- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHÚNG NÓ ĐÂU PHẢI LÀ CHỒNG CỦA EM

26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 52214)

RAYMOND-CARVER

Truyện ngắn - Raymond Carver

Chuyển ngữ – Hoàng Chính

Lời người dịch: Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).

Truyện ngắn “Chúng Nó Đâu Phải Là Chồng Của Em” Hoàng Chính dịch từ “They are not Your Husband” trích từ tập “Short Cuts” một tuyển tập chín truyện ngắn và một bài thơ được chuyển thành phim năm 1993.

Ngày 2 tháng Tám 1988, Carver qua đời ở tuổi 50 vì ung thư phổi.

***

Làm nghề đi chào hàng nhưng bây giờ hắn đang thất nghiệp. Vợ hắn thì vẫn làm bồi bàn ca đêm tại một quán cà phê mở cửa 24 tiếng một ngày ở ven biên thành phố. Một đêm nọ, trong lúc đang nhấm nháp ly rượu, hắn nảy ra ý định ghé quán cà phê chỗ vợ làm để kiếm món gì ăn. Hắn muốn xem chỗ vợ làm việc, và cũng muốn kiếm món gì ăn mà không phải trả tiền.

Hắn ngồi ở quầy, chăm chú đọc tờ thực đơn.

“Anh làm gì ở đây vậy?” vợ hắn hỏi lúc trông thấy hắn.

Cô đưa mảnh giấy đặt món ăn cho người đầu bếp. “Anh tính gọi món gì?” Cô nói. “Mấy đứa nhỏ sao rồi?”

“Tụi nó ô-kê,” hắn nói. “Cho anh một ly cà phê và một miếng bánh mì kẹp số hai kia.”

Vợ hắn ghi xuống giấy.

“Có hy vọng là... em biết mà?” hắn nói và nháy mắt với vợ.

“Không,” cô ta nói. “Đừng nói chuyện với em bây giờ. Em đang bận.”

Hắn uống cà phê và chờ bánh mì. Hai gã đàn ông mặc áo vét, cà vạt nới lỏng, cổ áo tháo cúc, ngồi xuống bên cạnh hắn và gọi cà phê. Lúc vợ hắn đi về phía bình lọc cà phê, một gã nói với bạn, “Coi cái mông con nhỏ kia. Hết biết luôn!”

Gã kia cười, “Tôi đã từng thấy những cái ngon hơn thế nhiều.”

“Thì ý tôi nói là vậy đó,” gã thứ nhất nói. “Nhưng có nhiều thằng ngốc lại thích những cái mông mũm mĩm.”

“Không có tôi trong đó,” gã kia nói.

“Tôi cũng không,” gã thứ nhất nói. “Ý tôi muốn nói vậy đó.”

Vợ hắn đặt miếng bánh mì xuống trước mặt hắn. Bên cạnh miếng bánh mì còn có khoai tây chiên, cải muối, dưa leo chua.

“Cần gì nữa không?” cô nói. “Một ly sữa nha?”

Hắn lặng thinh. Và khi thấy vợ vẫn đứng đó, hắn lắc đầu.

“Để em lấy thêm cà phê,” cô nói.

Cô trở lại mang theo bình cà phê, rót thêm cà phê cho hắn và hai gã đàn ông. Rồi cô lấy một cái đĩa và quay đi để lấy kem. Cô cúi xuống tủ đá đựng kem, dùng cái muôi múc kem lên. Cái váy màu trắng vướng ở hông và chuồi lên khỏi bắp chân cô. Lộ ra chiếc váy lót màu hồng, và khoảng đùi nhăn nheo xám ngoắt lưa thưa những sợi lông, cùng với những đường gân xanh chạy ngoằn ngoèo.

Hai gã đàn ông ngồi bên cạnh hắn nhìn nhau. Một gã nhướng cặp lông mày. Gã kia nhe răng cười và tiếp tục nhìn lướt qua ly cà phê đến chỗ cô đang rưới sô-cô-la lên kem. Khi cô bắt đầu lắc cái bình để trộn kem, hắn đứng dậy, bỏ đĩa đồ ăn, bước ra cửa. Hắn nghe vợ hắn gọi, nhưng hắn vẫn tiếp tục đi.

Hắn kiểm soát bọn trẻ rồi đi vào phòng ngủ và cởi bỏ áo quần. Hắn kéo chăn lên người, nhắm mắt, suy nghĩ lông bông. Cái cảm giác lan tràn trên mặt hắn lan xuống bụng và chân hắn. Hắn mở mắt lăn qua lăn lại trên gối. Cuối cùng hắn nằm nghiêng và chìm vào giấc ngủ.

Buổi sáng, sau khi cô vợ đã chuẩn bị chu đáo cho bọn trẻ đi học, cô đi vào phòng ngủ và vén tấm mành. Hắn đã thức rồi.

“Em nhìn em trong gương đi,” hắn nói.

“Cái gì?” cô hỏi. “Anh nói cái gì vậy?”

“Thì cứ nhìn em ở trong gương mà xem,” hắn gằn giọng.

“Anh muốn em thấy cái gì?” cô nói. Nhưng rồi cô cũng quay lại nhìn vào tấm gương ở trên tủ áo và vén tóc ra khỏi bờ vai.

“Đấy?” hắn nói.

“Đấy cái gì?” cô nói.

“Anh ghét phải nói ra,” hắn nói, “nhưng anh nghĩ em nên thử kiêng ăn xem sao. Anh nói thật đấy. Anh nghĩ em nên giảm đi vài cân. Đừng có nổi nóng.”

“Anh nói cái gì vậy?” cô nói.

“Anh vừa nói rồi đấy. Anh nghĩ là em nên giảm đi vài cân. Vài cân thôi,” hắn nói.

“Trước đây có bao giờ anh nói gì đâu,” cô nói. Cô vén áo ngủ lên ngang hông và xoay người nhìn bụng mình trong gương.

“Trước đây anh nghĩ nó không quan trọng,” hắn nói. Hắn cố tìm chữ cho phù hợp.

Chiếc áo ngủ vẫn vén quanh hông cô, cô xoay lưng lại tấm gương và ngoái cổ lại nhìn. Cô nâng một bên mông trong lòng bàn tay và buông cho chảy xệ xuống.

Hắn nhắm mắt. “Vậy chắc là anh nói sai,” hắn nói.

“Em nghĩ em có thể giảm cân được. Nhưng cũng hơi khó,” cô nói.

“Em nói đúng, không phải là chuyện dễ,” hắn nói. “Nhưng anh sẽ giúp em.”

“Có thể là anh nói đúng,” cô nói. Cô buông cho chiếc áo ngủ thụng xuống, nhìn hắn, rồi cởi áo ngủ ra.

Họ nói chuyện về vấn đề kiêng ăn. Họ bàn về những thực đơn ăn kiêng có chất đạm, những thực đơn thuần rau cỏ. Nhưng họ quyết định là họ không đủ khả năng để mua thứ thịt bò mà thực đơn ăn kiêng có chất đạm đòi hỏi phải có. Và cô nói cô không thích những món ăn toàn rau với quả. Đồng thời cô cũng không thích nước ép trái bưởi cho lắm, thành ra cô không biết mình sẽ làm gì với thứ thực đơn ấy.

“Ô-kê, quên nó đi,” hắn nói.

“Không, anh nói đúng,” cô nói. “Em sẽ thử cái gì đó.”

“Hay là tập thể dục?” hắn nói.

“Làm ở chỗ em còn gấp cả chục lần thể dục,” cô nói.

“Hay là đừng ăn nữa,” hắn nói. “Chừng vài ngày thôi.”

“Cũng được,” cô nói. “Em sẽ thử. Vài ngày thì em sẽ thử. Anh đã thuyết phục được em rồi đó.”

“Anh chứ đâu phải đồ bỏ,” hắn nói.


Hắn tính nhẩm số tiền còn trong nhà băng, rồi lái xe tới tiệm bán hạ giá mua một chiếc cân trong nhà tắm. Hắn nhìn lướt qua cô gái tính tiền trong lúc cô ta đẩy cái cân qua máy.

Về nhà hắn bảo vợ cởi hết quần áo ra và bước lên cái cân. Hắn cau mày khi nhìn thấy những đường gân xanh. Hắn rà ngón tay dọc theo sợi gân xanh mọc tủa lên phía trên đùi của vợ.

“Anh làm gì vậy?” cô hỏi.

“Không làm gì hết,” hắn nói.

Hắn nhìn cái cân và viết con số xuống một mảnh giấy.

“Được rồi,” hắn nói. “Được rồi.”

Ngày hôm sau hắn đi vắng gần hết buổi chiều để dự phỏng vấn. Chủ hãng, người đàn ông to con bước đi khập khiễng chỉ cho hắn coi những bộ phận ống nước trong nhà kho, và hỏi hắn có thể đi xa được không.

“Dĩ nhiên là được chứ, tôi đang rảnh mà,” hắn nói.

Người đàn ông gật đầu.

Hắn mỉm cười.

Hắn nghe được tiếng máy truyền hình trong nhà trước khi mở cửa bước vào. Bọn trẻ không ngước lên nhìn khi hắn đi qua phòng khách. Trong bếp, vợ hắn, mặc đồ sẵn để đi làm, đang ăn trứng tráng và thịt heo muối.

“Em làm gì vậy?” hắn nói.

Cô ta tiếp tục nhai thức ăn, căng phồng hai má. Nhưng ngay lập tức cô nhổ tất cả đồ ăn trong miệng ra chiếc khăn giấy.

“Em nhịn không nổi,” cô nói.

“Cà chớn,” hắn nói. “Ngon mà, cứ ăn đi!”

Hắn đi vào phòng ngủ. Đóng cửa lại, và nằm trên tấm khăn trải giường. Hắn vẫn nghe được tiếng máy truyền hình. Hắn gối đầu lên hai cánh tay và nhìn đăm đăm lên trần nhà.

Cô vợ mở cửa.

“Em sẽ bắt đầu lại,” cô nói.

“Ô-kê,” hắn nói.

Hai hôm sau cô gọi hắn vào nhà tắm, “Coi nè,” cô nói.

Hắn đọc con số trên mặt chiếc cân. Hắn mở ngăn tủ lấy mảnh giấy và đọc con số trên cân trong khi cô mỉm cười.

“Giảm được ba phần tư pound rồi đấy,” cô nói.

“Ít ra cũng có giảm,” hắn nói và vỗ nhẹ lên hông cô.

Hắn đọc trang Rao Vặt. Hắn đến văn phòng tìm việc của tiểu bang. Cứ ba đến bốn ngày hắn lại lái xe đến nơi nào đó để dự phỏng vấn, và đêm xuống hắn ngồi đếm tiền tip của vợ. Hắn vuốt từng đồng tiền cho phẳng phiu trên mặt bàn và chồng những đồng năm xu, mười xu, hai mươi lăm xu thành từng cụm mỗi cụm một đô la. Mỗi sáng hắn bắt vợ đứng lên bàn cân.

Trong hai tuần lễ vợ hắn mất ba pounds rưỡi.

“Em bỏ ăn,” cô nói. “Em nhịn đói suốt ngày, ở chỗ làm cũng không ăn. Nhờ vậy đó.”

Nhưng một tuần sau, cô mất năm pounds. Tuần sau đó chín pounds rưỡi. Áo quần cô lỏng lẻo. Cô phải trích tiền thuê nhà ra để mua bộ đồng phục mới.

“Ở chỗ làm của em người ta xì xào,” cô nói.

“Xì xào cái gì?” hắn hỏi.

“Trước tiên là em xanh xao quá,” cô nói. “Trông không còn nhận ra em nữa. Họ sợ là em bị giảm cân nhiều quá.”

“Giảm cân thì sao?” hắn nói. “Em đừng để ý đến chúng nó. Bảo chúng nó lo chuyện của chúng nó đi. Chúng nó đâu phải là chồng của em. Em đâu có phải sống với chúng nó.”

“Nhưng em làm chung với họ,” vợ hắn nói.

“Đúng vậy,” hắn trả lời. “Nhưng chúng nó đâu phải là chồng của em.”

Mỗi sáng hắn theo cô vào nhà tắm và chờ cô bước lên bàn cân. Hắn quỳ xuống một tay cây bút chì, một tay mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy ghi đầy ngày tháng, và những con số. Hắn đọc con số trên bàn cân, nhìn qua mảnh giấy, và hoặc là gật gù hoặc dẩu mỏ ra.

Dạo này vợ hắn nằm miết trên giường. Cô vào giường ngủ sau khi sửa soạn cho bọn trẻ đi học, cô ngủ trưa trước khi đi làm. Hắn giúp đỡ việc vặt trong nhà, xem ti vi, và để cho vợ ngủ. Hắn lo luôn chuyện chợ búa, và thỉnh thoảng đi dự phỏng vấn tìm việc làm.

Một đêm kia cho bọn nhỏ đi ngủ xong, hắn tắt ti vi, và quyết định đi kiếm cái gì uống. Khi quán rượu đóng cửa, hắn lái xe đến quán cà phê.

Hắn ngồi chờ ở quầy. Hắn nhìn cô đi qua đi lại phía sau quầy. Sau cùng hắn gọi một cái cheeseburger. Cô đưa mảnh thực đơn cho người đầu bếp và đi tiếp khách ở bàn khác.

Một cô hầu bàn khác đem bình cà phê lại, rót đầy ly hắn.

“Bạn của em là ai vậy?” hắn hỏi cô gái và hất đầu về phía vợ hắn.

“Nó tên là Doreen,” cô hầu bàn nói.

“Trông cô ta khác hẳn lần trước tôi đến đây,” hắn nói.

“Em chẳng để ý,” cô hầu bàn nói.

Hắn ăn cái burger và uống cà phê. Khách hàng liên tục ra vào chỗ quầy hàng. Vợ hắn tiếp hầu hết khách hàng ngay tại quầy, thỉnh thoảng cô hầu bàn kia mới lại phụ tiếp khách. Hắn nhìn vợ và chăm chú lắng nghe. Hai lần hắn phải đứng dậy đi tiểu. Mỗi lần đi hắn đều lo là sẽ nghe hụt mất chuyện gì đó. Khi trở ra lần thứ nhì, ly cà phê của hắn đã bị dẹp mất và có người ngồi ở chỗ của hắn. Hắn kéo cái ghế, ngồi ở một đầu quầy kế bên một người đàn ông mặc áo sơ mi sọc.

“Anh muốn gì nữa?” vợ hắn hỏi khi trông thấy hắn. “Giờ này còn chưa chịu về nhà nữa à?”

“Cho anh chút cà phê,” hắn nói.

Người đàn ông ngồi kế bên hắn đang đọc báo. Ông ta ngước lên nhìn vợ hắn lúc cô rót cà phê cho hắn. Ông ta liếc theo cô lúc cô bước đi. Rồi ông ta quay về tờ báo.

Hắn nhấp một ngụm cà phê và chờ người đàn ông nói câu gì đó. Hắn liếc trộm ông ta. Người đàn ông đã ăn xong và đẩy cái đĩa qua một bên. Ông ta mồi điếu thuốc, gấp trang báo lại trước mặt và tiếp tục đọc.

Vợ hắn bước lại đổ thêm cà phê cho người đàn ông và lấy cái đĩa dơ đi.

“Ông thấy được không?” hắn vừa nói với người đàn ông vừa hất đầu về phía vợ hắn đang đi về cuối quầy. “Cũng ngon chứ hả?”

Người đàn ông ngẩng đầu lên. Ông ta nhìn vợ hắn rồi quay qua nhìn hắn và lại cúi xuống tờ báo.

“Nào, ông thấy sao?” hắn nói. “Tôi hỏi ông. Coi được hay không? Nói cho tôi biết.”

Người đàn ông giũ tờ báo.

Khi vợ hắn bước ra, hắn thúc vào vai người đàn ông và nói, “Tôi nói cho ông nghe này. Nghe đây. Nhìn cặp mông cô ta kìa. Nhìn đây nhé. Em cho anh một ly kem sô-cô-la.” Hắn nói vọng về phía cô.

Cô dừng lại trước mặt hắn và buông ra một tiếng thở dài. Rồi cô quay lưng lấy một cái đĩa và cái  muỗng múc kem. Cô khom người xuống tủ đá, nhấn cái muôi vào kem. Hắn nhìn người đàn ông và nháy mắt về phía chiếc váy của vợ hắn đang bị tốc lên phía trên đùi cô. Nhưng con mắt người đàn ông bắt gặp tia nhìn của cô hầu bàn khác. Rồi người đàn ông kẹp tờ báo dưới nách và thọc bàn tay vào túi.

Cô hầu bàn ấy đi thẳng đến chỗ vợ hắn. “Thằng cha mắc dịch nào vậy?” cô ta hỏi.

“Ai?” vợ hắn nói và đảo mắt nhìn quanh với đĩa kem trên tay.

“Thằng cha đó đó,” cô hầu bàn nói và hất đầu về phía hắn. “Thằng cha đó là ai vậy?”

Hắn cố cười thật tươi. Và giữ nụ cười ấy trên mặt. Giữ cho đến khi mặt hắn méo xệch đi.

Thế nhưng cô hầu bàn kia chỉ nhìn lướt qua hắn, còn vợ hắn thì khe khẽ lắc đầu. Người đàn ông đặt tiền lẻ lên bàn rồi đứng dậy, tuy nhiên ông ta cũng chờ để nghe câu trả lời. Cả ba người đều nhìn hắn chằm chặp.

“Anh ấy là dân chào hàng. Anh ấy là chồng tôi,” sau cùng vợ hắn nói, và nhún vai. Rồi cô đặt dĩa kem ăn dở dang trước mặt hắn và trở lại quầy để tính tiền cho hắn.

 Raymond Carver

Chuyển ngữ – Hoàng Chính

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 111126)
Giới thiệu của người dịch: Kể từ sau Marguerite Duras, tiểu thuyết Pháp đánh mất dần phẩm chất...Tháng 5-2005, nhà văn kỳ cựu Richard Millet, được xem người giữ đền thờ văn chương từ Bossuet đến Claude Simon , đã đánh chuông gọi hồn các đồng nghiệp đang vùi dập ngôn ngữ.
08 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 113450)
Chưa bao giờ truyện cổ tích trống vắng chủ đích, hay không lột trần sự bất nhẫn. Qua nhân vật Nam , một thanh niên Việt tỵ nạn tại Pháp, cô gái kể chuyện tìm thấy hoàng tử của lòng mình. Họ kết bạn, gặp lại, tâm sự, tự tạo ra một lãnh địa bí mật. Nhưng điều gì đó trốn tránh những động tác tình yêu: Thanh niên điển trai xem thiếu nữ như em gái.
08 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 123418)
Richard Millet sinh năm 1953 tại thành phố Viam, tỉnh Corrèze. Kể từ 1983 với tập truyện “L’invention du corps de Saint Marc”, ông được công nhận như một trong những nhà văn đương đại tại Pháp.
05 Tháng Tư 20093:11 SA(Xem: 111467)
LTS: Nhân dịp kỷ niệm 34 năm ngày thất thủ Sài Gòn, cũng nên nhìn lại biến cố giúp khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hòa [VNCH, 1955-1975], tức cuộc trưng cầu dân ý 23/10/1955. Bài này đã in trong Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004), và được hiệu đính bốn năm qua nhờ những tài liệu văn khố Phủ Tổng thống và Thủ tướng VNCH hiện lưu trữ tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II (thành phố HCM, tức Sài Gòn).
05 Tháng Tư 200912:05 SA(Xem: 104688)
D. MẬT ƯỚC TAY BA 18/12/1954: Ngày 18/12/1954 [The Pentagon Papers ghi 19/12/1954], nhân dịp họp tay ba các Ngoại trưởng ở Paris , Dulles, Eden và Mendès-France lại bàn về Việt Nam .
05 Tháng Tư 200912:03 SA(Xem: 116734)
IV. NGÀY TÀN CỦA BẢO ĐẠI: Việc Diệm quyết định đánh dẹp Bình Xuyên, ngược lại chỉ thị “ôn hòa” của Bảo Đại, khiến Bảo Đại chẳng còn lựa chọn nào khác hơn phản ứng mạnh với Diệm. Tuy nhiên, phản ứng của Bảo Đại chẳng khác gì tiếng vạc kêu sương. Uy quyền của Bảo Đại chỉ là thứ uy quyền trên giấy tờ, với sự phê chuẩn của những thế lực sau lưng.
05 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 100088)
Họ ngừng trò chuyện nơi đây vì xe đậu lại ngay trước khu chung cư năm tầng lầu. Đến nhà ông bà Mi-Sơ-Vanh rồi. Cả bọn lục tục ra khỏi xe. Lại nghe vang to rầm rầm tiếng cửa xe đóng mạnh.
05 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 106802)
C. CHẤM DỨT LIÊN MINH MỸ-PHÁP: Ngày Chủ Nhật, 8/5, nhân Hội nghị Tam cường và Hội nghị Bắc Đại Tây Dương từ ngày 9 tới 11/5/1955 tại Paris , Dulles, Faure và Macmillan họp bàn về Việt Nam . Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Kết Laforest (3-10/1955) trình bày tình hình Đông Dương.
28 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 134527)
Hai Ông Hoàng Xuân Hãn và Phan Anh đã nói gì về Bảo Đại, Trần Trọng Kim và chính phủ của hai ông này? (Bài thứ hai Viết thêm về hai ngày 19 tháng 8 và 2 tháng 9, 1945)
25 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 123676)
Tháng Ba của người lính ấy thật ra chỉ 11 ngày. Nửa đầu quyển sách là nhật ký hành quân giản lược của 10 ngày, mở ra với vài ngày tiên khởi của một cái vòng luẩn quẩn, tiến dần đến việc từng ngày, rồi từng giờ từng lúc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3792)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13217)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1714)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2224)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2330)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2165)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1895)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1296)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2330)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2539)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 204)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 760)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 965)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1034)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6368)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32098)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38814)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1398)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13868)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6864)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10622)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9941)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3420)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10316)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi