp, vẫn nói những chuyện bâng quơ như ngày trước. Những lần sau anh thấy làm mọi người trong nhà khó chịu vì căn phòng chật chội, anh không đến nữa. Anh và tôi không ai nghĩ đến chuyện hẹn nhau ở một nơi nào đó để có thể được tự do hơn. Anh không đến thì tôi lại tìm cớ đến thăm cô bạn chị họ của anh, nhưng thỉnh thoảng mới găp được anh, anh vẫn có cái tính hay đi chơi với các bạn.

Lúc đó, bác tôi và mấy người anh chị họ của tôi luôn luôn lo lắng cho mẹ con tôi không biết làm gì để sống ở cái thành phố này. Mẹ tôi thì yếu đuối, suốt đời ở trong nhà, còn tôi thì là con nhà chiều. Vốn liếng còn lại cũng tiêu gần hết. Hè năm đó anh đỗ Tú Tài I, anh về thăm gia đình ở ngoài Trung. Cũng trong thời gian đó, một người anh họ của tôi tốt nghiệp trường võ bị Đà Lạt đem về một người bạn cùng khóa. Như một sự xếp đặt từ trước, tôi được giới thiệu với người đó. Lúc đó tôi đã mười tám tuổi. Tôi nhìn anh thấy anh ta nghiêm trang và trưởng thành trong bộ quân phục sĩ quan. Sau đó anh ta đến thăm tôi luôn, và cả nhà thường cố ý dành cho tôi và anh phòng khách để có chỗ nói chuyện riêng với nhau. Chỉ ít lâu sau, anh thưa chuyện với mẹ tôi và ngỏ lời xin cưới tôi trước khi nhận lệnh đến đơn vị mới. Dĩ nhiên là mẹ tôi ưng thuận.  Tôi lấy chồng, mẹ tôi theo tôi cùng anh lên một tỉnh của vủng cao nguyên. Tôi sinh con, bận rộn việc gia đình. Năm này qua năm khác, tôi sống yên ổn với hạnh phúc mới, tôi quên luôn hẳn anh.

Thế rồi, không ngờ năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, chồng tôi bỏ mình trong một trận đánh, và thật là một sự lạ lùng tôi tìm được đường vượt biển để đưa được mấy đứa con đến Mỹ. Lần này các con tôi đưa tôi trở lại nơi chúng đã sinh ra, đến thăm mộ của chồng tôi ở Saigon, tôi đã khóc quá chừng, đứng dậy không nổi, các con tôi dỗ dành tôi mãi và sau cùng phải dìu tôi ra xe.  Hôm nay, ở Hà Nội tôi lại có dịp tìm về quá khứ của tuổi học trò.

Tôi không hiểu cái tình của tôi đối với anh ngày tháng đó gọi là một cái tình như thế nào, chắc đó là mối tình học trò như bong bóng giữa mùa mưa tan lúc nào không hay, hay là tôi đã sống như những câu truyện trong những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mà tôi đã đọc thời đó. Tôi không còn nghe thấy tiếng của bác Thìn mời tôi uống nước, chỉ nghe mơ hồ có tiếng hát ở đâu đó:

Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều

Hà-Nội ơi, nào biết ra sao bây giờ

Ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa

Tiếng hát lại tiếp theo, hình như có tiếng đàn của anh hòa nhịp theo:

Tôi xa Hà-Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say

Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy

Bạn lòng ơi, ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng

Nay khói tơ duyên lìa tan.

Tiếng hát và tiếng đàn xa dần. Trong cái yên lặng của khung cảnh ngày xưa, tôi bỗng nhiên cảm thấy như mình trở lại thành một cô gái mười sáu của một Hà-Nội năm nào.

* Lời ca Nỗi Lòng Người Đi của nhạc sĩ Anh Bằng

 NGUYỄN CÔNG KHANH

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 131545)
Đọc truyện ngắn “ Trả lại tiền ” in trong tập truyện “ Vài mẩu chuyện ” của nhà văn Cao Xuân Huy (tạp chí Văn Học xuất bản, 2010), tôi không khỏi mỉm cười bởi cái phong cách khôi hài đen của câu chuyện—truyện của Cao Xuân Huy đa phần đều như thế...
12 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 106214)
LTS: Bài phỏng vấn nhà thơ Đặng Hiền được thực hiện bởi nhà thơ Go Hyeong Ryeol Tổng biên tập tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia ) trong số mùa Đông 2009. Phần chuyển ngữ do Giáo sư Tiến sĩ Yang Soo Bae thuộc đại học Pusan University of Foreign Studies tại Hàn Quốc biên dịch. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quí văn hữu và độc giả Tạp Chí Hợp Lưu.
05 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 225207)
LTS: ... Nhân dịp cuộc đàm phán Việt-Hoa về Hoàng Sa và Trường Sa đang khởi sự - mà theo chúng tôi Việt Nam nên từ chối ký bất cứ một văn kiện tay đôi nào với Bắc Kinh,và cương quyết đòi hỏi một hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, để tránh ô danh đời đời trong lịch sử dân tộc như cha con Hồ Quí Ly, Mạc Đăng Dung... xin trân trọng giới thiệu với quí độc giả thân quí những giải đáp thuần túy chuyên nghiệp về sử học của sử gia Vũ Ngự Chiêu. TẠP CHÍ HỢP LƯU
31 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 110893)
ĐNV_5: Nếu một nhà xuất bản trong nước nhìn ra được giá trị thực của “ Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch” , và họ muốn in để phát hành trong nước, và điều kiện tiên quyết là phải có giấy phép. Mà để có được giấy phép xuất bản, họ phải "biên tập" lại nhiều đoạn, nhiều câu có tính chất "nhạy cảm" theo cách hiểu của nhà xuất bản, và trường hợp xấu nhất, là phải cắt đi một số chỗ. Vì nếu không, dù là một người có tâm huyết với đất nước hay một nhà xuất bản có nặng lòng với vấn đề chung, cũng không thể xuất bản được. Vậy quyết định của anh trong vấn đề này như thế nào, và tại sao?
08 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 142490)
Đ êm Sài Gòn đứng đường bơ vơ Dòng người mênh mang không ngày yên lặng Còn con đường nào cho em Mộng mơ là trò chơi xa xỉ
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 110053)
III. TUYÊN CÁO CHUNG 16/6/1963: Do áp lực Mỹ, từ giữa tháng 5/1963, Diệm đã gặp lãnh tụ Phật Giáo để thảo luận về 5 đòi hỏi ngày 10/5. Tuy nhiên, chế độ chỉ muốn kéo dài thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc tranh đấu.
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 121987)
IV. GIỌT NƯỚC LÀM TRÀN LY: Sau khi Nolting rời Việt Nam, anh em Diệm-Nhu quyết chào đón tân Đại sứ Lodge bằng vài món quà ngoạn mục. Hai món quà lớn nhất là cuộc tổng tấn công các chùa trên toàn quốc và công khai tiếp xúc với sứ giả Hà Nội.
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 119249)
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 là đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này. Một trong những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa hoàn toàn giải mật, và số người được tiếp cận tư liệu văn khố Đệ nhất Cộng Hòa không nhiều.
05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 128035)
( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto ) LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.
30 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 105464)
Khi chúng ta đã thôi nhau anh mới chợt nhận ra Rằng mùa thu đổi sắc lá thành màu mái tóc em Tròn như một vòng trong xoắn ốc như bánh xe trong bánh xe Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3806)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13242)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19626)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1572)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1730)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2241)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2373)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1422)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2189)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1909)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1950)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1329)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2370)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2548)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2329)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 217)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 765)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1054)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6382)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38837)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1423)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13874)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6877)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10641)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9832)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9954)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10757)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11099)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10334)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi