- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HÀ NỘI NĂM TÔI MƯỜI SÁU

09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 2746)
Hồ Gươm- Hà Nội - photo Hồng Sơn
Hồ Gươm-Hà Nội - Photo Hồng Sơn



HÀ NỘI NĂM TÔI MƯỜI SÁU
Truyện ngắn

NGUYỄN CÔNG KHANH

Viết cho một người lại nhớ một người.



Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.

Tối hôm đó tôi lấy cớ kêu mệt, muốn có một ngày nghỉ và có một chút thời giờ để đến thăm một người bạn cũ. Các con tôi bằng lòng, sáng hôm sau xe của hãng du lịch đến đón các con tôi sớm và tôi có một ngày sống riêng với một thành phố của một thời mới lớn. Tôi sửa soạn xong, mở tủ lạnh, định ăn qua loa một thứ gì trước khi đi. Cái tủ lạnh nhỏ đầy ứ những thức ăn và hoa quả. Mấy ngày trước, gặp cái gì gợi nhớ tôi cũng mua, rẻ quá, nên mua nhiều tưởng sẽ ăn hết. Tôi mua chục na, chục hồng, mấy kí cốm Vòng với chuối chín trứng cuốc và cả một mẻ sấu chín. Lại còn đủ các thứ bánh, ít nhất là mỗi thứ một cái. Những ngày nào nếu không đi du ngoạn, các con tôi ba bữa đều kéo tôi đi ăn bên ngoài, thành thử mọi thứ như vẫn còn nguyên. Tôi chợt nhớ ra tôi còn mấy thứ quà Hà-nội phải ăn trước khi rời thành phố này. Tôi đóng tủ lạnh và ra khỏi khách sạn.

Bây giờ là mùa Thu, trời hơi se lạnh, phố vẫn còn vắng, Sáng sớm, trong khu phố cổ, nhiều cửa hàng chưa mở, thỉnh thoảng có những người quang gánh, hay đội thúng trên đầu mang hàng lặng lẽ vội vàng đi cho kịp buổi chợ. Có lúc tôi đi ra gần giữa đường, đứng nhìn hai hàng cây Bàng hai bên đường, lá đã đổi mầu và đã có vài cái rụng trên lề đường mà nhớ tới những cây Bàng trong sân trường hồi nhỏ. Mùa Xuân, mùa Hè lá bàng xanh mát màu ngọc bích. Mùa Thu lá đổi sang màu đỏ tía rồi sang mầu vàng. Mùa Đông lá rụng đầy, mỗi khi có trận gió thổi, những lá bàng chạy theo nhau quanh sân trường. Chúng tôi thường nhặt những quả bàng khô, lấy đá đập cho vỡ để ăn cái hạt ở bên trong, thấy bùi bùi. Cho đến nay, mỗi khi nhớ đến những cây bàng thời thơ ấu vẫn thấy bồi hồi.

Tôi vào chợ Hàng Da, tìm một hàng bún ốc gọi một đĩa ốc hương, vỏ vàng óng, mùi lá chanh và nước mắm gừng làm sao không nhớ cho được. Tôi gọi thêm một tô bún ốc, những con ốc bóng mập trong tô riêu vàng óng mà nhớ đến tất cả những hàng quà năm xưa. Tôi ra thuê taxi, chạy đến các trường cũ. Trường Thanh Quan ở phố Hàng Cót, cổng trường ngay mặt đường, bên trong là một sân rộng, chung quanh là các lớp học hai tầng. Tôi đã thi Tiểu học ở đây, mà bài thuộc lòng tôi đã đọc thi là bài Gió Đầu Mùa của Thạch Lam. Tôi đi qua trường Trưng Vương, nhớ lại những năm đầu học tại đó mà nhớ đến những người bạn cũ, không hiểu họ ở đâu bây giờ. Xe chạy đến Hồ Gươm, tôi vào đền Ngọc Sơn, lúc đứng một mình trên cầu Thê Húc, tôi nhìn ra xa, Tháp Rùa mờ ảo, rặng liễu bên hồ vẫn còn xanh. Tôi nhìn về phía nhà Thủy Tạ, một thời đã là thư viện của thành phố, tôi đã ngồi vừa xem sách vừa nhìn ra măt hồ mơ màng. Phía chéo đối diện là quán Mụ Béo mà tôi có dịp theo các anh họ tôi ăn thịt bò khô ở đó, cay đến suýt soa. Tôi chưa nhìn thấy Mụ Béo béo đến nào mà mụ tự đặt tên quán của mình như thế. Tôi muốn quay lại đường Cổ Ngư một lần nữa, Hè đã qua, hoa phượng không còn nữa nhưng vẫn xôn xao gợi cho tôi những ngày nghỉ hè ở Hà Nội rộn ràng tiếng ve sầu. Tôi xuống đền Quan Thánh và nhớ đến mẹ tôi, mỗi tết đều dắt tôi đi lễ ở đó. Sau khi lễ xong là tôi có dịp đến đứng xoa những ngón chân tượng đồng đen của Thánh để lấy phước. Bây giờ thì tôi phải về thăm lại căn nhà cũ của tôi.

Khi gần đến căn nhà mà tôi ở những năm cuối ở Hà-Nội, tôi nói taxi đỗ lại ở đầu phố. Tôi bước xuống và từ từ đi dọc theo hè phố, hè phố này trước kia tôi đã đi ngày hai buổi đến trường. Hà-Nội năm tôi về thăm vẫn còn nghèo nàn, nhiều khu phố còn vắng người. Phố tôi ở không có gì thay đổi, chỉ thấy cũ đi với thời gian kể từ ngày tôi đi. Tôi đi qua nhà bác tôi, trước kia là lò bánh mì, nay không có bảng hiệu, chắc đã dẹp từ lâu. Tôi dừng lại trước căn nhà mà mẹ tôi và tôi thuê ở mấy chục năm trước, nhìn vào tối om, không trông thấy ai, tôi ngại không muốn vào. Tôi đứng tần ngần bên ngoài, nhìn đường phố xung quanh. Tự nhiên có một cái gì nhắc cho tôi, hình như ngôi nhà hai tầng góc phố ở bên cạnh kia mới là nơi gợi cho tôi những kỷ niệm sâu đậm mà trong bao nhiêu năm tôi đã quên hẳn. Tôi bước đến ngôi nhà đó, cái cửa sổ kia ngày trước lúc nào cũng mở như chờ đón tôi. Tôi đi qua đi lại nhiều lần, nhưng cái cửa ấy hình như đã đóng chặt im lìm. Một bà già đứng trong cổng sau, chắc đã nhìn thấy tôi khá lâu, bước ra hỏi tôi:

-         Cô có phải là cô Tú không?

Tôi nhìn bà trả lời:

      -     Thưa bác, cháu đây ạ!

Bà nhìn lại tôi và nói:

-         Trông cô vẫn thế, không thay đổi.

Tôi cũng nhìn lại bà và như reo lên:

-         Thưa bác, bác có phải là bác Thìn không?

-         Tôi đây.

Tôi vội đến ôm lấy bác rồi nói:

-         Cháu vẫn nhận ra được bác, bác cũng không thay đổi.

Bác mời tôi vào nhà, và quay lại than với tôi:

-         Vất vả lắm cô ơi, cô trông đây này nhà cửa từ khi các cô các cậu đi có được sơn phết lại gì đâu!

Rồi bác quay lại hỏi tôi:

-         Thế còn cậu ấy đâu?

Tôi hỏi lại bác:

     -     Thưa bác, cậu nào ạ?

Bác lưỡng lự, trả lời không hết câu:

-         Cậu ...

Tôi hiểu ý bác, bâng khuâng trả lời:

-         Không đâu bác ạ!

Bác không nhìn tôi, trầm ngâm nói một mình:

-         Thế mà tôi cứ tưởng!

Bác dẫn tôi vào một căn phòng mà tôi nghĩ rằng ngày trước không phải là nơi bác ở. Tôi hỏi bác:

-         Cháu nhớ ngày trước bác ở trên gác mà!

-         Đúng cô ạ, ngày trước tôi ở trên gác, sau này nhà nước phân chia lại hộ, tôi già rồi đi lên đi xuống cầu thang khó khăn, nên xin xuống tầng dưới.

Rồi bác nói thêm:

-         Phòng này chính là phòng cậu ấy ở ngày trước.

Bác nói:

-         Các cô cậu khác đều về thăm lại ngôi nhà này, chỉ có cậu ấy chưa thấy về!

Bác nói với tôi ngồi chơi, để bác đi đun nước pha trà mời tôi. Tôi có dịp ngồi lặng lẽ nhìn quanh gian phòng. Căn phòng khá lớn, thường để cho cả một gia đình ở. Căn phòng này tôi chưa có dịp vào lần nào, nhưng tôi nhớ rõ bàn học của anh kê ngay cửa sổ kia, trông ra đường. Tự nhiên tôi nhớ đến anh, nhớ đến những năm cuối cùng của Hà-Nội, của tôi và của anh.

Thật ra tôi sinh ra ở Hải-phòng, cha tôi mất sớm, để lại cho hai mẹ con tôi một ngôi nhà và vốn liếng sống cũng thong thả. Tôi còn nhớ ngôi nhà đó hai tầng, ở một khu phố mà nhà nào cũng có tường cao ngăn cách nhà này với nhà kia. Nhà ở cách xa đường, mặt trước có tường thấp phía trên là  hàng rào song sắt, một vườn hoa nhỏ và lối đi vào rộng trải sỏi, mà mỗi lần đi qua là mỗi lần sỏi lún xuống kêu lạo sạo và cứ bị những viên sỏi nhỏ nghiến vào chân rất là khó chịu. Cái cửa sắt mỗi lần đi ra đi về là khóa lai. Tôi ở đó với mẹ tôi và một u già. Trong những năm đó tôi không có một người bạn nào, nên mẹ tôi và u già luôn luôn chiều tôi.

Tôi lớn dần, mẹ tôi nghe theo lời bác tôi, cho thuê ngôi nhà đó và dọn về Hà-Nội để mấy người anh họ có thể giúp trông nom tôi trong việc học hành. Mẹ tôi tháng tháng về Hải Phòng thu tiền nhà. Tôi làm quen được với cô bạn gái bằng tuổi tôi cạnh nhà, và tôi bắt đầu để ý đến anh, Gia đình anh cũng ở một căn trong khu nhà đó. Sau này tôi mới biết cô bạn đó là chị họ của anh. Anh hơn chúng tôi hai tuổi, dáng anh cao dong dỏng, trông hiền lành, và lặng lẽ. Thỉnh thoảng, tôi bất chợt thấy anh nhìn tôi, tôi cảm thấy giao động như thấy mình đã lớn.  Tôi nhìn lại anh, tôi thấy trong ánh mắt của anh có một cái gì ngây ngây khác lạ. Tôi sang thăm cô bạn luôn, nhưng ít khi gặp được anh. Ngoài thời giờ ở trường, anh hay đạp xe đi rong chơi với các bạn. Thỉnh thoảng tôi gặp anh, anh và tôi đứng lại nói những chuyện bâng quơ. Nhiều hôm nhìn anh và các bạn anh họp nhau trước cửa nhà để đi chơi xa như Chùa Trầm , chùa Trăm Gian, hay lên Nghi Tàm, Quảng Bá để bơi lội. Tôi cũng háo hức thấy muốn theo anh. Hồi đó tôi bắt đầu mê đọc tiểu thuyết, tôi thường thuê ở một quán sách góc bên ngoài chợ Đồng Xuân. Trong những giấc mơ, tôi thấy anh và tôi giống như những nhân vật trong truyện.

Anh đánh đàn cũng khá hay, anh biết tôi thích mấy bài nổi tiếng thời đó như Dư Âm, Trăng Mờ Bên Suối và Ai Về Sông Tương nên anh thường hay đánh những bài này. Mỗi khi nghe tiếng đàn của anh từ nhà bên vọng sang là tôi biết anh đã về, và hình như mỗi lần như thế tôi đều nghĩ là anh muốn cho tôi biết là anh đã có mặt ở nhà. Tôi muốn thấy anh nên thường tìm cớ đi qua đi lại khung cửa sổ nơi anh đặt bàn học nhìn ra đường. Tôi nhìn qua song thấy anh, anh ngước mắt nhìn lại tôi mỉn cười lặng lẽ. Cứ như thế, nhưng chưa bao giờ tôi dám dừng lại bên cửa sổ để nói chuyện với anh.

Mùa Hè cuối cùng ở Hà-Nội, đất nước chia đôi. Mẹ tôi đem tôi về Hải phòng, tìm cách bán ngôi nhà đó để đi vào Nam. Ai cũng lo chạy, không có ai còn lòng nào mà mua nhà nữa. Gần hai tháng trời, không có bạn nói chuyện, tôi nhớ đến anh và tìm cớ nói với mẹ tôi để về Hà Nội thăm gia đình bác tôi. Tôi không ở nhà bác tôi, mà tôi lại tìm cách ở lại nhà người chị họ của anh, khiến bà bác anh nói xa nói gần cốt để cho tôi nghe: Con gái gì mà như thế! Tôi không để ý đến lời của bác anh, tôi chỉ muốn nhìn thấy anh, mà không có dịp vì anh bận rộn đi tiễn các bạn suốt ngày. Tôi thấy mọi người xung quanh đều sửa soạn hành lý để vào Nam mà gia đình anh không thấy động tĩnh gì cả. Về lại Hải Phòng, mẹ tôi bảo tôi phải sửa soạn ngay để tuần sau là phải theo gia đình bác tôi vào Nam. Ngôi nhà đành phài bỏ lại. Trước khi đi, tôi viết vội cho anh một lá thư, tặng anh một tấm hình của tôi và hẹn gặp anh ở Saigon. Sau này tôi biết được tin anh đã xuống Hải Phòng tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi.

Hai tháng sau khi Hà Nôi đóng cửa, anh tìm lại được tôi ở Saigon. Gia đình anh đã theo sở ra miền Trung, anh ở lại theo trường và ở với bà bác anh. Còn mẹ tôi và tôi ở chung với gia đình bác tôi. Lúc đầu anh hay đến thăm tôi, anh và tôi ngồi hàng giờ ở phòng khách nhỏ hẹp, vẫn nói những chuyện bâng quơ như ngày trước. Những lần sau anh thấy làm mọi người trong nhà khó chịu vì căn phòng chật chội, anh không đến nữa. Anh và tôi không ai nghĩ đến chuyện hẹn nhau ở một nơi nào đó để có thể được tự do hơn. Anh không đến thì tôi lại tìm cớ đến thăm cô bạn chị họ của anh, nhưng thỉnh thoảng mới găp được anh, anh vẫn có cái tính hay đi chơi với các bạn.

Lúc đó, bác tôi và mấy người anh chị họ của tôi luôn luôn lo lắng cho mẹ con tôi không biết làm gì để sống ở cái thành phố này. Mẹ tôi thì yếu đuối, suốt đời ở trong nhà, còn tôi thì là con nhà chiều. Vốn liếng còn lại cũng tiêu gần hết. Hè năm đó anh đỗ Tú Tài I, anh về thăm gia đình ở ngoài Trung. Cũng trong thời gian đó, một người anh họ của tôi tốt nghiệp trường võ bị Đà Lạt đem về một người bạn cùng khóa. Như một sự xếp đặt từ trước, tôi được giới thiệu với người đó. Lúc đó tôi đã mười tám tuổi. Tôi nhìn anh thấy anh ta nghiêm trang và trưởng thành trong bộ quân phục sĩ quan. Sau đó anh ta đến thăm tôi luôn, và cả nhà thường cố ý dành cho tôi và anh phòng khách để có chỗ nói chuyện riêng với nhau. Chỉ ít lâu sau, anh thưa chuyện với mẹ tôi và ngỏ lời xin cưới tôi trước khi nhận lệnh đến đơn vị mới. Dĩ nhiên là mẹ tôi ưng thuận.  Tôi lấy chồng, mẹ tôi theo tôi cùng anh lên một tỉnh của vủng cao nguyên. Tôi sinh con, bận rộn việc gia đình. Năm này qua năm khác, tôi sống yên ổn với hạnh phúc mới, tôi quên luôn hẳn anh.

Thế rồi, không ngờ năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, chồng tôi bỏ mình trong một trận đánh, và thật là một sự lạ lùng tôi tìm được đường vượt biển để đưa được mấy đứa con đến Mỹ. Lần này các con tôi đưa tôi trở lại nơi chúng đã sinh ra, đến thăm mộ của chồng tôi ở Saigon, tôi đã khóc quá chừng, đứng dậy không nổi, các con tôi dỗ dành tôi mãi và sau cùng phải dìu tôi ra xe.  Hôm nay, ở Hà Nội tôi lại có dịp tìm về quá khứ của tuổi học trò.

Tôi không hiểu cái tình của tôi đối với anh ngày tháng đó gọi là một cái tình như thế nào, chắc đó là mối tình học trò như bong bóng giữa mùa mưa tan lúc nào không hay, hay là tôi đã sống như những câu truyện trong những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mà tôi đã đọc thời đó. Tôi không còn nghe thấy tiếng của bác Thìn mời tôi uống nước, chỉ nghe mơ hồ có tiếng hát ở đâu đó:

Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều

Hà-Nội ơi, nào biết ra sao bây giờ

Ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa

Tiếng hát lại tiếp theo, hình như có tiếng đàn của anh hòa nhịp theo:

Tôi xa Hà-Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say

Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy

Bạn lòng ơi, ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng

Nay khói tơ duyên lìa tan.

Tiếng hát và tiếng đàn xa dần. Trong cái yên lặng của khung cảnh ngày xưa, tôi bỗng nhiên cảm thấy như mình trở lại thành một cô gái mười sáu của một Hà-Nội năm nào.

* Lời ca Nỗi Lòng Người Đi của nhạc sĩ Anh Bằng

 NGUYỄN CÔNG KHANH

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1091)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1273)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1154)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1473)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1353)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1537)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1928)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2019)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1815)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1805)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10492)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17320)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16388)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1537)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2018)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1977)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2764)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1272)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1353)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1813)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1556)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1091)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1470)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1927)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1805)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1154)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3283)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3272)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3823)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2375)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14013)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30124)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36256)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11741)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13139)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3045)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4362)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4314)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4801)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5379)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8467)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7867)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.