- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NIỀM VUI CÔ ĐƠN

15 Tháng Tư 202511:27 CH(Xem: 20979)

TAC GIA TRIEU VU
Tác giả Triệu Vũ và Người Bạn Đời


Triệu Vũ

NIỀM VUI CÔ ĐƠN

 

                                                                                                                                                             

 Tôi đã trở lại Mỹ vừa tròn một tháng, sau chuyến về thăm quê hương dài ngày. Cưỡi mây lướt gió, tổng cộng hơn 20 tiếng đồng hồ, suốt chặng đường dài nửa vòng trái đất, chỉ một lần chuyển máy bay ở Đài-Bắc, Đài-Loan. Với tuổi đời khá cao, giờ giấc khác biệt, nên tôi cần một  thời gian điều chỉnh để sống lại đời bình thường. Quê hương tuy xa rồi nhưng vẫn còn đó. Những ghi nhận, những suy tư, cảm xúc; những tao ngộ khó quên; những ước mong đã thành hiện thực; vẫn còn đây, còn trong trí tưởng, chưa phai mờ. Lòng tôi chất đầy luyến lưu thương nhớ khi rời xa và hòa quyện với những niềm vui khó tả. Đôi lúc tôi tự trách: đã một tháng trôi qua mà đầu óc còn mơ mơ màng màng, mgười bồng bềnh như đi trên mây, ngẩn ngơ ngơ ngẩn; đáng tiếc nhất là chưa ghi lại một dòng chữ nào, chưa đem tâm tình trải dài trên trang giấy. Không phải tôi không đủ khả năng, hoặc không biết cách diễn đạt thành văn. Thực ra vì đầu óc không tập trung, suy tư rối loạn, nên tôi không biết khởi đầu từ đâu; người cứ bần thần như bị ốm, bị bệnh gì đó, tôi không biết…Có những người bạn, người thân lâu không gặp, điện thoại thăm hỏi. Tôi chỉ đáp lại là chưa tỉnh táo, người cứ như trong cơn mê, hình như bị ốm, bị bệnh và hẹn một ngày gặp mặt, có nhiều chuyện để kể cho nhau nghe…

Chẳng lẽ để thời gian cứ vô tình trôi đi, cuốn theo, tất cả rồi chìm vào quên lãng hay sao? Đầu óc suy nghĩ mung lung, tôi như lạc vào chốn vô minh. Nhưng thực bất ngờ và thực lạ, không biết do đâu, có gì tác động đến não bộ mệt mỏi, khiến tôi nghĩ đến một vì sao tỏa sáng trên bầu trời Thơ Ca Việt-Nam vào nửa đầu thế kỷ 20, Nguyễn-Bính, nhà thơ của”đồng nội”. Những vần thơ của Ông thực bình dị, dễ hiểu nhưng chuyên chở cảm xúc, rung động thấm sâu lòng người. Từ “Cô Hàng Xóm”, “Chân Quê”, “Lỡ Bước Sang Ngang”, “Tương Tư” v.v., lời thơ không phải là những nhát búa chém đinh chặt sắt, cũng không là gào thét của phẫn nộ cuồng phong, bão tố, cũng không là thảm thiết bi thương của tim gan rỉ máu. Nó nhẹ nhàng, tình tự, lâng lâng; tim không nức nở thổn thức mà trí lại mơ màng thương nhớ mênh mang. Qua những vần thơ êm dịu, mượt mà, Nguyễn-Bính quả là người kể chuyện tình xuất sắc, duyên dáng, hấp dẫn. Đôi khi, dòng thơ Nguyễn Bính như mặt nước yên bình nhưng ẩn dấu những con sóng ngầm cuồn cuộn. Có thể nào vì yêu thơ Nguyễn-Bính, bồi hồi mê say khi nghe diễn ngâm thơ của Ông, qua những giọng ngâm truyền cảm tuyệt vời, nên tôi mơ mơ màng màng, bồng bềnh trên mây, như một người bệnh, người ốm….chăng? Tôi nghe ở đâu đó, có người bảo rằng Nguyễn-Bính là Nhà Thơ bị Giời đầy. Lạ nhỉ! Tôi nghĩ, biết bao người mong “bị” Giời đầy như thế. Thưa Ông Nguyễn-Bính, Ông thực hạnh phúc quá! Ước gì tôi cũng có một cô hàng xóm mang tơ vàng hong trước hiên; ước gì tôi cũng có người yêu với nét đẹp hương đồng gió nội; tôi ước …nhiều lắm, nhưng chỉ được một điều: bạn đời của tôi là người con gái xứ Đoài, nơi có thành Sơn-Tây, có con sông Đáy, có núi Ba-Vì. Và một thời, xa xưa lắm, vì không biết làm …thơ, nên mỗi khi nhớ đến nàng, tôi thường mượn câu thơ của Ông và ngân nga  “ Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông”...

Hôm qua, một người bạn cùng tù, hiện định cư ở San José, tiểu bang California. điện thoại; sau những lời thăm hỏi, anh “nghi” rằng tôi có khả năng mắc bịnh tương tư! Ối giời! Bạn tôi đi xa quá! Chỉ nghe tôi kể lại một chút tâm trạng mà anh bảo tôi mắc bịnh gì đó, nghe thực xấu hổ. Tôi không tin. Anh chưa bắt mạch, chưa khám lâm sàng, làm sao anh biết. Anh bảo rằng, dựa trên kết quả cận lâm sàng ( para-clinic ), có thể đoán biết. Tôi dốt về y học, không hiểu đúng hay sai. Hình như, tất cả sự việc bắt đầu từ hỗn danh “Sư 5”của tôi, cộng thêm tấm hình vãn cảnh chùa ở quê nhà, gửi cho anh qua điện thoại. Phải công nhận trí tưởng tượng của anh bạn quá phong phú, anh lại luôn ân cần, quan tâm lo lắng cho sức khỏe của tôi, người bạn già, từng chung tủi nhục trong các trại tù ở vùng thượng du Bắc-Việt. Do vậy, qua tấm hình vãn cảnh chùa, anh bảo rằng tôi đi tìm ai đó. Sợi dây kéo chuông ngày xưa không thấy đâu; trên tường chỉ có một núm hình tròn bằng nhựa mầu nâu, bên cạnh bốn chữ S.S.V.P.(chữ Pháp viết tắt, tiếng Việt có nghĩa : Vui lòng bấm chuông). Anh đoán rằng tôi đưa tay lên bấm vào nút trên tường, bị điện giật, té xuống ghế đá trước cổng chùa, cây ba- toong văng sang bên. Anh còn phụ đề : “Truyện xưa có anh chàng Điệp Vũ… Ngày nay cũng có chàng Triệu Vũ....” Chưa hết, anh còn đi xa hơn, bảo rằng: Vì là “Sư 5”, có thể tôi bị một cô “yếm thắm” nào đó bỏ bùa, bây giờ Sư về, ốm lăn ốm lóc …Thiệt tình, không ngờ bạn tôi suy diễn lung tung, vô tư, bao la. Tôi nghĩ không chừng mai kia, anh có thể trở thành nhà văn, nhà thơ lớn, bên cạnh công việc của người thầy thuốc mát tay. Không biết tôi có làm điều gì buồn lòng anh bạn chăng, hay là bây giờ, anh đang “nổi tiếng” ở thung lũng hoa vàng, nên nói năng không cần giữ ý? Với riêng tôi, tự nghĩ: Đừng bận tâm, ai nói gì thì nói, miễn là mình....có thì thôi.

 Thành phố Houston, tiểu bang Texas, nơi tôi định cư đã 35 năm, trong nhóm “Cà Phê Thứ Bẩy” của chúng tôi, có vợ chồng anh bạn trẻ. Cả hai, thơ văn đầy mình; được tin tôi đã trở lại Mỹ, điện thoại hỏi: Anh đi tìm Nàng Thơ, đã gặp chưa, có bài thơ nào mang về “trình làng” không? Đã biết tôi thích thơ, yêu thơ nhưng không phải là một nhà thơ và dĩ nhiên tôi không biết làm …thơ! Vậy mà vẫn hỏi. Vợ chồng anh bạn muốn làm khó tôi hay sao đây? Xấu hổ quá. Tôi còn nhớ, mùa Thu năm 2023, không biết do nguồn cảm hứng từ đâu, có lẽ do đầu óc muốn tìm tòi, khám phá, hoặc là do Trời chiều lòng người yêu và say mê thơ văn, tôi viết bài “ Đi Tìm Nàng Thơ”, trong đó, tôi giới thiệu bài thơ đầu tiên trong đời, sáng tác khi mới 84 tuổi với tựa đề “Em Còn Đó Không”. Tôi không đưa người bạn đời đọc bài thơ này. Nhưng ít lâu sau bài thơ được chắp cánh bay xa, qua kỹ thuật âm thanh của Đặng-Hiền, một thi sĩ kiêm nhạc sĩ ở tiểu bang California. Không ngờ bài thơ ấy, sau khi được phổ nhạc và lan tỏa, tuy được nhiều người ưa thích, nhưng đã ảnh hưởng, phần nào xáo trộn sinh hoạt, đời sống của riêng gia đình tôi. Hình như qua ánh mắt, trong giọng nói, tiếng cười của người bạn đời, có chút gì đó, nghi ngờ rằng bên kia bờ Thái-Bình-Dương, người em nào đó của tôi có còn đó không ? Thực khó giải thích. Chỉ là Thơ thôi mà, bay bổng một chút cũng khó khăn. Và từ đó, để giữ hòa khí trong gia đình, tôi không nhắc đến sáng tác thơ, giả vờ như chưa từng làm… thơ. Cũng bởi thế, đã từ lâu, tôi chưa có thêm bài thơ mới nào, để góp mặt với đời .

Nhưng, nhớ lại, vào một sáng Đầu Xuân Giáp-Thìn (2024), trong không gian ấm áp, chan hòa yêu thương nơi phòng khách của căn nhà nhỏ, người bạn đời đặt ly cà phê trên bàn, trước mặt tôi rồi nhẹ nhàng, âu yếm hỏi :

-“ Anh chưa làm …bài thơ nào nữa sao ? Hay là Anh giận em vì không khen thơ anh hay . Mới khởi đầu mà ! Cố lên ! Anh làm …thơ nữa đi ! Em chờ thơ của Anh” .

Tôi lúng túng, cầm ly cà phê còn bốc khói, uống ngay, cho bớt ngượng. Tôi không dám nói thực. Thay vì trả lời rằng thơ đã… làm rồi, nhưng muốn hay hơn, hoàn chỉnh hơn nên tạm thời giữ lại để nghiên cứu thêm; tôi lại vô tư trả lời một cách vô duyên :

-“OK, cám ơn em!”

 Bài thơ ấy, bài thơ giữ lại, chưa đưa nàng “duyệt”, chỉ với cái tựa “Em Còn Đó Không”, tôi e rằng người bạn đời, đã hốt hoảng, trau mày thắc mắc. Rồi qua 32 câu thơ tiếp theo, không biết còn bao nhiêu câu hỏi nêu lên. Tôi không muốn đưa trí tưởng đi xa quá …Nhưng chẳng lẽ để nàng chờ đợi mãi, tài làm …thơ của tôi sao. Do vậy, cố nặn óc, tập trung cao độ, tôi làm… được mấy câu có vần, có điệu, không dám gọi là “thơ”. Tôi nghĩ miễn là mình … có làm …là quý rồi . Xin đừng, nếu ai đó nghĩ rằng đây là một bài thơ. Chẳng qua vì trong lúc cấp bách, không biết chống đỡ ra sao, lại “sợ” rằng người bạn đời chê tôi là “đần”, là “kém” nên cố tuôn ra ít dòng như sau :

 

Em vẫn đợi hoài, mà  chẳng thấy…

Thơ của anh . Chắc khó lắm sao ?

Người ta bảo : làm….thơ dễ lắm !

Anh làm…đi ! Hãy cố lên nào .

**

-Tin nơi anh! Em yên lòng chờ đợi .

-Mau lên Anh ! Cho em được ….đọc thơ .

Xấu hổ quá!  Anh trách mình lỗi hẹn .

Để em yêu phải trông ngóng, đợi chờ .

**

Bỗng hôm nay, tình  Xuân ban ý lạ :

Anh đã làm …thơ,  thương  gửi về Em .

Đọc thơ Anh, Em rưng rưng ngấn lệ .

Anh làm…thơ, nghe thổn thức, con  tim!

**

Nữa đi Anh ! Anh nhớ làm …thơ tiếp .

Làm … bấy nhiêu, chưa đủ ! Anh yêu ơi !

Thời gian cứ trôi, nhưng em …vẫn đợi

Anh sẽ dìu Em,  đến …chốn tuyệt vời ..

 

Những dòng chữ còn chưa ráo mực, tôi đưa ngay cho người bạn đời; vì vui mừng và vội vàng, tôi quên cả đặt tựa đề. Người bạn đời đọc xong 16 dòng “chữ”vừa tuôn ra, thay đổi hẳn, nàng không nói nhiều, chỉ vỏn vẹn 3 tiếng: được lắm anh! Hú hồn. Tôi mừng thầm trong bụng. Tôi như đọc được suy nghĩ trong đầu của nàng, hiểu được ý nàng muốn  khuyến khích, cổ vũ tôi, rằng: Cứ thế mà làm! Nàng tươi vui, không nghi ngờ trách móc. Khi nhìn tôi, vẫn ánh mắt “dìu dịu” buồn Tây Phương của người con gái Xứ Đoài. Điều ngạc nhiên và thú vị hơn nữa là nàng đồng ý để tôi “hộ tống” về thăm quê hương vào dịp nghỉ lễ cuối năm. Dù chỉ là “hộ ăn theo” nhưng tôi đã rất vui và mãn nguyện, trong suốt cuộc hành trình dài ngày, từ khi chuẩn bị khởi hành đến lúc trở lại Mỹ .

Chuyến thăm quê nhà vừa qua, tôi tung tăng đó đây; khi thì ghé những quán cà phê sang trọng, ngang lưng trời, trong các tòa nhà cao tầng, như đang trên thảm mây; có lúc ngồi trên những chiếc ghế thấp bên vỉa hè; vừa uống cà phê vừa ngắm nhìn cảnh vật, dòng người, xe cộ qua lại, ngược xuôi. Tôi cũng đến thắp nhang tại Đền Thờ Quốc-Tổ Hùng-Vương, Đền Thờ Đức-Thánh Trần-Hưng-Đạo và chùa Ngọc-Hoàng ( nơi một Tổng-Thống Mỹ đã ghé thăm ) v.v nhưng không dám nhìn lại những nơi, trước đây giam cầm Sĩ-Quan Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa như chúng tôi, sau ngày 30-4-1975…. Chuyện xưa, lâu rồi, nay tôi không muốn gợi nhớ những kỷ niệm buồn; nhiều khi tôi quên mất là, thời gian bị giam cầm trong cái gọi là trại tù cải tạo, tôi đã để lại một phần thân thể ở “Dưới Chân Tam-Đảo”, thuộc tỉnh Vĩnh-Phúc, miền Bắc Việt-Nam. Với tuổi đời hiện tại, 86 tuổi, thể lực, trí lực lão hóa, tôi không còn đủ sức chịu đựng những oán hờn, uất nghẹn, hận thù dày vò xé nát, cấu cào, gậm nhấm tâm can… Thế nên tôi tìm lối thoát, tự an ủi, reo lên mừng rỡ: Tôi đã tiêu hết, xài hết cái buồn rồi, giờ chỉ còn vui thôi! Bằng hữu, người thân thực ngạc nhiên khi thấy tôi …trở thành một con người mới. Ngay cả những lúc thập tử nhất sinh, trên đường nhập viện để chữa trị căn bệnh quái ác -không có phương cách nào khác ngoài xạ trị và hóa trị-; tất cả cảm xúc, từng giai đoạn chữa trị, tôi ghi lại trong bài “ Trở Về Từ Tầng…14”. Ai cũng bảo đi chữa bệnh mà như đi du lịch!  Cũng trong bài “Trở Về ….” này, tôi xác quyết là cuộc chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt-Nam mến yêu của tôi suốt 30 năm (1945-1975)  là cuộc chiến tranh của “Phước Đức”. Tôi cho rằng chỉ tôi mới biết tôi là ai, tôi nghĩ gì, cảm nhận gì? Hình như chỉ mình tôi hiểu, chỉ mình tôi vui. Phải chăng đây là niềm vui cô đơn?

Bên cạnh những chuyến tung tăng đó đây, tôi còn ghé thăm một số bạn cùng trang lứa, cùng đơn vị thuở xa xưa. Có vài bạn cư ngụ vùng ngọai ô Saigon, tôi điện thoại trước khi ghé thăm. Đầu dây bên kia : Dạ, Anh L, nhà em, mất năm ngoái, sắp tới ngày giỗ đầu … Cuộc gọi thứ hai, đầu dây bên kia: Dạ, Anh Th. ra đi hơn một năm rồi. Lòng tôi chùng xuống. Dòng người và xe cộ ngoài đường vẫn xuôi ngược chóng mặt, vô tình . Tôi đã ghé nhà của hai chú lính lái xe và cần vụ, luôn sát bên tôi khi xưa. Nhà N-V-Quang, dốc cầu Trương-Minh-Giảng (L-V-Sỹ); nhà N-N-Quỳnh, bên hông giáo đường Gò-Vấp. Hai chú lính ngoan, hiền, tốt bụng, tận tụy, chu đáo ngày nào, nay ẩn mình sau tấm ảnh chụp nghiêm chỉnh, lồng trong khung kính, để trên bàn thờ. Thời gian thật khắc nghiệt, đã nhẫn tâm cuốn đi mọi thứ. Tôi ngẩn ngơ, bâng khuâng, tiếc rằng mình không về thăm quê hương sớm hơn có thể. Bao nhiêu kỷ niệm thưở nào lại ùa về. Nhưng luật Tạo Hoá, có gì tồn tại mãi đâu. Bao người quen biết đã ra đi, đi thật xa, tôi còn ở lại. Hay là ý Trời muốn tôi là một chứng nhân. Tôi không nghĩ xa xôi quá. Chỉ tin là Nhờ Ơn Trời Phật, Tổ Tiên, những Đấng Linh Thiêng phù trợ, nên tôi, đã bao lần thóat khỏi Lưỡi Hái Tử Thần; nay còn được thở, tức là được sống, lại còn được bay bổng, đi mây về gió. Thế là hạnh phúc lắm rồi!

Có nhiều lúc tôi lẩn thẩn, suy nghĩ linh tinh về nhận xét của anh bạn ở bên San Jose, CA rằng tôi có thể bị bịnh… gì đó. Không ! Tôi tự thấy không ốm, không bịnh gì cả . Sở dĩ đầu  óc tôi mơ màng, bần thần, không tỉnh táo, chỉ vì sau cuộc hành trình dài, ngồi trên máy bay khá lâu, không thoải mái, ngủ không đủ, nay chỉ cần thời gian ngắn nghỉ ngơi, sẽ bình thường. Cũng có khi một mình suy tư và tự hỏi, có thể nào tôi trở thành một nhà thơ không nhỉ? Chắc không đâu, không thể nào. Tôi vẫn biết : không phải thích thơ, yêu thơ, mê thơ là trở thành một nhà thơ! Tôi không phải và chắc chắn không phải là một nhà thơ. Ông Nguyễn-Bính nhớ người tình da diết, nhớ đêm nhớ ngày; là nhà thơ nên ông gửi tâm tư nhớ nhung ấy vào những vần thơ tình tứ, nhẹ nhàng, âu yếm, cho vơi niềm nhớ thương. Thưở ấy, vào thời đại của Ông Nguyễn-Bính,  người tình chia xa, muốn  nhìn thấy nhau, gặp gỡ nhau, nhận được tin nhau thực vất vả khó khăn nên than van, rên rỉ, nguyện cầu. Nhớ người yêu quá, không có ai để tâm sự, nhà thơ “nuốt” nhớ thương vào lòng nên phát bệnh, phát ốm …tương tư. Người tình dù cùng thôn, cùng làng mà sao xa xôi quá. Ngay cô hàng xóm kế bên, chỉ một dậu mồng tơi yếu ớt phân ranh, mà nhà thơ cảm thấy, đó là bức tường kiên cố cách ngăn. Lâu lắm rồi, tôi có nghe câu: “ đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì ...”. Nghệ sĩ nhìn chung, nhà thơ nói riêng hình như yếu lòng, ngại khó; lá gan để một nơi nào rồi, cứ trông chờ phương tiện liên lạc duy nhất là “con bướm trắng” bay qua, bay về. Rất may, ngày nay văn minh hiện đại, khoa học tiến bộ, với những bước tiến nhảy vọt, truyền tin kỹ thuật số, thời đại năm chấm (5.) rồi sáu chấm (6.); dù xa xôi vạn dặm, rất nhanh và rất gần, không tới một giây đồng hồ, chỉ một “nốt nhạc”, chỉ một “sát na” lướt trên điện thoại là có đầy đủ : tin nhắn đi, về; chân dung người tình, giọng nói tiếng cười, ánh mắt người yêu hiện trên màn ảnh; bởi thế, căn bệnh mà người đời gọi là  tương tư, ngày nay, hình như chiếm tỷ lệ rất thấp và không có nguy cơ lan rộng …

Rồi cuộc sống hàng ngày cũng đưa tôi về thực tại; những trải nghiệm trong hành trình thăm quê hương từ từ đi vào vùng kỷ niệm. Tôi lại tiếp tục lái xe trên xa lộ, tiếp tục làm tài xế trung kiên cùng phụ việc trong nhà với người bạn đời, và đặc biệt vẫn tiếp tục đến điểm hẹn, gặp gỡ bằng hữu thân quen, trao đổi tâm tình văn nghệ . Trong những buổi gặp mặt cuối tuần, có nhiều người nói với tôi rằng, bây giờ cái gọi là trí thông minh nhân tạo (A.I) giúp ích rất nhiều cho con người. Một bạn nhà báo trẻ khoe với tôi : Bài em gửi đăng báo là do A.I làm, em có phải viết chữ nào đâu. Hay quá! Tôi nghĩ đây là cơ hội bằng vàng.Tôi sẽ nhờ A.I làm giúp bài thơ, với nội dung trả lời bài thơ “Em Còn Đó Không” mà tôi sáng tác trước đây. Quả nhiên A.I đáp ứng ngay, chỉ ít phút sau lời yêu cầu của tôi, A.I viết một bài thơ 20 câu, tựa đề “Em Vẫn Còn Đây”. Xin các nhà thơ thẩm định; riêng tôi vì không phải là nhà thơ, không quen biết A.I, nên không dám góp ý. Nguyên văn bài thơ như sau :

                  

EM   VẪN   CÒN   ĐÂY

 

Tin em chết, Anh kịp về vuốt mắt.

“Em vẫn còn đây”, nhưng xác không hồn .

Tiếp sinh khí, Anh nghiêng xuống môi, hôn .

Và nguyện cầu Em trở về dương thế .

**

Chiếc quan tài sao dài và rộng quá !

Em tôi bồng bềnh, sóng nước đại dương.

Trôi về đâu, trôi mãi mãi, chẳng ngừng .

Bến bờ nào ? Neo buông, vào bến đậu .

**

Phật, Chúa ơi ! Xin dang tay cứu độ .

Xin đừng đưa Em về cõi Vĩnh Hằng .

Cánh cửa Thiên Đường, vui lòng khép kín !

Để Em tôi trở lại chốn trần gian .

**

Trời cao quá và biển bao la quá !

Lời cầu xin, vang vọng chín tầng mây .

Đấng Linh Thiêng đã động lòng trắc ẩn .

Đưa Em về, nên “ Em vẫn còn đây ! ”

**

Kỳ diệu thay ! Đôi mắt Em hé mở,

Âu yếm nhìn  Anh . Môi điểm nụ cười .

Không, vạn lần không ! Không là ảo mộng.

Đó là Trời, Phật, Chúa,.. thương Anh thôi !

                         

Có A.I chống lưng, có bài thơ A.I sáng tác làm bằng chứng cụ thể, vậy mà tôi vẫn không muốn đưa người bạn đời đọc bài thơ trên. Tôi nhớ mãi, cổ nhân đã có câu nhắc nhở rằng “ Ớt nào là ớt chẳng cay, ...” Cho nên, vì sự yên vui hòa thuận của riêng gia đình tôi, một lần nữa tôi quyết định giữ lại bài thơ, không lan tỏa, cho dù ai chê ai cười …Tôi rất vui vì A.I tặng cho bài thơ tuyệt vời nhưng lại không biết chia xẻ niềm vui ấy với ai, có thể nói hầu như không có ai để chia xẻ nên cứ giữ kín trong lòng. Không biết đây có phải là Niềm Vui Cô Đơn hay chăng ? Nếu ai hỏi rằng sao lòng hớn hở, tâm hồn phơi phới, lại thấy niềm vui ấy cô đơn? Xin cho tôi giải thích một cách đơn giản và dễ hiểu : điều mà chỉ mình ta thấy vui, người ngoài  không cảm, không thấy, không hiểu được; vả lại, đâu đó, niềm vui không vỡ òa, mà trở thành niềm riêng giữ kín (không phải chôn kín) trong lòng, không biết tỏ cùng ai; như thế , theo tôi suy nghĩ một cách chủ quan, có thể gọi là “Niềm Vui Cô Đơn” vậy .

 

TRIỆU VŨ

(Houston, TX. March - 2025)

                                   

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Hai 20244:02 CH(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 20243:05 CH(Xem: 19377)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
18 Tháng Mười Hai 20242:51 SA(Xem: 29527)
Khi ta trầm xuống một dây / Chợt mênh mang thổ vàng ngây ngất tình / Mái chiều / Gờn gợn phúc linh / Bàn tay ái niệm / Cung nghinh thói đời /
18 Tháng Mười Hai 20242:30 SA(Xem: 20617)
Câu chuyện về người Phật tử Việt đầu tiên tại núi Quỳnh Viên (Thạch Hà - Hà Tĩnh) đã được thư tịch cổ nói đến nhiều kể từ đời Trần; và cho đến thời hiện đại, nhiều nhà nghiên cứu sử học, Phật học Việt nam đã cố gắng gỡ bỏ các lớp vỏ huyền thoại để nhất trí khẳng định trên cơ sở khoa học rằng: Núi Quỳnh Viên là có thật, trên đó còn có một ngôi chùa Quỳnh Viên, mà tại đây, Chử Đồng Tử có duyên may gặp một nhà sư tên Phật Quang, được ông ta dạy những bài học đầu tiên về Phật pháp nguyên thủy.
18 Tháng Mười Hai 202412:23 SA(Xem: 28223)
Có phải em về từ bụng mẹ / Câu ca dao rụng trắng bên thềm / Có phải gió về từ nguồn cội / Cho nên mai rụng cánh uyên /
17 Tháng Mười Hai 202411:41 CH(Xem: 24211)
Hiền Mai là một cô gái có học thức và nhan sắc. Cô đang làm trưởng phòng của một đơn vị kinh doanh, thuộc một công ty lớn trong thành phố. Trong những lần họp hành, giới thiệu sản phẩm, chị đã gặp Thành Quy là một chàng trai đẹp trai lịch thiệp. Anh đang làm quản lý tại một công ty khác. Hai người nói chuyện với nhau bắt đầu từ công việc và cảm thấy ngày càng tâm đầu ý hợp. Hiền Mai và Thành Quy tiến tới có những buổi hẹn hò ngọt ngào và tình yêu dành cho nhau ngày càng thắm thiết. Họ đi đến hôn nhân sau hai năm tìm hiểu.
17 Tháng Mười Hai 20246:16 CH(Xem: 32408)
Lời, không hay, và độc / Nói ra, những rủa nguyền / Cuối năm nghe buồn lạ / Không là bản tình ca .
15 Tháng Mười Hai 20243:11 SA(Xem: 31445)
Hôm gặp lại nỗi buồn / Của mùa đông năm trước / Lơ ngơ trong giá lạnh / Khói mù góc gió đêm
13 Tháng Mười Hai 20248:52 CH(Xem: 33324)
Anh tìm anh trong đôi mắt em / Ngày đẹp xanh biển nắng / Anh tìm sợi khói qua bài hát xưa / Chỉ thấy màu chiều mộng mị
13 Tháng Mười Hai 20244:05 SA(Xem: 29272)
nói năng gì với cõi riêng / mắt cay rướm lệ vẫn biền biệt xa / mỏng tang sương khói hằng sa / tàn thu ủ nắng đã già đời chưa
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19660)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1628)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1784)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2301)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2409)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1457)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2210)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1948)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1369)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2410)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2618)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 803)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 998)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6407)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15897)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38860)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1481)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10686)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9882)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10009)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10814)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3455)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10355)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi