- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐỨC GIÊSU: NHÀ CẢI CÁCH XÃ HỘI

25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 23158)

tranh le thanh thu
Tranh Lê Thánh Thư-
Một trong mười bốn chặng đàng Thánh giá.
Oil on canvas. 40x40cm. Via Crucis. 2011.


Tạ Dzu
ĐỨC GIÊSU: NHÀ CẢI CÁCH XÃ HỘI

 

Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.

Nhưng người ta chỉ đón mừng sự kiện Chúa Giáng sinh dưới lăng kính tín ngưỡng, ít người để ý đến tính nhân bản của Giêsu và xem ngài như một nhà cải cách xã hội.

Theo Phúc âm, bà Maria, dù có phu quân là Giuse, nhưng do quyền năng của Chúa Thánh thần, vẫn đồng trinh lúc hạ sinh Đức Giêsu trong máng cỏ nơi hang Bêlem. Phúc âm kể rằng khi Chúa Giêsu giáng thế, các mục đồng được thiên thần báo tin đã đến thờ lạy ngài. Từ phương đông, ba vị đạo sĩ thông thái cũng theo sự dẫn dắt của vì sao lạ đến chiêm bái ngài.

Giêsu là người sáng lập Kitô giáo, giữ luật Môisê (Moses), nhà truyền giáo, chữa bệnh bằng phép mầu và thường bất đồng với giáo quyền Do Thái. Cuối đời, ngài bị đóng đinh trên thập giá theo phán quyết của chính quyền La Mã chịu ảnh hưởng bởi giáo quyền Do Thái.

Thời Đức Giêsu sinh sống, xã hội Do Thái đang gặp bế tắc cả về văn hoá và chính trị.

Về văn hoá, họ trăn trở với nền triết học và các giá trị của văn minh Hy lạp khi đối chiếu với kinh Torah, bao gồm ngũ thư đầu tiên trong kinh thánh Hebrew (Cựu ước) - sách Sáng thế, sách Xuất hành, sách Lêvi, sách Dân số và sách Đệ Nhị luật - tường thuật về công trình sáng tạo vạn vật của Thiên Chúa, về đất nước Palestine (Do Thái thời đó), về luật lệ (quá nặng nề nghiêm khắc và không còn hợp thời đối với Đức Giêsu), và cuộc vượt thoát của dân Do Thái ra khỏi Ai Cập.

Về chính trị, năm 63 trước Công nguyên (tr. CN), Do Thái bị cai trị bởi đế quốc La Mã. Năm 40 tr. CN, Hêrôđê đại đế (Herod the great) được phong vương, cai trị xứ Palestine tới năm thứ 4 tr. CN. Chúa Giêsu sinh vào năm thứ 7 tr. CN.

Xã hội Do Thái thời ấy chia thành nhiều giai cấp:

-      Giới tư tế bao gồm các tư tế và các thầy Lêvi, phục vụ và bảo vệ đền thờ, đứng đầu là một vị thượng tế được coi như thủ lãnh của dân. Mỗi năm một lần, chỉ vị này được vào nơi cực thánh dâng lễ xá tội cho dân.

-       

-      Giới kỳ mục gồm các phú ông và các vị niên trưởng.

-       

-      Giới kinh sư hay ký lục, là các luật sĩ thông thạo (lề luật) Kinh Thánh, đa số thuộc nhóm Pharisiêu (Pharisee), chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và tỉ mỉ tuân giữ mọi luật lệ.

-       

-      Phần còn lại là dân chúng bao gồm nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và những người làm thuê.

 

Ba giới trên là giáo quyền Do Thái, quyền lực đối nghịch nhau, tranh giành ảnh huởng lẫn nhau, thường huênh hoang hách dịch và xa rời dân chúng. Ngoài ra còn có các nhóm như Samari (Samaria) pha trộn với dân ngoại đạo; nhóm Sađốc (Sadducee) gồm đa số tư tế và kỳ mục tại Jerusalem, rất bảo thủ và tôn trọng ngũ thư hơn các sách thánh khác; nhóm Hêrôđê, không phải là nhóm tôn giáo nhưng ủng hộ Hêrôđê. Sau này nhóm Pharisiêu liên kết với nhóm Hêrôđê chống Chúa Giêsu.

 

Sinh ra trong bối cảnh nhiễu nhương như vậy nên thanh niên Giêsu mong muốn thay đổi xã hội qua lời giảng của ngài.

 

Muốn thực hiện cuộc cách mạng đó, Đức Giêsu phải mặc lấy thân phận con người, vui buồn cùng nhân sinh, chọn con người làm tiền đề trong các bài giảng cải tạo xã hội. Mặc dù sống giữa một xã hội với niềm tin tuyệt đối vào quyền lực thần linh bên ngoài con người, cho rằng lịch sử được định đoạt bởi Thiên Chúa toàn năng, phải tuân giữ luật lệ tôn giáo và sử dụng nội dung tín ngưỡng để giảng dậy, nhưng với ý thức nhân bản, Giêsu vẫn xưng mình là Con Người (the Son of man – con của loài người), như tường thuật của môn đồ Matthêu, “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20). Danh xưng này khẳng định Giêsu là con người trọn vẹn, muốn cải tổ xã hội bằng đường lối, cách thức của loài người. Nói khác đi, đó là đường lối nhân đạo.

 

Nhân đạo - đời sống, lối sống người - chính là lực đẩy làm lịch sử chuyển động.

 

Tự thân xã hội đã mang tính đa nguyên, nhiều thành phần, nhiều giai tầng. Ý thức nhân đạo giúp con người nhận định rằng cần phải tạo cơ hội bình đẳng cho mọi giai tầng, xã hội mới tiến bộ và lịch sử mới hướng thượng. Ý tưởng dành đặc quyền đặc lợi cho một giai tầng nào đó, hay giai cấp này triệt tiêu giai cấp khác chỉ là bệnh thái xã hội, gây ra hỗn loạn và tụt hậu, chưa phải lối sống người, còn mang đậm tính chất bầy đàn động vật mạnh được yếu thua.

 

Giêsu giáng sinh làm người là để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Ý Cha cũng được coi là ý Trời. Theo triết lý Đông phương, người lãnh đạo chăn dắt dân thì phải làm theo ý trời. Làm thế nào để biết được ý trời? Ý trời chính là ý dân. Giêsu coi mình là người chăn dắt đàn chiên của Chúa, tức phải thực hiện ý chí của đa số đáy tầng dân chúng chứ không phải chiều theo ý muốn của thiểu số ăn trên ngồi trốc Pharisiêu thuộc giáo quyền Do Thái, nhóm người bị Giêsu phê phán là bọn chuộng hình thức, đạo đức giả, nói điều nhân nghĩa mà lòng dạ xảo trá, tuân giữ những điều luật cứng ngắc và đôi khi vô nhân đạo.

 

Ngài thường sử dụng các phương pháp linh hoạt như phép nghịch lý, phép ẩn dụ và truyện dụ ngôn để giảng dạy.

 

Ẩn dụ (metaphor) là phép dùng sự vật hay sự việc này để mô tả sự vật hay sự việc khác.

 

Dụ ngôn là những câu chuyện gần gũi với cuộc sống, đơn giản và dễ nhớ. Với người Kitô hữu, dụ ngôn là phần quan trọng trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Dụ ngôn là chất liệu tạo nên các thuật ngữ thời đại, làm cho các câu chuyện của ngài nằm trong số những chuyện nổi tiếng nhất thế giới.

 

Một trong những dụ ngôn nổi tiếng là chuyện Người Samari nhân hậu, được Luca ghi lại như sau:

Khi ấy, có một luật gia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy, trông thấy người này, ông tránh qua bên kia đường mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri đi đường, tới ngang chỗ người ấy. Khi thấy, và chạnh lòng thương, ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, khi lên đường, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu thì khi trở lại tôi sẽ hoàn lại bác”Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? “Người thông luật trả lời: Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”

 

Thời ấy, đối với người Do Thái là những người đang nghe Đức Giêsu giảng dụ ngôn này, thì người dân ít ỏi xứ Samari là những kẻ ngoại đạo, bị đố kỵ và khinh miệt, gần như sắp tuyệt chủng, nên không còn mấy ai tiếp xúc hoặc nghe nói về họ. Thế nhưng khi gặp kẻ hoạn nạn bị cướp, họ sẵn sàng ra tay hào hiệp. Còn các thầy tư tế và Lêvi Do Thái, được xã hội coi là đạo cao đức trọng, có nhiệm vụ chăm sóc và giúp đỡ kẻ cô thế, thì vội lảng tránh nạn nhân. Có thể các thầy này nghĩ rằng nếu đưa tay giúp đỡ nạn nhân ngoại giáo, thân thể sẽ bị ô uế và phải thực hiện nghi lễ thanh tẩy theo luật Môsê. Họ thà giữ thân thể thanh tịnh theo quy định của lề luật Cựu Ước hơn là cứu một mạng người. Chúa Giêsu đã cho họ bài học nhân bản rằng, đã là con người, thì dù người đó ngoại đạo hay không, có chung mầu da tiếng nói hay không, không thể khinh rẻ hay phân biệt đối xử. Theo quan niệm ngày nay, không được phân biệt chủng tộc.

 

Một dụ ngôn khác cũng khá nổi tiếng, đó là chuyện Người Đàn Bà Ngoại Tình, được Gioan (7, 53-8, 11) thuật lại rằng:

 

Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và người Pharisiêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

 

Khi Đức Giêsu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”, ngài muốn mọi người hãy nhìn lại mình, xét đoán mình trước khi kết án người khác. Hơn nữa, xét đoán người khác thuộc thẩm quyền của Chúa, của Trời.

 

Ý dân tức ý trời. Có thể nhận định sâu hơn: Giêsu gợi ý rằng chỉ trí tuệ tập thể của dân chúng trong các định chế pháp luật mới có thể tạo ra luật pháp nghiêm minh, công bằng và hợp lý. Ném đá đến chết một người đàn bà ngoại tình theo lề luật cũ đã không còn hợp lý dưới nhãn quan Giêsu. Tính nhân bản của ngài không chỉ áp dụng cho những người công chính và vô tội, mà cả với những kẻ tội phạm. Họ cần được giáo dục để trở về đường ngay nẻo chính, trở về với xã hội chứ không phải cứ phạm tội là chỉ việc bỏ tù. Trong trường hợp này là ném đá đến chết. Đó là hành động trả thù của xã hội chứ không phải tình người mang tính nhân bản. Bài học này cần thiết cho môn Tội Phạm Học ngày nay.

 

Còn một điểm quan trọng khác. Dụ ngôn Người Đàn Bà Ngoại Tình chỉ nói đến việc xét đoán và kết tội đàn bà ngoại tình. Vậy còn đàn ông ngoại tình thì sao? Không thấy nói đến. Không nói đến không có nghĩa không rút ra được bài học: Không được phân biệt đối xử nam nữ.

 

Chúa Giêsu thường dùng ẩn dụ trong các cuộc thuyết giảng. Khi ngài nói “không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”, hàm ý rằng không ai nắm được mệnh trời, nắm được lòng dân mà không thực hiện những điều giảng dậy đầy tính nhân bản của ngài. Hoặc khi nói “… Con người sẽ bị nộp cho các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo; họ sẽ định ngài phải bị tử hình và giao ngài cho dân ngoại. Người ta sẽ nhạo báng ngài, nhổ trên ngài, đánh đập ngài mà giết đi; sau ba ngày, ngài sẽ sống lại”, nhằm nói rằng những lời giảng dậy hợp với suy tư và lối sống mới của thời đại sắp tới sẽ không được người đời, nhất là giới giáo quyền Do Thái chấp nhận. Nhưng sau ba ngày, ba năm, ba chục năm, ba trăm năm… sẽ sống lại và tồn tại với thời gian và nhân loại. Đây không phải là một lời tiên đoán, nhưng Đức Giêsu thấy được hướng tiến của nhân đạo, của đời sống người. Đã là người thì phải thế. Sống cho ra người thì phải thế. “Hãy yêu thương kẻ thù như chính mình’’, cũng mang tính nhân bản: Dù là người da trắng, đỏ, vàng hay đen, hãy thương nhau trong tình đồng loại, không được phân biệt đối xử. Rất nhiều dụ ngôn khác mang ý nghĩa tương tự như thế.

 

Đó chính là nhân đạo. Đạo làm người.

 

Hai ngàn năm trước mà Đức Giêsu đã có những tư tưởng như trên, theo ngôn ngữ hiện đại, quả là quá “cấp tiến”, đi trước thời đại và đầy tính nhân bản trong một xã hội luôn phải nghiêm cẩn tuân giữ lề luật Cựu Ước. Có vậy lời của ngài mới sống mãi cùng thế gian.

 

Chúa Giêsu chỉ làm được công cuộc cải tạo xã hội, định hướng lịch sử đi đúng với nhân đạo khi đã là người, thực hành đạo sống người giữa dòng đời oan khiên nghiệt ngã. Mà lịch sử của nhân đạo theo đúng thánh ý Cha (ý trời – ý dân) cũng là lịch sử của thiên đạo.

 

Khi tập họp nhóm 12 tông đồ lại, Đức Giêsu sai các ông đi rao giảng nước trời và chữa lành bệnh nhân. Ngài nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo”. Giêsu muốn các môn đồ giảng đạo và sống như dân, sống với dân, hoà vào đời sống người dân. Ngài đâu muốn môn đồ phân chia đẳng cấp hay thiết lập tông quyền chính trị như sau này. Vì thế, Chúa là tối cao của lý tưởng, của tự do, bác ái và bình đẳng. Chúa là thực thể của lý tưởng đó và đòi phải đấu tranh…” (Câu Rút, Lý Đông A).

 

Ngài đích thực là một nhà cải cách xã hội.

 

Tạ Dzu

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Tư 20252:10 SA(Xem: 18707)
gã ngồi khóc một mình/ không vì chất da cam / làm chết con nghé què / bỏ vườn đi lên tỉnh / ** gã nằm khóc một mình / chẳng vì mất tình yêu / của con bồ hàng xóm / vượt biên sau bảy lăm
25 Tháng Tư 20256:47 SA(Xem: 14793)
Ta gối đầu lên đêm gió hú Cội nguồn mở cửa ngón tay trăng Những câu kinh ròng ròng máu đổ Tiếng chuông ngân xương trắng tủi hờn
25 Tháng Tư 20255:54 SA(Xem: 11299)
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng. Có bố là công chức từ thời Vua Bảo Đại, ngay sau Hiệp định Genève 1954 ông quyết định đem toàn gia đình vào Nam và chọn định cư ở Đà Lạt. Vũ Xuân Thông tiếp tục theo học trường công lập Trần Hưng Đạo, tới Tú tài 2 không có lớp nên VXT phải vào Sài Gòn theo học trường Chu Văn An cho đến hết năm cuối trung học
24 Tháng Tư 202510:10 CH(Xem: 18573)
Ai vẽ một đường viền cộng đồng âm nhạc / Lá cỏ ngồi lên hương / Những choàng tay nhau níu cần đêm lạnh / Đàn bập bùng mưa trống vỗ / Thời xa xăm
24 Tháng Tư 20254:11 SA(Xem: 14100)
Năm 1954, khi di cư từ Bắc vào Nam, tôi còn bé lắm. Đại gia đình chúng tôi chọn Tuy Hòa làm nơi an cư lạc nghiệp. Bởi vì có người bà con đã định cư và làm việc ở đó. Ba tôi dạy học mãi ngoài Hội An, nên tôi ở lại Tuy Hoà với Ông Nội và hai bà cô để tiện bề học hành và hầu hạ Ông.
24 Tháng Tư 20252:14 SA(Xem: 13442)
Khi nào thì chúng ta- những người bạn, người thân,.. tâm sự cùng nhau, chia ngọt sẻ bùi? Người ta thường nói: Chia vui để được vui hơn, chia buồn để nỗi buồn vơi đi. Điều đó đúng với người thật sự là bạn, người thân, tri kỷ. Nhưng khi trải lòng, trút cạn nỗi niềm cần đúng người đúng việc và đối tượng chia sẻ là với những người tin cậy, đối xử với nhau thật sự chân thành. Có người nghe với thái độ thờ ơ, hờ hững hoặc lãng tránh: “Câu chuyện của mày không liên quan đến tao nhá!”
24 Tháng Tư 20251:36 SA(Xem: 17837)
Em hiền như ly nước mát / Đơn giản như nụ cười không son / Là quả trứng buổi sáng, là tô canh rau buổi chiều / Là cơn mưa thì thầm trên thềm khuya / ** Em là xếp của nhớ thương / Em oai như nữ tướng / Em tính toán rạch ròi / Em rất bao dung
18 Tháng Tư 20256:00 SA(Xem: 17296)
Dưới màu hoa, như lửa cháy khát khao / Anh nắm tay em, bước dọc con đường vắng / Chỉ có tiếng ve, trong trưa hè yên tĩnh / Không cho lòng ta yên
16 Tháng Tư 20259:59 CH(Xem: 13722)
Em hoa quỳnh nở về đêm / Tôi thằng trộm đứng bờ phên ngập ngừng / Hương một làn bỗng thơm lừng / Tôi hoàn lương chỗ đã từng lưu manh
16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 12885)
PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN “Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước. Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!” TRẦN KHẢI.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7001)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13938)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12810)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13384)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 287)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 288)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 323)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 579)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 330)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 628)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2680)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2845)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 559)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 679)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3477)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3870)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 335)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 450)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 616)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2846)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9631)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32428)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32746)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7367)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9791)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2442)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2495)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2518)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2862)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5043)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4356)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3980)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5094)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.