- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CỨU VỚT CẢ NHÂN GIAN

08 Tháng Chín 201911:54 CH(Xem: 47271)
hoang chinh9
Tranh- Hoàng Chính

 “Ối... giời đất ôi!” Tiếng rú hoảng kinh của người đàn bà dưới khoang thuyền vọng lên, tiếng được tiếng mất trong gió lộng khi con sóng hung hãn đập mạnh vào lớp vỏ kim loại bên mạn thuyền. Chiếc du thuyền chao chọng, lắc lư như món đồ chơi trong tay đứa trẻ tinh nghịch. Nước văng tung tóe lên cả mặt sàn gỗ đầy vân.

Người đàn ông một tay bám chặt lấy cột buồm, một tay rà lại những nút buộc chiếc áo phao mà gió gắn chặt vào người.

“Không sao đâu,” người đàn bà dán mình vào chỗ ngồi ởđuôi con tàu, chiếc áo phao màu cam sáng rực dưới ánh sáng mờ ảo của một ngày vừa chớm. Chị nghểnh cổ nói vọng xuống khoang. “Du thuyền chứ có phải ghe đánh cá của ngư dân đâu.” Rồi chị lẩm bẩm,“Đến siêu bão cũng chả sao.”

“Cứu mẹ con cháu với!” Tiếng gào khan của một người đàn bà văng vẳng trong tiếng hú của gió.

Người đàn ông nghểnh cổ, nhìn xuyên qua màn hơi nước mờ đục. “Hình như có người kêu cứu.” Anh ta nói lớn. Trái tim quýnh quáng trong lồng ngực.

Người đàn bà trong áo phao màu cam hỏi vọng lại, “Ông nói gì?”

“Có người.” Người đàn ông hét lớn.

“Có nghe gì đâu.” Người đàn bà lắc đầu nguầy nguậy, tay không ngừng vuốt nước loang trên mặt do những con sóng quăng lên.

Người đàn ông nheo hai con mắt trên khuôn mặt rám nắng, quả quyết, “Tiếng phụ nữ rõ ràng.”

Người đàn bà cười. Những chiếc răng trắng đều. “Lại mơ tưởng em út nào rồi.”

Người đàn ông lặng thinh. Anh không muốn gân cổ, cố át tiếng máy tàu để cãi với vợ. Gió vẫn lồng lộng thổi. Những hạt mưa lưa thưa vung vãi trong gió, quất lên mặt như những lằn roi. Bầu trời xám ngoắt như sắp đổ ụp xuống vũng nước mênh mông đen đúa, lô nhô vài mái nhà còn sót lại sau cơn cuồng nộ của mưa lũ và cuồng lưu đêm hôm trước.

“Có cái gì đeo theo mình, ông chủ ơi!” Người tài công hét về phía người đàn ông.

“Cái gì là cái gì?” người đàn ông vuốt ngược mái tóc ra sau, nói vọng về phía cuối tàu. “Mày coi xem nó là cái gì.”

Ở phía đuôi chiếc du thuyền sang trọng, một thanh niên gầy gò khoác chiếc áo mưa nhựa trong suốt dính sát vào thân người, lộ rõ chiếc áo thun có những chữ Coca Cola màu đỏ nhanh nhẹn khom mình nhìn xuống nước.

“Có người, ông chủ ạ.”

“Còn sống không?”

Trong một giây chỉ nghe tiếng xình xịch của máy tàu và tiếng gió ào ạt. Rồi tiếng người thanh niên vọng lên, như hụt hơi. “Chết rồi!”

“Sao nó lại đeo theo mình vậy?” người đàn ông nói. “Đẩy nó ra xa đi.”

Người đàn bà áo phao màu cam bỗng lên tiếng, “Đem về chôn dùm người ta không được à?”

“Không còn chỗ.” Người đàn ông ngắt lời người đàn bà.

“Hết chỗ rồi hai bác ạ.” Giọng một người đàn bà vọng lên từ hầm tàu. Và từ cái khoảng tối âm u ấy, vô số giọng nói vọng lên theo. “Hết chỗ rồi. Chật rồi. Đừng đem người chết lên đây hai bác ạ.”

“Bỏ người ta lạnh lẽo thấy tội.” Người đàn bà áo phao màu cam vừa ghì chặt sợi dây bố buộc trên thân tàu vừa lẩm bẩm.

“Chứ đem đi đâu bây giờ. Về nhà mình à?” Người đàn ông hầm hừ.

“Gỡ được rồi, tội nghiệp ông già chết trôi.” Người thanh niên lần theo lan can, đi về phía mũi chiếc du thuyền. Con thuyền chao nghiêng theo cơn gió giật và anh đạp lên đuôi một con chó đốm đang run rẩy nằm co bên cuộn dây thừng. Con vật kêu lên hoảng hốt.

“Sao thế. Cho con chó uống nước chưa?” Người đàn ông hỏi trống, tai anh vẫn nghe văng vẳng tiếng cầu cứu của ai đó. Nhưng anh tự nhủ, suốt mấy tiếng đồng hồ quần quật trong sóng nước, trên chiếc du thuyền mỏng manh, nghe không biết bao nhiêu tiếng kêu cầu cứu, hẳn tai anh đã bị nhiễu loạn bởi những tiếng la hét thất thần.

Anh nghe tiếng vợ anh cười, vàvang vang trong gió lộng cái giọng lanh lảnh, tiếng được tiếng mất, “Chó vừa suýt chết đuối... nước đầy trong bụng... Đúng là chỉ giỏi mê gái!”

“Đàng kia có cái nhà thờ,” người thanh niên cầm lái nói lớn.

“Nhà thờ huyện đấy.” Người đàn ông nói, đủ cho người thanh niên nghe. Nhà thờ huyện, nơi chôn giấu một điều không thể nói cho ai nghe. Tàáo dài trắng quyện trong gió những sớm mai tan lễ ngày Chúa Nhật. Người đàn ông khẽ lắc đầu, như xua đuổi những ý nghĩ rời, đồng thời giũ cho bay những giọt nước vương trên mặt, những giọt nước có vị tanh của cá chết trôi, và xác người chết đuối.

Anh nhìn xuống dòng nước đang cuồn cuộn quanh con thuyền. Những con sóng gồng lên như gân guốc trên cánh tay gã khổng lồ. Những con cá, vô số cá nổi lềnh bềnh, phơi những cái bụng trắng bệch lên mặt nước.

“Con Cúc...”Người đàn bà nói như gắt. Cái tênquen bất ngờ ấy kéo người đàn ông về chuyến cãi cọ rầm rộ của hai người đêm hôm trước. Tưởng đã qua, ai ngờ vẫn còn đó.

“Cái gì?”

“Con Cúc của ông...” Gió gắt và mưa tạt ngắt đôi câu nói của người đàn bà khiến chị phải ngưng ngang để vuốt mặt. “Ra sao rồi?”

“Lấy chồng rồi.” Câu trả lời tuột nhanh ra cửa miệng người đàn ông.

“Thế còn con Lan?”

“Xuất ngoại.”

“Con Hồng?”

“Lấy ngoại kiều.”

“Còn con Phượng nữa?” Người đàn bà vừa hỏi vừa một tay vuốt mặt, một tay bám chặt sợi dây thừng nối từ mạn thuyền lên cột buồm chính. Chiếc du thuyền lướt qua những mảnh mái tranh sũng nước trôi cuồn cuộn theo dòng cuồng lưu. Không nghe được câu trả lời bởi một cơn gió vừa tạt ngang, quăng một vạt nước tung tóe lên sàn tàu.

Người đàn bà hướng về phía người tài công, “Tuấn ơi, khu này nhiều nhà chưa bị nước cuốn.”Chị ngưng nói để phun mảng nước bùn vừa tạt lên mặt. “Đi vòng vòng tìm thêmngười...”

Tiếng dạ của người tài công loãng tan trong gió.

Người đàn bà ngước nhìn cái khối mây sũng nước xám xịt trên cao, rồi ngó sang người đàn ông đang dõi mắt theo những mảng mái tranh trôi bập bềnh. Những vướng mắc từ bao năm tháng qua cứ lẩn quẩn trong đầu, chị gằn giọng, “Sao không trả lời, ông kia?”

“Em lạ nhỉ, đang vớt nạn nhân lũ lụt...”

“Thì sao?”

“Hỏi toàn chuyện gì đâu.”

Người đàn bà trề môi, “Chỉ nói lảng là giỏi.”

“Gia đình ông Noah đâu có vậy...” Người đàn ông nói. Trong góc nhìn của anh, giữa khoảng trời xám đục, anh thấy người tài công đang vừa bẻ lái vừa cố giấu nụ cười.

Người đàn bà liếc nhìn những con mắt tò mò, lấp ló dưới khoang hầm tối mờ, đang dán vào mình, “Cũng lạ...”

Người đàn ông lặng thinh, ngoái cổ nhìn đăm đăm một mảng mái tranh trôi lềnh bềnh trên dòng nước. Cái gìđó xám xịt đeo dính vào mối dây lạt luồn ở một đầu mảng tranh rách tươm trông như con mèo xám. Lụt lội, tai ương, người với vật chung số phận. Ý nghĩ thoáng qua nhanh. Người đàn ông lắc đầu mạnh, vẩy những mảng nước từ trên tóc tràn vào hai mắt, làm nhòe hình ảnh con mèo ướt nhấp nhô trên lưng lũ sóng đen ngòm.

Người đàn bà lên giọng, “Đeo đuổi toàn những hoa là hoa.”

“Em bắt làm từ thiện, em bắt anh đổi tên du thuyền thành Thiện Tâm, em bảo có du thuyền thay vì đi chơi thì đi cứu người chết đuối, em bảo mình là gia đình ông Noah, cứu muôn loài, em bảo em muốn như vợ ông Noah...” Người đàn ông lẩm bẩm một thôi dài - cố lớn hơn tiếng gào của gió, đủ cho vợ nghe được, nhưng không quá lớn để lọt vào tai đám người chết đuối hụt dưới khoang – và nói xong, anh tưởng chừng mình sắp ngất đi vìđuối sức. Anh hít một hơi dài, hít luôn dòng nước chảy tuôn trên mặt. Và anh bật ho sặc sụa.

Chiếc du thuyền lảo đảo lách tránh một thân cổ thụ chỉ còn trơ những cành. Trận bão hôm trước đã vặt sạch hết lá.

“Cứu mẹ con tôi với!” Tiếng gào loãng trong gió. Tiếng một người đàn bà.

“Có người trên cây, có người trên cây!” Giọng người tài công đầy khích động.

“Có nghe thấy gì đâu!” Người đàn bà mặc áo phao màu cam nói, giọng đầy nghi hoặc.

“Có tiếng kêu, tui có nghe cô ạ.” Người đàn bà dưới hầm tàu ló khuôn mặt xương xẩu vào khung vuông tối ám, nói vọng lên.

Ở tuốt dưới hầm mà còn nghe ra được. Người đàn bà áo phao màu cam nheo mắt nhìn vào vũng tối dưới chân. Một bầy nheo nhóc dưới ấy. May mà mình đến kịp lúc chứ không mấy gia đình này bị nước cuốn đi mất rồi. Những gói mì thấm nước mưa, nước sông, nước hồ, và nước mắt… cả bọn đang chia nhau nhóp nhép nhai dưới ấy. Hình ảnh mờ ảo làm sống mũi người đàn bà cay cay. Chị cố nén tiếng thở dài. Nước mưa, nước sông, nước hồ văng tung tóe khắp nơi, cái thứ nước mằn mặn, chan chát, hôi hôi mùi bùn ùa cả vào miệng mỗi khi chịgắt gỏng với chồng. Cứ nghĩ phải uống thứ nước này no căng bụng trước khi chết quả là khốn khổ. Dạo này mưa lũ, bão bùng cứ thay nhau kéo về vùng đất nghèo khó này. Chị chớp mắt. Chị nghĩ đến cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh. Chị nhớ đến gia đình ông Noah. Ông bà Noah cứu được muôn loài nhưng lại bỏ rơi đồng loại. Chị vẫn nói với chồng – cái gã mèo mả gà đồng đang đứng lù lù trên sàn tàu kia - rằng chị mà là vợông Noah hồi đó thì chị sẽ bắt ông ấy cứu vớtcảnhân gian.

“Có người đeo trên cây,” người tài công nhắc.

Chợt bừng tỉnh, người đàn bà mau mắn ra lệnh, “Vậy thì quay lại, cứu người ta làm phước!”

Người đàn ông dán mắt vào cái khung nhòe nhoẹt, mập mờ ẩn hiện trong làn mưa. Trên cái nền xám ngoắt, lờ mờ cái gì đó trông như một thân người gầy gò ôm cứng cái túm nhàu nhòmang dáng hình đứa bé ở chỗ một cành mỏng manh gắn vào thân cây phía trước. Anh vuốt mặt, nheo mắt đăm đăm nhìn. Đúng là một người đàn bà. Tóc dài dính bết vào hai má. Hai con mắt sâu. Đôi vai mỏng. Đứa bé nằm yên trong cánh tay gầy guộc. Con mắt nhắm nghiền. Nước cuồn cuộn xoáy quanh thân cây khiến hai hình hài ấy cùng thân cây đu đưa bồng bềnh. Và trong một giây, ngực người đàn ông thắt lại. Âm thanh câu hỏi ban nãy của vợ rổn rảng trong óc anh. Còn con Phượng nữa. Còn con Phượng nữa…

Vợ anh cũng dán mắt vào khoảng không xám xịt. Thân cây gầy gò hằn rõ trên bầu trời. Hình ảnh càng lúc càng rõ nét. Thân người mỏng manh. Sống mũi cao và thẳng. Hai con mắt thất thần nhưng đẹp. Hai con mắt hút hồn đàn ông.

Bỗng dưng người đàn bà gằn giọng, “Quay trở lại!”

Người tài công ngơ ngác nhìn bà chủ rồi nhìn qua ông chủ. Không thấy ông chủ nói gì, anh ta đăm đăm nhìn bà chủ, “Nhưng... có hai người…”

“Quay lại ngay! Tao bảo quay lại ngay!” Người đàn bà đóng đinh giọng nói vào bức tường u uất của bầu trời.

Chiếc du thuyền đổi hướng thật gắt khiến mọi người chao nghiêng. Ai đó ậm ọe nôn mửa dưới hầm tàu.

Người tài công liếc nhìn ông chủ. Ông chủ cắn môi lặng thinh.

Người con gái có tên loài hoa học trò. Những năm tháng cách xa, tưởng sẽ không bao giờ gặp lại. Và đứa bé nữa. Nó có tội gì đâu.

“Em à, cứu mẹ con cô ấy một lần này thôi.” Người đàn ông cố gài chất dịu dàng vào giọng nói phải hét to để át tiếng gió và tiếng máy chiếc du thuyền có hai chữThiện Tâm màu huyết dụ vẽở bên hông.

Người đàn bà nhìn xăm xoi vào khoảng xám của bầu trời nhòe nhoẹt, lặng thinh.

“Anh với cô ấy đâu còn gì.” Người đàn ông nói, như van nài.

Người đàn bà vẫn lặng thinh. Hai hàm răng cắn chặt lấy nhau khiến chiếc cằm bạnh ra trên khuôn mặt - trước đó – tròn, đầy nét phúc hậu.

“Em muốn anh thay đổi, làm ông Noah trong Thánh Kinh, đi cứu người, em muốn làm vợ ông Noah,”người đàn ông kể lể. “Em đòi cứu vớt cả nhân gian!”

Người đàn bà vẫn lặng thinh. Hai mắt xoáy vào khung xám của bầu trời, nơi cất giấu những tháng ngày mòn mỏi mong người đàn ông của mình trở về.

Người đàn ông chập choạng bước về phía người đàn bà, và ngồi thụp xuống, đặt tay lên đầu gối vợ, “Hay là đem giùm mẹ con cô ấy...”

“Đem đi đâu?” Người đàn bà sẳng giọng.

“Lại nóc nhà thờ huyện, để người khác cứu.”

“Quay du thuyền lại, Tuấn!” Vừa nói người đàn bà vừa gạt tay người đàn ông ra như gạt một con sâu đáng tởm.

Chiếc du thuyền đổi hướng thật gắt. Tiếng máy gầm rú như con thú bị thương. Sàn gỗ đầy vân rung lên bần bật. Người đàn ông chống cả hai tay xuống sàn tàu cho khỏi bị quăng giạt ra lan can. Anh loạng choạng trở về phía mũi tàu, cốkhông đạp vào con chó lông sũng nước, đang co quắp run bần bật và rên ưử bên cuộn dây thừng. Bám chắc vào cây cột buồm, người đàn ông phun phì phì chỗ nước bùn vừa văng trúng mặt, con mắt xoáy vào khoảng mịt mùphía trước. Những mảng mái tranh nâu trôi lều bều giữa những con cá phơi bụng trắng hếu. Những ngọn cây lao đao. Cảnh vật chung quanh chuyển động không ngừng. Và gió, như gã say quần quật thổi.

Xa xa, mái nhà thờ loang lở những khoảng ngói bị nước cuốn trôi. Những thân người co cụm trên phần ngói đen xám. Những cánh tay vật vờ vẫy gọi.

“Tới chưa, sao lâu thế?” Giọng chủ cả của người đàn bà.

“Dạ… đã qua chỗ ấy, nhưng... không thấy cái cây…”

Người đàn ông vuốt mặt liên tục để lau sạch những giọt nước và như để lau những vết mờ đọng trên võng mạc khiến anh không thấy rõ được người thiếu phụ và đứa bé đu đưa trên ngọn cây èo uột.

Nhưng thân cây ấy đã không còn giữa mênh mông con nước.

“Nước cuốn rồi!” Người tài công phụ nói.

Người đàn bà nhìn quanh. Chỉ có mặt nước đen cuồn cuộn chảy và bầu trời xám ngoét trên cao.

Và chung quanh, bồng bềnh những xác người.

Và chung quanh, bập bềnh những con cá chết phơi bụng trắng hếu.

“Chắc cóai cứu,” người đàn bà nói.

Người đàn ông hùa theo, giọng mềm như sũng nước, “Chắc mẹ con cô ấy lên thuyền ai khác rồi!”

Người đàn bà ném cho chồng cái nhìn bén ngót. Chị không thích lối nói ví von – cái kiểu xuống thuyền, sang sông - đầy tình tứ và lãng mạn ấy nhưng chị không muốn cãi cọ thêm. Cái cô Phượng ấy sang thuyền ai chị không biết và cũng không cần biết, nhưng chị biết rõ từ sáng sớm.

 - lúc họ ra đây để cứu nạn nhân lũ lụt - đến giờ, chị chẳng thấy một chiếc ghe cấp cứu nào.

Hoàng Chính

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 7713)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 9993)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 9021)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 7264)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 6920)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 9830)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 9953)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 7285)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 9304)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 8192)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3805)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13236)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19624)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1554)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1724)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2236)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2363)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1416)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2179)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1947)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1315)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2351)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2545)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 216)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1053)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1412)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13871)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6868)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10631)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9830)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9953)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10756)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10331)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi