- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,478

CỨU VỚT CẢ NHÂN GIAN

08 Tháng Chín 201911:54 CH(Xem: 6810)
hoang chinh9
Tranh- Hoàng Chính

 i... giời đất ôi!” Tiếng rú hoảng kinh của người đàn bà dưới khoang thuyền vọng lên, tiếng được tiếng mất trong gió lộng khi con sóng hung hãn đập mạnh vào lớp vỏ kim loại bên mạn thuyền. Chiếc du thuyền chao chọng, lắc lư như món đồ chơi trong tay đứa trẻ tinh nghịch. Nước văng tung tóe lên cả mặt sàn gỗ đầy vân.

Người đàn ông một tay bám chặt lấy cột buồm, một tay rà lại những nút buộc chiếc áo phao mà gió gắn chặt vào người.

“Không sao đâu,” người đàn bà dán mình vào chỗ ngồi ởđuôi con tàu, chiếc áo phao màu cam sáng rực dưới ánh sáng mờ ảo của một ngày vừa chớm. Chị nghểnh cổ nói vọng xuống khoang. “Du thuyền chứ có phải ghe đánh cá của ngư dân đâu.” Rồi chị lẩm bẩm,“Đến siêu bão cũng chả sao.”

“Cứu mẹ con cháu với!” Tiếng gào khan của một người đàn bà văng vẳng trong tiếng hú của gió.

Người đàn ông nghểnh cổ, nhìn xuyên qua màn hơi nước mờ đục. “Hình như có người kêu cứu.” Anh ta nói lớn. Trái tim quýnh quáng trong lồng ngực.

Người đàn bà trong áo phao màu cam hỏi vọng lại, “Ông nói gì?”

“Có người.” Người đàn ông hét lớn.

“Có nghe gì đâu.” Người đàn bà lắc đầu nguầy nguậy, tay không ngừng vuốt nước loang trên mặt do những con sóng quăng lên.

Người đàn ông nheo hai con mắt trên khuôn mặt rám nắng, quả quyết, “Tiếng phụ nữ rõ ràng.”

Người đàn bà cười. Những chiếc răng trắng đều. “Lại mơ tưởng em út nào rồi.”

Người đàn ông lặng thinh. Anh không muốn gân cổ, cố át tiếng máy tàu để cãi với vợ. Gió vẫn lồng lộng thổi. Những hạt mưa lưa thưa vung vãi trong gió, quất lên mặt như những lằn roi. Bầu trời xám ngoắt như sắp đổ ụp xuống vũng nước mênh mông đen đúa, lô nhô vài mái nhà còn sót lại sau cơn cuồng nộ của mưa lũ và cuồng lưu đêm hôm trước.

“Có cái gì đeo theo mình, ông chủ ơi!” Người tài công hét về phía người đàn ông.

Cái gì là cái gì?” người đàn ông vuốt ngược mái tóc ra sau, nói vọng về phía cuối tàu. “Mày coi xem nó là cái gì.”

Ở phía đuôi chiếc du thuyền sang trọng, một thanh niên gầy gò khoác chiếc áo mưa nhựa trong suốt dính sát vào thân người, lộ rõ chiếc áo thun có những chữ Coca Cola màu đỏ nhanh nhẹn khom mình nhìn xuống nước.

“Có người, ông chủ ạ.”

“Còn sống không?”

Trong một giây chỉ nghe tiếng xình xịch của máy tàu và tiếng gió ào ạt. Rồi tiếng người thanh niên vọng lên, như hụt hơi. “Chết rồi!”

“Sao nó lại đeo theo mình vậy?” người đàn ông nói. “Đẩy nó ra xa đi.”

Người đàn bà áo phao màu cam bỗng lên tiếng, “Đem về chôn dùm người ta không được à?”

“Không còn chỗ.” Người đàn ông ngắt lời người đàn bà.

“Hết chỗ rồi hai bác ạ.” Giọng một người đàn bà vọng lên từ hầm tàu. Và từ cái khoảng tối âm u ấy, vô số giọng nói vọng lên theo. “Hết chỗ rồi. Chật rồi. Đừng đem người chết lên đây hai bác ạ.”

“Bỏ người ta lạnh lẽo thấy tội.” Người đàn bà áo phao màu cam vừa ghì chặt sợi dây bố buộc trên thân tàu vừa lẩm bẩm.

“Chứ đem đi đâu bây giờ. Về nhà mình à?” Người đàn ông hầm hừ.

“Gỡ được rồi, tội nghiệp ông già chết trôi.” Người thanh niên lần theo lan can, đi về phía mũi chiếc du thuyền. Con thuyền chao nghiêng theo cơn gió giật và anh đạp lên đuôi một con chó đốm đang run rẩy nằm co bên cuộn dây thừng. Con vật kêu lên hoảng hốt.

“Sao thế. Cho con chó uống nước chưa?” Người đàn ông hỏi trống, tai anh vẫn nghe văng vẳng tiếng cầu cứu của ai đó. Nhưng anh tự nhủ, suốt mấy tiếng đồng hồ quần quật trong sóng nước, trên chiếc du thuyền mỏng manh, nghe không biết bao nhiêu tiếng kêu cầu cứu, hẳn tai anh đã bị nhiễu loạn bởi những tiếng la hét thất thần.

Anh nghe tiếng vợ anh cười, vàvang vang trong gió lộng cái giọng lanh lảnh, tiếng được tiếng mất, “Chó vừa suýt chết đuối... nước đầy trong bụng... Đúng là chỉ giỏi mê gái!”

“Đàng kia có cái nhà thờ,” người thanh niên cầm lái nói lớn.

“Nhà thờ huyện đấy.” Người đàn ông nói, đủ cho người thanh niên nghe. Nhà thờ huyện, nơi chôn giấu một điều không thể nói cho ai nghe. Tàáo dài trắng quyện trong gió những sớm mai tan lễ ngày Chúa Nhật. Người đàn ông khẽ lắc đầu, như xua đuổi những ý nghĩ rời, đồng thời giũ cho bay những giọt nước vương trên mặt, những giọt nước có vị tanh của cá chết trôi, và xác người chết đuối.

Anh nhìn xuống dòng nước đang cuồn cuộn quanh con thuyền. Những con sóng gồng lên như gân guốc trên cánh tay gã khổng lồ. Những con cá, vô số cá nổi lềnh bềnh, phơi những cái bụng trắng bệch lên mặt nước.

“Con Cúc...”Người đàn bà nói như gắt. Cái tênquen bất ngờ ấy kéo người đàn ông về chuyến cãi cọ rầm rộ của hai người đêm hôm trước. Tưởng đã qua, ai ngờ vẫn còn đó.

“Cái gì?”

“Con Cúc của ông...” Gió gắt và mưa tạt ngắt đôi câu nói của người đàn bà khiến chị phải ngưng ngang để vuốt mặt. “Ra sao rồi?”

“Lấy chồng rồi.” Câu trả lời tuột nhanh ra cửa miệng người đàn ông.

“Thế còn con Lan?”

“Xuất ngoại.”

“Con Hồng?”

“Lấy ngoại kiều.”

“Còn con Phượng nữa?” Người đàn bà vừa hỏi vừa một tay vuốt mặt, một tay bám chặt sợi dây thừng nối từ mạn thuyền lên cột buồm chính. Chiếc du thuyền lướt qua những mảnh mái tranh sũng nước trôi cuồn cuộn theo dòng cuồng lưu. Không nghe được câu trả lời bởi một cơn gió vừa tạt ngang, quăng một vạt nước tung tóe lên sàn tàu.

Người đàn bà hướng về phía người tài công, “Tuấn ơi, khu này nhiều nhà chưa bị nước cuốn.”Chị ngưng nói để phun mảng nước bùn vừa tạt lên mặt. “Đi vòng vòng tìm thêmngười...”

Tiếng dạ của người tài công loãng tan trong gió.

Người đàn bà ngước nhìn cái khối mây sũng nước xám xịt trên cao, rồi ngó sang người đàn ông đang dõi mắt theo những mảng mái tranh trôi bập bềnh. Những vướng mắc từ bao năm tháng qua cứ lẩn quẩn trong đầu, chị gằn giọng, “Sao không trả lời, ông kia?”

“Em lạ nhỉ, đang vớt nạn nhân lũ lụt...”

“Thì sao?”

“Hỏi toàn chuyện gì đâu.”

Người đàn bà trề môi, “Chỉ nói lảng là giỏi.”

“Gia đình ông Noah đâu có vậy...” Người đàn ông nói. Trong góc nhìn của anh, giữa khoảng trời xám đục, anh thấy người tài công đang vừa bẻ lái vừa cố giấu nụ cười.

Người đàn bà liếc nhìn những con mắt tò mò, lấp ló dưới khoang hầm tối mờ, đang dán vào mình, “Cũng lạ...”

Người đàn ông lặng thinh, ngoái cổ nhìn đăm đăm một mảng mái tranh trôi lềnh bềnh trên dòng nước. Cái gìđó xám xịt đeo dính vào mối dây lạt luồn ở một đầu mảng tranh rách tươm trông như con mèo xám. Lụt lội, tai ương, người với vật chung số phận. Ý nghĩ thoáng qua nhanh. Người đàn ông lắc đầu mạnh, vẩy những mảng nước từ trên tóc tràn vào hai mắt, làm nhòe hình ảnh con mèo ướt nhấp nhô trên lưng lũ sóng đen ngòm.

Người đàn bà lên giọng, “Đeo đuổi toàn những hoa là hoa.”

“Em bắt làm từ thiện, em bắt anh đổi tên du thuyền thành Thiện Tâm, em bảo có du thuyền thay vì đi chơi thì đi cứu người chết đuối, em bảo mình là gia đình ông Noah, cứu muôn loài, em bảo em muốn như vợ ông Noah...” Người đàn ông lẩm bẩm một thôi dài - cố lớn hơn tiếng gào của gió, đủ cho vợ nghe được, nhưng không quá lớn để lọt vào tai đám người chết đuối hụt dưới khoang – và nói xong, anh tưởng chừng mình sắp ngất đi vìđuối sức. Anh hít một hơi dài, hít luôn dòng nước chảy tuôn trên mặt. Và anh bật ho sặc sụa.

Chiếc du thuyền lảo đảo lách tránh một thân cổ thụ chỉ còn trơ những cành. Trận bão hôm trước đã vặt sạch hết lá.

“Cứu mẹ con tôi với!” Tiếng gào loãng trong gió. Tiếng một người đàn bà.

“Có người trên cây, có người trên cây!” Giọng người tài công đầy khích động.

“Có nghe thấy gì đâu!” Người đàn bà mặc áo phao màu cam nói, giọng đầy nghi hoặc.

“Có tiếng kêu, tui có nghe cô ạ.” Người đàn bà dưới hầm tàu ló khuôn mặt xương xẩu vào khung vuông tối ám, nói vọng lên.

Ở tuốt dưới hầm mà còn nghe ra được. Người đàn bà áo phao màu cam nheo mắt nhìn vào vũng tối dưới chân. Một bầy nheo nhóc dưới ấy. May mà mình đến kịp lúc chứ không mấy gia đình này bị nước cuốn đi mất rồi. Những gói mì thấm nước mưa, nước sông, nước hồ, và nước mắt… cả bọn đang chia nhau nhóp nhép nhai dưới ấy. Hình ảnh mờ ảo làm sống mũi người đàn bà cay cay. Chị cố nén tiếng thở dài. Nước mưa, nước sông, nước hồ văng tung tóe khắp nơi, cái thứ nước mằn mặn, chan chát, hôi hôi mùi bùn ùa cả vào miệng mỗi khi chịgắt gỏng với chồng. Cứ nghĩ phải uống thứ nước này no căng bụng trước khi chết quả là khốn khổ. Dạo này mưa lũ, bão bùng cứ thay nhau kéo về vùng đất nghèo khó này. Chị chớp mắt. Chị nghĩ đến cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh. Chị nhớ đến gia đình ông Noah. Ông bà Noah cứu được muôn loài nhưng lại bỏ rơi đồng loại. Chị vẫn nói với chồng – cái gã mèo mả gà đồng đang đứng lù lù trên sàn tàu kia - rằng chị mà là vợông Noah hồi đó thì chị sẽ bắt ông ấy cứu vớtcảnhân gian.

“Có người đeo trên cây,” người tài công nhắc.

Chợt bừng tỉnh, người đàn bà mau mắn ra lệnh, “Vậy thì quay lại, cứu người ta làm phước!”

Người đàn ông dán mắt vào cái khung nhòe nhoẹt, mập mờ ẩn hiện trong làn mưa. Trên cái nền xám ngoắt, lờ mờ cái gì đó trông như một thân người gầy gò ôm cứng cái túm nhàu nhòmang dáng hình đứa bé ở chỗ một cành mỏng manh gắn vào thân cây phía trước. Anh vuốt mặt, nheo mắt đăm đăm nhìn. Đúng là một người đàn bà. Tóc dài dính bết vào hai má. Hai con mắt sâu. Đôi vai mỏng. Đứa bé nằm yên trong cánh tay gầy guộc. Con mắt nhắm nghiền. Nước cuồn cuộn xoáy quanh thân cây khiến hai hình hài ấy cùng thân cây đu đưa bồng bềnh. Và trong một giây, ngực người đàn ông thắt lại. Âm thanh câu hỏi ban nãy của vợ rổn rảng trong óc anh. Còn con Phượng nữa. Còn con Phượng nữa…

Vợ anh cũng dán mắt vào khoảng không xám xịt. Thân cây gầy gò hằn rõ trên bầu trời. Hình ảnh càng lúc càng rõ nét. Thân người mỏng manh. Sống mũi cao và thẳng. Hai con mắt thất thần nhưng đẹp. Hai con mắt hút hồn đàn ông.

Bỗng dưng người đàn bà gằn giọng, “Quay trở lại!”

Người tài công ngơ ngác nhìn bà chủ rồi nhìn qua ông chủ. Không thấy ông chủ nói gì, anh ta đăm đăm nhìn bà chủ, “Nhưng... có hai người…”

“Quay lại ngay! Tao bảo quay lại ngay!” Người đàn bà đóng đinh giọng nói vào bức tường u uất của bầu trời.

Chiếc du thuyền đổi hướng thật gắt khiến mọi người chao nghiêng. Ai đó ậm ọe nôn mửa dưới hầm tàu.

Người tài công liếc nhìn ông chủ. Ông chủ cắn môi lặng thinh.

Người con gái có tên loài hoa học trò. Những năm tháng cách xa, tưởng sẽ không bao giờ gặp lại. Và đứa bé nữa. Nó có tội gì đâu.

“Em à, cứu mẹ con cô ấy một lần này thôi.” Người đàn ông cố gài chất dịu dàng vào giọng nói phải hét to để át tiếng gió và tiếng máy chiếc du thuyền có hai chữThiện Tâm màu huyết dụ vẽở bên hông.

Người đàn bà nhìn xăm xoi vào khoảng xám của bầu trời nhòe nhoẹt, lặng thinh.

“Anh với cô ấy đâu còn gì.” Người đàn ông nói, như van nài.

Người đàn bà vẫn lặng thinh. Hai hàm răng cắn chặt lấy nhau khiến chiếc cằm bạnh ra trên khuôn mặt - trước đó – tròn, đầy nét phúc hậu.

“Em muốn anh thay đổi, làm ông Noah trong Thánh Kinh, đi cứu người, em muốn làm vợ ông Noah,”người đàn ông kể lể. “Em đòi cứu vớt cả nhân gian!”

Người đàn bà vẫn lặng thinh. Hai mắt xoáy vào khung xám của bầu trời, nơi cất giấu những tháng ngày mòn mỏi mong người đàn ông của mình trở về.

Người đàn ông chập choạng bước về phía người đàn bà, và ngồi thụp xuống, đặt tay lên đầu gối vợ, “Hay là đem giùm mẹ con cô ấy...”

“Đem đi đâu?” Người đàn bà sẳng giọng.

“Lại nóc nhà thờ huyện, để người khác cứu.”

“Quay du thuyền lại, Tuấn!” Vừa nói người đàn bà vừa gạt tay người đàn ông ra như gạt một con sâu đáng tởm.

Chiếc du thuyền đổi hướng thật gắt. Tiếng máy gầm rú như con thú bị thương. Sàn gỗ đầy vân rung lên bần bật. Người đàn ông chống cả hai tay xuống sàn tàu cho khỏi bị quăng giạt ra lan can. Anh loạng choạng trở về phía mũi tàu, cốkhông đạp vào con chó lông sũng nước, đang co quắp run bần bật và rên ưử bên cuộn dây thừng. Bám chắc vào cây cột buồm, người đàn ông phun phì phì chỗ nước bùn vừa văng trúng mặt, con mắt xoáy vào khoảng mịt mùphía trước. Những mảng mái tranh nâu trôi lều bều giữa những con cá phơi bụng trắng hếu. Những ngọn cây lao đao. Cảnh vật chung quanh chuyển động không ngừng. Và gió, như gã say quần quật thổi.

Xa xa, mái nhà thờ loang lở những khoảng ngói bị nước cuốn trôi. Những thân người co cụm trên phần ngói đen xám. Những cánh tay vật vờ vẫy gọi.

“Tới chưa, sao lâu thế?” Giọng chủ cả của người đàn bà.

“Dạ… đã qua chỗ ấy, nhưng... không thấy cái cây…”

Người đàn ông vuốt mặt liên tục để lau sạch những giọt nước và như để lau những vết mờ đọng trên võng mạc khiến anh không thấy rõ được người thiếu phụ và đứa bé đu đưa trên ngọn cây èo uột.

Nhưng thân cây ấy đã không còn giữa mênh mông con nước.

“Nước cuốn rồi!” Người tài công phụ nói.

Người đàn bà nhìn quanh. Chỉ có mặt nước đen cuồn cuộn chảy và bầu trời xám ngoét trên cao.

Và chung quanh, bồng bềnh những xác người.

Và chung quanh, bập bềnh những con cá chết phơi bụng trắng hếu.

“Chắc cóai cứu,” người đàn bà nói.

Người đàn ông hùa theo, giọng mềm như sũng nước, “Chắc mẹ con cô ấy lên thuyền ai khác rồi!”

Người đàn bà ném cho chồng cái nhìn bén ngót. Chị không thích lối nói ví von – cái kiểu xuống thuyền, sang sông - đầy tình tứ và lãng mạn ấy nhưng chị không muốn cãi cọ thêm. Cái cô Phượng ấy sang thuyền ai chị không biết và cũng không cần biết, nhưng chị biết rõ từ sáng sớm.

 - lúc họ ra đây để cứu nạn nhân lũ lụt - đến giờ, chị chẳng thấy một chiếc ghe cấp cứu nào.

Hoàng Chính

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1037)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1123)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1812)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5837)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5815)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13168)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30049)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81153)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20226)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 173)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối