- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

MÙA HÈ CŨNG HẾT

01 Tháng Chín 202510:04 SA(Xem: 14623)

Mầu Nước Trời Hè - CAM TAM

Màu Nước Trời Hè – Tranh Cẩm Tâm



Trần C. Trí

MÙA HÈ CŨNG HẾT

Chẳng biết học trò ở Cali có để ý không, khi những cây jacaranda bắt đầu nở rộ những chùm hoa mặn mà, đằm thắm, đó là dấu hiệu của mùa thi cuối khoá ở các trường học Mỹ, và một mùa hè rực rỡ đang đón chờ chúng phía trước. Một người Việt nào đó đã gọi tên loài cây này là phượng tím, nghe hay hay và gần gũi, gợi nhớ đến loài phượng đỏ của chúng ta ở quê nhà. Vốn là người ưa để ý đến chữ nghĩa, tôi lẩn thẩn tra cứu xem cây phượng vĩ trong tiếng Anh nói làm sao. Hoá ra—ngoài những tên khoa học khó nhớ—hoa phượng còn có nhiều tên bình dân như flamboyant flower, royal poinciana, peacock flower, flame of the forest và phoenix flower (tên này nghe giống như trong tiếng Việt!)

Cali không có phượng đỏ, nhưng cũng có ai đó mang được ở đâu về trồng. Tôi nhớ có lần đi ngang một căn nhà, hình như là trên đường Lampson, thành phố Garden Grove, thấy trước sân có một cây phượng vĩ, thích thật là thích. Mười mấy năm về trước, trong một dịp qua Florida chơi, ba tôi nâng niu mang về được một cây phượng vĩ non, cao chừng vài tấc. Ông trồng nó trước sân nhà chị tôi. Khi đã cao bằng một người lớn tầm thước, cây phượng hiếm có này bỗng dưng khô héo đi rồi chết, mặc dầu vẫn được tưới nước hằng ngày. Ba tôi, chị tôi và tôi, ai cũng buồn và tiếc không thể tả.

Trong những lần đi chơi vào mùa hè ở Honolulu, Hawaii, lần nào tôi cũng rưng rưng xúc động khi thấy thành phố tràn ngập loài hoa đỏ thân quen này. Những ngày có mưa nhỏ, thành phố thơm nồng mùi hơi đất bốc lên dưới ánh nắng hè, trong cái nóng oi bức, ẩm thấp của miền nhiệt đới. Và những bông hoa phượng đỏ trong các tàng lá xanh mướt hai bên đường càng làm tôi bâng khuâng, thổn thức nhớ thành phố của tôi ở quê nhà năm cũ.

Và tôi nhớ lại mùa hè năm ấy...

Mùa hè ở quê nhà, bên cạnh những bông hoa phượng vĩ đỏ chói chang, còn kèm theo tiếng ve sầu râm ran không dứt. Cũng là mùa hè, nhưng không phải ai cũng có tâm trạng giống nhau. Có kẻ thốt lên sung sướng “Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!” 1 Ngược lại, chắc cũng không thiếu người rên rỉ “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn...” 2 Tôi cũng có một nỗi buồn mùa hè đáng nhớ... Mùa hè của tôi năm ấy là tổng hợp của một công thức... phi toán học của tôi như sau: Vui > Buồn > Vui > Buồn = Buồn.

Năm đó, tôi học xong đại học, bắt đầu một mùa hè bất tuyệt, bởi sẽ không còn cắp sách đến trường, sẽ không còn chờ đợi mùa hè, niềm mong đợi hồn nhiên của tuổi học trò. Tuy vậy, vẫn còn cảnh bạn bè bùi ngùi chia tay nhau, mỗi đứa sẽ thật sự bước vào cuộc sống của người lớn, với công việc, với trách nhiệm trên bước đường đời trước mặt. Năm học đó, tôi tìm thấy được một niềm vui, nhỏ thôi, mong manh thôi, vì đó chỉ mới là một tình cảm đầu đời, hết sức nhẹ nhàng, với Bình, anh chàng học cùng ngành tiếng Anh với tôi suốt bốn năm đại học. Trong buổi liên hoan cuối khoá, sau lễ phát bằng tốt nghiệp, tôi chỉ thoáng buồn một chút, vì nghĩ rằng còn thiếu gì dịp để Bình và tôi gặp nhau, tuy không còn đi học nữa.

Suốt hai năm cuối ở đại học, Bình và tôi, ngoài những lúc gặp nhau trong lớp, còn hẹn nhau đi ăn chè hay uống cà-phê, lúc thì trong khuôn viên đại học, khi thì trong những quán nhỏ, thơ mộng trong thành phố. Những lúc không gặp nhau thì lại đem những mẩu giấy nhỏ đã chuồi vào tay cho nhau lúc gặp mặt, đọc và cười một mình ở nhà với những lời lẽ bóng gió, ỡm ờ viết cho nhau trên giấy. Những lúc khác, chúng tôi lại thường đạp xe sóng đôi bên nhau dọc theo con đường biển lộng gió, vừa hít hà mùi đại dương ngào ngạt, vừa khúc khích nói cho nhau nghe những little nothings, một trong những từ ngữ dễ thương mà chúng tôi học được từ các lớp tiếng Anh của mình.

Phải định nghĩa tình cảm của Bình và tôi làm sao đây? Tuy không nói ra, chắc cả hai chúng tôi cùng nghĩ rằng chúng tôi đã đi quá tình bạn một chút, nhưng cũng chưa phải đã đến tình yêu. Hay nói theo định nghĩa của Byron, thi sĩ trữ tình người Anh, “Tình bạn là tình yêu không có cánh” 3, có lẽ là chúng tôi đang ở chỗ lập lờ đó. Tuy vậy, chắc tôi là người lãng mạn hơn Bình, đã thầm cho cảm xúc của mình đi xa hơn thế nữa. Chẳng vậy mà những khi ngồi mơ màng nghe nhạc ở quán Chiều Tím, tôi vẫn thường ngất ngây với mấy câu hát thật tình tứ từ trong cassette vang ra “C’est un bon roman/C’est une belle histoire/C’est une romance d’aujourd’hui...4 Tôi nghĩ, nếu Bình mà biết được những ý nghĩ thầm kín này của mình thì xấu hổ đến chết đi được.

Những ngày đầu của mùa hè đặc biệt này, có lẽ người nào cũng có những cảm xúc lẫn lộn, vừa thấy thoải mái sau mấy năm dài học tập, vừa thấy trống trải với ý nghĩ, “Rồi kế tiếp là gì đây?” Không biết bạn bè tôi thì sao, nhưng tôi thì tự cho mình được nghỉ ngơi một thời gian trước khi bắt đầu chạy khắp nơi để xin việc làm. Cả tuần nay Bình và tôi không gặp nhau, tôi cũng không thấy thiếu vắng, vì nghĩ anh cũng đang bận rộn trải qua một giai đoạn mới mẻ trong cuộc sống như mình.

Nhưng qua đến tuần thứ nhì, tôi cũng không nghe tăm hơi gì của Bình. Sáng thứ Ba, Ngọc Mai chạy đến nhà tôi như một cơn lốc, báo tin:

“Ái Liên, bồ biết gì chưa? Cả nhà anh chàng Bình vượt biên hết rồi!”

Tôi sững sờ. Ngọc Mai líu lo nói thêm một thôi một hồi, nhưng tôi không còn nghe và hiểu gì nữa. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là sao Bình ra đi mà không nói cho tôi biết, nhưng một lúc sau bình tĩnh lại, tôi thấy thông cảm cho anh, vì chuyện hệ trọng như vậy làm sao có thể tiết lộ cho người ngoài được. Nhà Ngọc Mai ở cùng xóm với Bình nên cô biết là phải.

Nhiều phút im lặng nặng nề trôi qua, cuối cùng tôi mới thẫn thờ lên tiếng:

“Thêm một người bạn của tụi mình đã bỏ lại đất nước tội nghiệp này, Ngọc Mai ơi!”

Lúc nói câu đó, chắc tôi nhìn thiểu não lắm, có lẽ Ngọc Mai nghĩ người “tội nghiệp” mới là tôi chứ không ai khác. Cô biết rõ tình bạn thân mật giữa Bình và tôi nên mới báo cho tôi là người đầu tiên biết cái tin nóng hổi và… buồn da diết này. Để tôi khuây khoả, Ngọc Mai rủ tôi ra chợ ăn chè. Trời đang nóng bức, người lại đang buồn, thưởng thức ly chè đá mát rượi với một người bạn, hy vọng có thể được chút gì an ủi, tôi nghĩ vậy. Hai đứa im lặng đạp xe bên nhau qua những con đường khá vắng vẻ. Tiếng ve sầu râm ran, vốn đã buồn, hôm nay tôi nghe càng thêm nẫu ruột. Nhìn những hàng phượng vĩ lá xanh ngát và hoa đỏ thắm hai bên đường, tôi ngỡ như mỗi bông hoa là một giọt nước mắt mùa hè, khóc cho một người vừa ra đi không biết bao giờ trở lại.

Sau hôm ấy, ngày nào tôi cũng thơ thẩn đạp xe một mình trên con đường biển quen thuộc mà trước đây Bình và tôi vẫn đi qua. Tôi tưởng tượng Bình vẫn im lặng đạp xe bên cạnh tôi, chỉ vì tôi chẳng ngoảnh qua nhìn nên không thấy Bình đó thôi. Tôi mỉm một nụ cười buồn, cố giữ trong đầu hình ảnh Bình đang chậm rãi đạp xe, cố nhìn thẳng trước mặt, nhất định không quay qua nhìn để khỏi phải… không thấy ai cả.

Tôi đạp xe một mình dạo đường biển như vậy cũng đã được cả tuần nay. Một buổi chiều, trời tương đối mát sau mấy hôm nóng bức, đang đạp những vòng xe không hồn, tôi chợt giật mình nghe có tiếng người đi bên cạnh nói:

“Chào Ái Liên! Nghỉ hè vui không?”

“Dạ, thầy Ngữ! Chào thầy!” Tôi lúng túng quá, không nói thêm được gì nữa.

Thầy Ngữ là thầy dạy tiếng Đức của tôi ở đại học. Thầy trò chúng tôi tiếp tục đạp xe sóng đôi với nhau, và thầy Ngữ hỏi tôi nhiều thứ mà tôi không còn nhớ là những gì. Tôi chỉ nhớ là mình cứ, “dạ”, rồi “dạ, không”, rồi “dạ, đúng”, rồi “dạ, đâu có”... sau từng câu hỏi của thầy. Lúc đi ngang một quán cà-phê, thầy Ngữ bảo:

“Trời nóng quá, tôi mời Ái Liên ghé vào đây uống cái gì cho mát nhé!”

Tôi lại giật mình một lần nữa. Đoán được ý nghĩ của tôi, thầy Ngữ cười nói:

“Em ra trường rồi, tôi không phải là giáo sư của em nữa đâu! Đừng ngại, ở đây không có nhân viên nào trong Khoa Ngoại Ngữ cả.”

“Dạ,” tôi lí nhí nói, loay hoay dựng xe bên cạnh chiếc xe của thầy. Quán vắng vẻ, chỉ có một đôi tình nhân ngồi trong góc, rủ rỉ, cười nho nhỏ với nhau, trông thật tâm đắc. Thầy Ngữ kéo ghế mời tôi ngồi. Tôi lại lí nhí cám ơn thầy. Thầy Ngữ cười thật tươi:

“Bitte schön! Sei nicht schüchtern!” 5

Oh mein Gott! Bao nhiêu chữ nghĩa thầy dạy cho tôi chắc tôi trả hết lại cho thầy rồi. Tôi chẳng hiểu thầy nói gì, chỉ còn biết kêu trời… bằng tiếng Đức mà thôi. Tôi học thầy đến năm lớp tiếng Đức, mà tôi chọn làm sinh ngữ phụ cho chương trình cử nhân tiếng Anh của mình. Thầy Ngữ nổi tiếng trong khoa ngoại ngữ vì... đẹp trai, tài hoa, bặt thiệp. Thầy tốt nghiệp văn chương Đức với văn bằng Magister Artium ở Leipzig bên Đông Đức. Nghe thầy nói tiếng Đức mà không nhìn thầy, ai cũng nghĩ là... Nietzsche đang giảng bài! Thầy còn trẻ, chỉ hơn đám sinh viên chúng tôi khoảng sáu, bảy tuổi, nhưng lúc đó đã có gia đình. Chẳng may, chỉ ít lâu sau đó, vợ thầy bị một cơn bạo bệnh rồi qua đời. Hai người chưa kịp có con cái gì cả. Chắc thầy giấu cảm xúc hay lắm, vì người nào mới gặp thầy, thấy lúc nào thầy cũng vui vẻ, tươi cười, không thể nào biết bên trong thầy có một nỗi buồn sâu lắng.

Ngồi xuống bàn, tôi đã định thần lại đôi chút. Thấy từ nãy giờ mình chỉ nói từng tiếng một, tôi bắt đầu cố gắng tỏ ra bình tĩnh và mạnh dạn hơn một chút. Tôi ngó thầy:

“Thầy biết không? Mới đây mà em như đã quên hết tiếng Đức thầy dạy tụi em. Nghe thầy nói có mấy câu ngắn thôi mà em tá hoả tam tinh, không hiểu gì cả! Bây giờ em mới hoàn hồn lại.”

“Em làm như tôi là một Zauberer 6 trong truyện cổ tích của anh em nhà Grimm vậy,” thầy Ngữ nheo mắt cười.

Tôi cười theo thầy, vui vẻ thêm:

“Giờ thì em bắt đầu nhớ lại một ít tiếng Đức của thầy dạy rồi. Em nhớ có một lần, cả lớp biết thầy còn biết nhiều thứ tiếng khác như tiếng Pháp, tiếng Hoà Lan, tiếng Thuỵ Điển và cả tiếng Vlaams 7 nữa, nên mới hỏi thầy làm sao mà thầy học hết được từng ấy thứ tiếng hay vậy. Thầy đã trả lời, “Das Sprachenlernen ist mir ein Zeitvertreib und nicht eine Arbeit.” 8

Thầy Ngữ có vẻ vui khi nghe tôi nhắc đến chuyện này. Thầy gọi cho mỗi người một ly nước dừa tươi ướp đá lạnh, uống đến đâu mát cả người đến đó. Vừa thưởng thức món giải khát, thầy vừa ân cần hỏi thăm tôi về những điều mà suốt những năm tháng trong giảng đường, thầy không có dịp để hỏi. Tôi trả lời hết những câu hỏi của thầy, nhưng không dám hỏi lại thầy nhiều, e chạm đến những gì thầy không muốn nói.

Khi thầy trò chia tay ra về, tôi cám ơn thầy, đánh bạo chúc thầy một mùa hè tươi đẹp, bằng tiếng Đức:

“Vielen Dank, Herr Professor. Ich wünsche Ihnen einen schönen Sommer!”

Thầy Ngữ gật gù và đáp lại... bằng tiếng Việt:

“Không có chi! Cám ơn em đã dành chút thì giờ cho ông thầy học cũ. Hôm nào tôi mời em lại nhà chơi nhé. Nhớ rủ cô bạn thân của em theo cho vui, tên... gì há?”

“Dạ, Ngọc Mai, thầy!”

Thầy Ngữ đọc cho tôi nghe địa chỉ của thầy. Tôi giả bộ như đang cố ghi nhớ, nhưng kỳ thực học trò đứa nào chẳng biết thầy ở đâu! Tôi vui vẻ đạp xe về nhà, tâm trạng khác hẳn lúc ở nhà dắt xe ra, buồn thiu, không biết sẽ đạp đến đâu, bao giờ mới về...

o O o


Nghe tiếng chó sủa vang và thấy tôi cùng Ngọc Mai đang đứng lấp ló trước cổng, thầy Ngữ từ trong bước ra, xua con vật vào trong và cất tiếng chào mời:

“A, Ái Liên và Ngọc Mai! Vào đi hai em!”

Hai đứa tôi cúi đầu chào thầy rồi líu ríu đi theo thầy vào bên trong. Thầy không đưa chúng tôi vào gian nhà chính mà lại hướng chúng tôi về phía căn nhà khách nằm bên tay phải. Toàn bộ khu nhà của thầy, kể cả sân trước rộng rãi, nằm trông ra mặt biển xanh ngắt bên kia đường, y như trong một cảnh phim Âu châu nào tôi đã từng xem. Ở nhà, thầy Ngữ mặc một cái quần jeans xanh nước biển đậm và một cái áo thun xám có in hàng chữ “Alles hat ein Ende, nur die Wurst hat zwei” 9 Trông thầy trẻ trung hẳn ra, khác với lúc thầy oai nghi, mô phạm đứng trên giảng đường, mặc áo sơ-mi và quần tây, thỉnh thoảng lại mang cà-vạt hay khoác thêm một cái áo vét bên ngoài.

Nhà khách không rộng lắm, nhưng cũng đầy đủ như một căn nhà chính hiệu, tuy tất cả đều dồn chung vào một không gian, không có tường ngăn cách. Chỗ để tiếp khách nằm bên phải từ ngoài cửa bước vào, có cửa sổ nhìn ra biển. Bên cạnh bộ xô-pha là một chiếc dương cầm loại upright, đặt kế bên kệ chất đầy sách. Bên trái là một cái sofa bed và trong góc là một gian bếp nhỏ. Cánh cửa phía bên trái chắc là dẫn vào một phòng tắm mini, tôi thầm đoán vậy.

“Mời hai em ngồi đây, tôi làm chút gì để uống nhé, Tee? Kaffee? Wasser?” thầy Ngữ chỉ tay về hướng có chiếc bàn bên trên có một bình hoa hướng dương vàng ruộm, rực rỡ trong ánh nắng hè đang chiếu vào căn nhà nhỏ.

Ngọc Mai, hình như giỏi tiếng Đức hơn tôi, tinh nghịch hỏi:

“Kann ich bitte Wein haben, Herr Professor?” 10

“Es ist noch nicht fünf Uhr, 11” thầy Ngữ nheo mắt cười. Bây giờ tôi mới để ý là thầy thích vừa cười vừa nheo mắt, làm câu thầy đang nói thêm phần ý nhị.

“Irgendwo ist es fünf Uhr!” 12 Ngọc Mai cũng lém lỉnh đối đáp lại. Nhưng con nhỏ vội nói thêm, “Xin lỗi thầy, em đùa chút cho vui, để ôn lại tiếng Đức với thầy đó mà. Thầy cho tụi em xin nước lọc là được rồi.”

Lúc hai đứa tôi xin phép thầy Ngữ cầm ly nước lên để uống, thầy khẽ gật đầu và nói:

“Tôi mời hai em vào nhà khách này thay vì nhà chính vì sau khi vợ tôi mất, tôi ở đây phần lớn thời gian, lâu lâu mới qua bên kia để lau chùi. Ở bên đó buồn lắm, nhìn đâu cũng thấy kỷ niệm.”

Hai đứa chúng tôi ngồi im, không biết nói gì. Lần đầu tiên thấy thầy Ngữ mở lòng ra như vậy, tôi thấy ngùi ngùi xúc động. Chợt thầy đứng lên, tiến về cái piano hiệu Sauter, bảo:

“Để tôi đàn tặng hai em một bài nhé!”

Thầy Ngữ biết đàn! Hồi giờ chúng tôi đâu có biết. Thầy ngồi xuống thẳng người trước cây đàn, bắt đầu cho hai bàn tay với các ngon thuôn dài nhảy múa trên các phím đàn. Sau vài nốt nhạc réo rắt đầu tiên, tôi nhận ra đây là bài “Für Elise” nổi tiếng. Thầy Ngữ như hoá thành một người khác, không phải là ông thầy thường giảng văn phạm trên bục, mà giờ đây trông thầy như Beethoven đang say sưa trong một thế giới khác, thế giới của âm thanh và nhịp điệu. Thầy như quên hẳn có Ngọc Mai và tôi đang ngồi ngẩn người nghe những cung bậc đầy cảm xúc, tuồng như người chơi đàn đang trút hết bao nhiêu nỗi niềm vào trong đó. Sau bản nhạc, chúng tôi ngồi nói chuyện thêm một chút rồi xin phép thầy Ngữ ra về. Không biết Ngọc Mai cảm thấy sao trong lòng, còn tôi thì người cứ lâng lâng, không biết vui hay buồn, thấy cuộc sống này rộng lớn hơn là những gì chung quanh mình từ bấy lâu nay.

Những ngày sau đó, âm điệu của bài “Für Elise” cứ ám ảnh trong đầu tôi. Tôi biết, tuy nói là đàn bài này cho Ngọc Mai và tôi nghe, chắc thầy Ngữ dành cho vợ thầy thì đúng hơn. Tôi được biết rằng người vợ mất sớm của thầy tên là Elsa, gọi thân mật từ tên Elisabeth. Cô là người Đức, gặp thầy trong trường đại học trong thời gian thầy du học. Sau khi hai người lấy nhau ở Leipzig, cô theo thầy về Việt Nam, rồi mãi mãi gọi nơi này là quê hương khi nằm xuống.

Für Elise, hay Für Elsa gì cũng thế, phải không thầy? Tôi nghe mình thổn thức nói thầm trong lòng như thế. Chắc sẽ không bao giờ là Für Ái Liên đâu! Chỉ gặp thầy có hai lần từ hôm trước tới giờ, mà tôi thấy hình ảnh, giọng nói, tiếng cười của thầy Ngữ sao mà thân ái, gần gũi, dịu êm là thế...

Một hôm, tôi chợt nảy ra ý đạp xe ngang trước nhà thầy Ngữ, mong tình cờ nghe được tiếng dương cầm của thầy từ trong đó bay ra, biết đâu được. Thế là tôi lên xe, đạp một mạch đến nhà thầy. Dừng xe lại trước ngôi nhà lộng gió biển, tôi tần ngần ngó vào nhà, lòng thầm mong con chó của thầy không thấy, kẻo nó lại sủa vang lên thì phiền lắm. Đúng là thầy Ngữ đang chơi đàn bên trong. Thầy đang chơi bài “Tristesse” quen thuộc của Chopin. Bỗng con chó ở đâu cất tiếng sủa liên hồi. Tôi hoảng hồn, chưa biết làm sao thì thầy Ngữ từ trong căn nhà khách đã chạy vội ra. Thấy tôi, thầy cười chào:

“Ủa, Ái Liên! Em ghé chơi à?”

Thầy vẫn mặc quần jeans, hôm nay là màu đen, và trên cái áo pull cũng màu đen của thầy là câu “Was mich nicht umbringt, macht mich stärker” 13 Nhưng thầy không ra một mình, theo sau thầy là một phụ nữ người Âu, tóc vàng, hai mắt xanh như biển. Cô nhìn tôi với một nụ cười nửa vui nửa buồn. Tôi lắp bắp:

“Ơ, em định đến nhờ thầy cắt nghĩa giùm mấy câu khó hiểu trong bài “Du bist die Ruh” 14 mà... thôi, thầy đang có khách! Bữa khác em đến cũng được. Chào thầy!”

Vừa nói, tôi vừa hối hả leo lên xe, đạp đi mất, không kịp nghe giọng ngạc nhiên của thầy Ngữ đuổi theo:

“ÁI Liên, quay lại đây! Khách khứa gì đâu? Tôi ở nhà một mình mà.”

Hai tai tôi ù đi, không biết vì xúc động mạnh hay vì gió biển đang thổi thật rát hai bên thái dương. Tôi đạp những vòng xe mải miết, hai mắt cay xè, cũng không biết là mình đang khóc hay vì hơi muối mặn nồng từ đại dương bay đến. Mùa hè mới bắt đầu, mà sao tôi thấy như nó vừa kết thúc.

Trần C. Trí


________________________________

1 Nghỉ Hè (1941) – Xuân Tâm

2 Nỗi Buồn Hoa Phượng (1966) – Thanh Sơn

3 Nguyên văn tiếng Anh “Friendship is Love without his wings”, trích trong vở kịch nhan đề The Deformed Transformed (1824) của Lord Byron (1788-1824).

4 Une belle histoire (1972), nhạc của Michel Fugain, lời của Pierre Delanoë, do ban Le Big Bazar trình bày.

5 “Không có chi. Em đừng ngại.”

6 Ông phù thuỷ

7 Tiếng Flemish là một phương ngữ của tiếng Hoà Lan, dùng ở miền nam Hoà Lan và ở Bỉ.

8 “Học ngôn ngữ đối với tôi là một thú vui chứ không phải là một công

việc.”

9 “Cái gì rồi cũng có một đoạn kết, chỉ khúc dồi mới có đến hai”, câu này chơi chữ, dùng danh từ Ende với hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là “đoạn kết” và nghĩa thứ hai là “đầu cùng”.

10 “Cho em uống rượu vang được không thầy?”

11 “Chưa tới năm giờ mà.”

12 “Ở đâu đó đã năm giờ rồi!”

13 “Điều gì không tiêu diệt được tôi sẽ làm cho tôi mạnh mẽ hơn” – Friedrich Nietzsche (1844-1900)

14 “Em Là Nỗi Bình Yên”, thơ của Friedrich Rückert (1788-1866), do Franz Schubert (1797-1828) phổ thành nhạc, có những lời như sau, “... Treib’ andern Schmerz/aus dieser Brust!/Voll sei dies Herz/von deiner Lust” (tạm dịch: “Hãy xua đuổi niềm đau kia/ra khỏi lồng ngực này/Trái tim tôi hãy tràn trề/với niềm vui em...”)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Tư 20269:59 CH(Xem: 10756)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 7280)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 12003)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 9870)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 11753)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 11972)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 11209)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 11760)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 12261)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 12375)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3805)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13236)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19624)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1554)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1724)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2236)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2363)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1416)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2179)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1947)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1315)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2351)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2545)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 216)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1053)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1412)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13871)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6868)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10631)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9830)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9953)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10756)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10331)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi