- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ngày Nhật Thực

09 Tháng Tư 20152:57 SA(Xem: 63702)


TangThanhHa 2
Ảnh Phạm Hoài Nam

         
               Ở thị trấn Phụng Hiệp Hậu Giang có một cồn đất lạ - Cồn Tiên nổi chính giữa dòng sông Ngã Bảy. Chếch lên vài mét, theo hướng Đông- Bắc, lồ lộ một vòng xoáy nơi hội tụ bảy dòng kinh nước ngọt. Vài năm trước, đúng ngày nhật thực, ngày mặt trăng cưỡng hôn mặt trời, đất tối sầm hỗn mang, dân thị trấn bạt hồn bạt vía khi thấy những đám ma trơi dập dờn mặt nước sông, kinh hoàng, vài cột nước sủi bọt dựng đứng tại vòng xoáy, kèm theo tiếng nổ lác đác và xác dăm con cá sấu (sổng chuồng) banh thây đỏ ngầu. Người duy vật chép miệng dạy đời. Bày đặt, ba cái đám lân tinh và khí metan nổi giận từ đáy sông, chứ có gì đâu. Kẻ duy tâm lại thì thầm, hồn ma cậu Chín đó. Ổng đang dằn vặt về hai chữ hạnh phúc. Chết rồi, chẳng được yên thân, phải ray rứt vì tiếng đồn tằng tịu với dì Cúc, oan nghiệt.

Dì Cúc nê cái bụng bầu bảy tháng lặt lè chăm vườn hoa cúc trắng. Chỉ có Dì mới được sờ vào hoa, bất kể ngày đau ốm. Hai hàng hoa cúc trắng tạo thành lối đi zích zắc, rắc rối như cuộc đời của dì, chạy từ ngõ tận hiên nhà. Bây giờ chòm xóm đã quen dần cái bụng lúp xúp của dì. Dăm tháng trước, tin dì có bầu chấn động cả thị trấn nhỏ bé có duy nhất một con lộ. Dì không có chồng lẫn bạn trai mà có bầu. Nhiều người thấy dì từ xa đã lườm nguýt, bỏ đi mười thước vẫn còn nghe tiếng vọng khinh miệt, cô giáo mà chửa hoang (dù bây giờ dì chẳng còn dạy ai). Còn sắp nhỏ, thấy dì liền a lại, nhìn chằm chằm vô cái bụng bầu như nhìn người ngoài hành tinh. Thế nhưng dì vẫn bình thản, xem mọi chuyện nhẹ như sương sớm mai. Mẹ dì nhắc sao con cứ im lặng hoài. Dì chỉ cười, nhìn ra song cửa, rồi cắm cúi may áo quần.

          Cay độc hơn, dân thị trấn ác ý đồn tác giả bào thai chính là cậu Chín. Nhà cậu và dì gần như đối diện trên con đường chạy ngang chợ lúc nào cũng tấp nập, nhầy nhụa, và nhão nhẹt đầy dấu chân người. Chẳng qua bảy tháng trước, dì lên thành phố nghỉ hè nhằm lúc cậu lên đó dưỡng bệnh. Miệng thế gian quái lạ, cậu bị ung thư bao tử giai đoạn cuối, sao làm cha được chứ. Dì có vào bệnh viện ung bướu, cầm tay cậu mà khóc. Khóc vì bệnh, chỉ vậy thôi.

 Nhà cậu có hai mặt tiền. Phía trước buôn bán tấp nập ồn ào, đầy tiếng trả giá, la hét, chửi, vì hỏi mà không chịu mua. Những âm tạp nham, lắm khi lừa đảo của thời nói thách bán gian. Phía sau nhìn thẳng ra sông luôn ngập tràn gió mát yên tịnh, bông lục bình tím lặng lờ trôi theo con nước. Hai mặt tiền trái ngược nhau như hai mặt đối lập của cuộc đời, bất hạnh và hạnh phúc. Từ hiên nhà sau, thấy rõ mồn một Cồn Tiên và vòng xoáy giữa sông. Khi say cậu thường phán. Đó, hố đen sâu thẳm của nhân loại, nơi chôn vùi tất cả bất hạnh của con người. Con cháu phân trần, lỗ đen chứ. Cậu cười, tụi mày trẻ dại. Trong vũ trụ mơ hồ kia, mới gọi lỗ đen. Chứ trên mặt đất, mặt sông thế này, phải gọi hố đen chứ. Đây chính là trung tâm của miền đất chín con rồng. Nói xong, cậu Chín lại cười hà hà ra vẻ đắc ý.

          Cậu đang nửa ngồi nửa nằm trên chiếc ghế đu, miệng nghêu ngao vài câu vọng cổ bài Tình anh bán chiếu. Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên dòng kinh Ngã Bảy...Bàn chân trái giả của cậu (bị tai nạn lúc hoảng loạn năm bảy lăm) vẫn đung đưa muồi lắm theo năm nốt đàn Hò, Xự, Xang, Xê, Cống. Ai ngờ, bàn chân trái ấy lại song hành với giàu sang. Số là những năm tháng khó khăn cuối thập niên bảy mươi, cả dòng họ Nguyễn Tiên đều vượt biên. Cụt chân nên đành ở lại, thế là, khi không thừa hưởng mọi tài sản của dòng họ. Có bột mới gột lên hồ. Cậu giàu, phất lên từ đó.

          Dì Cúc thần tượng cậu dữ lắm. Cái gì cũng anh Chín. Thời trung học, cô bé Cúc nhà bên vẫn qua anh hàng xóm học lóm vài con chữ. Nhưng dì vẫn kính nhi viễn chi thôi, đâu dám mơ tưởng gì. Khi cậu dời nhà từ Cần Thơ về miệt Phụng Hiệp này, cậu đã yên bề gia thất. Cậu Chín lấy vợ sớm. Mới mười chín tuổi, ông nội đã dạm hỏi trầu cau đám cuối xóm. Ngày rước dâu, nghe đâu nhiều nàng ở Cần Thơ phải dấu lệ trong mắt. Rồi dì phải lòng anh kĩ sư thành phố về Phụng Hiệp sửa cầu Trắng.

          Năm đó, dì đang dạy học môn tiếng Anh ở trường cấp hai trong thị trấn. Thời sau Tết, mùa bông lục bình nở nhuộm tím ngát cả dòng sông. Màu bông tim tím giản dị, tinh khiết, nổi bật lên bên cạnh màu xanh mướt của lá. Lúc còn tuổi thơ dại, dì thường mơ mộng làm cô dâu phải cài bông lục bình tím… Đang vớt lục bình mà mắt dì len lén nhìn vào bờ. Vớt hoa lên ghe, hoa lại rớt xuống mặt sông. Mèn đéc ơi, hôm nay là ngày gì vậy cà. Dì thảng thốt. Trái tim của dì như muốn nổ tung. Máu trong người cứ rần rần. Chết thật. Có người đang tắm. Đúng ra chàng trai. Bắp tay ấy, vòng ngực ấy cứ cuồn cuộn nhấp nhô theo giọng hò.

          Hạnh phúc đang len lỏi trong tận trái tim của dì, nhưng Mẹ cứ nhắc hoài. Con trai thành phố khó tin. Đêm cuối tháng, trời tối chẳng thấy mặt người. Dì và anh kỹ sư lặng lẽ chèo ghe ra Cồn Tiên. Ảnh đi trước, gạt những đám cỏ tranh cao qua đầu người, cứ thế mà đi. Tình yêu có lí lẽ của nó. Người thường đố ai dám ra cồn buổi tối. Rắn đầy. Hai tay nắm chặt mái chèo. Vùn vụt, chỉ ba nhát phang, mấy cây cỏ tranh ngã gục đủ khoảng trống cho hai người. Hơi thở nóng, nỗi sợ rắn, khiến hai người nhích lại gần nhau. Cứ mỗi lần anh kỹ sư đưa tay qua, dì phải giữ riệt tay ảnh lại, quyết không cho qua vùng rốn. Hơi thở dì cứ dồn dập, hổn hểnh. Đến lần thứ năm, dì không còn tay mà giữ tay người … Vì hai bàn tay lại ôm chầm đôi mắt. Ánh sáng chói lòa. Không phải trời đầy sao, mà hàng trăm ngọn đuốc từ mặt sông liếm dần lên cồn đất. Giọng the thé đàn bà cất lên. Kiếm cho tao con Bạch Cúc. Người người chạy rần rần vang cả khúc sông. Bóng người đổ dài lên người dì. Có lẽ bóng không bao giờ đuổi kịp người, may mắn, chẳng ai nhìn thấy nhau. Dì hốt hoảng nhảy ùm xuống sông, lặn một hơi vô bờ. Đến nhà. Hoàn hồn, dì mới biết người ta đi đánh ghen. Ai ngờ anh kỹ sư đã có hôn thê tận Sài Gòn.

Dì tê tái tận cõi lòng. Tan nát. Ban giám hiệu trường lại băm nát tim dì lần nữa. Kiểm điểm. Chuyện đánh ghen vô cớ đã làm nhà trường bị tai tiếng. Bất hạnh đã đánh úp, đo ván dì một cách nghiệt ngã trong thời khắc dì không bao giờ ngờ đến. Dì quăng giáo án, quăng viết, về nhà dùng phấn, mở tiệm may. Dì chẳng còn tin ai, kể cả bản thân. Dì cũng chẳng buồn khóc. Tuyến lệ có lẽ đã khô cháy hết trong thời khốn khó ngày xưa. Hạnh phúc mãi đi tìm, còn bất hạnh chỉ là kẻ không mời mà đến.

Nhắc lại dì Cúc. Cậu chỉ cười lặng lẽ. Cái bao tử đang hành Cậu dữ quá. Tiếng cười ngạo mạn ngày xưa đã vắng trên môi. Số con Cúc vậy mà khổ. Đã bốn mươi tuổi già, bỗng nhiên mang tiếng thị phi. Hạnh phúc đâu có ngọt ngào dễ nắm bắt, mà xù xì trơn tuột lắm. Hạnh phúc như giọt mưa. Thấy, nhưng không thể hứng chặt giọt nước trong bàn tay. Đối với cậu, hạnh phúc, chẳng qua, trò chơi đong đầy của tạo hóa. Đạt hạnh phúc, thế nào chẳng sớm thì muộn cũng nếm mùi bất hạnh. Con người chính là sự kết hợp tinh tế của hai cỗ máy hạnh phúc và khổ đau. Đơn giản, trần tục vậy thôi. Cậu ném xuống sông hết ba cái định nghĩa khác về hạnh phúc của mấy triết gia. Ai mà còn tin họa là phúc, phúc là họa, phúc là những gì sau khi cho… vớ vẩn, rối rắm.

Cậu biết đời mình chỉ còn đếm từng ngày. Ung thư đã di căn khắp nơi. Lòng cậu thanh thản lắm. Người giàu nhất thị trấn, hỏi sao không hạnh phúc. Đời cậu cũng phiêu bạt giang hồ. Ngoài kia xô bồ, căng thẳng, ganh tị quá. Cậu bằng lòng ở cái miệt nhỏ này. Trong thị trấn, chẳng ai dám gọi cậu thằng cụt. Ai nấy đều cung kính một anh Hai, hai anh Hai. Từ phía sông, làn gió đêm chợt ùa vào nhà, đong đưa mành sáo. Tiếng chuông gió ngoài hiên leng keng lạnh lùng như đang nguyện hồn ai. Lảm nhảm một hồi, cậu thiếp đi với nụ cười viên mãn.

Đêm sắp qua. Chú đại bàng xanh nuôi trong nhà bỗng dưng vỗ cánh ầm ĩ, kêu thất thanh, bay về phía cồn Tiên. Cậu Chín qua đời đúng mười một giờ năm mươi chín phút khuya. Thời khắc cuối cùng ngày nhật thực. Ma chay xong, dân thị trấn giật mình. Tấm bảng tiệm may Bạch Cúc không còn. Hàng hoa cúc trắng xơ xác như vườn hoang.

Đêm cậu mất, dì Cúc chuyển dạ dù thai chưa đủ ngày đủ tháng. Phụ nữ lớn tuổi sanh con đầu lòng nhiều bất trắc. Dì sanh mổ, mệt, thiếp đi. Nhìn con, dì rất hạnh phúc, rồi ngất. Nước da trắng, khuôn mặt khôi ngô ấy, sao mà giống cậu Chín như hai giọt nước. Kể cả bàn chân trái bị teo (tuổi lớn sanh con dễ bị tật), giống như bàn chân trái cụt của cậu.

Căn nhà mặt tiền chợ dưới quê vẫn không bằng giá căn nhà xập xệ cấp bốn ở Sài Gòn. Dì bán hết những gì ở quê rồi cả nhà líu ríu lên thành phố. Mái nhà tôn, những đêm mưa, tiếng mưa rơi lộp bộp, buồn thê thảm. Từng giọt mưa rơi nháo nhào, rồi văng xa trên mái nhà, nghe như tiếng đồng hồ đếm thời gian. Dì không biết phải đếm xuôi hay đếm ngược để trông chờ hạnh phúc. Nhiều đêm hai mẹ con thủ thỉ với nhau. Con hỏi Mẹ. Con có cha không Mẹ. Ai cũng có Cha, con à. Cha con bỏ chúng ta đi xa lắm rồi. Dì vuốt lưng thằng bé, rồi thở dài xa vắng. Hay tiếng mưa buồn thế này, Cha đành ra đi. Thằng bé buông một câu nghe già chát.

 Thằng Mười, dì đặt tên con tỏ lòng kính trọng cậu Chín, càng lớn càng giống cậu. Nụ cười móm duyên, cái dáng đi liêu xiêu vì có tật bên bàn chân trái, không lẫn vào đâu được. Mười học rất giỏi, trừ cái tội hay lảm nhảm một mình, lúc trời chạng vạng. Có khi nào con mình mắc bệnh tự kỷ. Dì hay nghĩ thế. Ai ngờ, Mười có khả năng ngoại cảm.

Một hôm, Mười hớt hải chạy về. Hỏi Dì dồn dập. Cha con là ông Chín giàu nhất ở Phụng Hiệp, phải không Mẹ? Dì nghe mà toàn thân lạnh ngắt. Bất hạnh sao cứ theo hoài.

Mười tần ngần đứng trước căn nhà lầu năm tấm cao nhất thị trấn. Nhà cậu Chín. Mợ Chín nhìn Mười, nhìn lên bàn thờ, rồi xỉu. Thiên hạ đua nhau đến nhà mợ Chín xem đứa con rơi. Chẳng còn ai ở nhà, kể cả đám con nít. Nhìn cảnh ấy, Mười tẻn tò te, rồi tót thẳng ra Cồn Tiên. Phải sau năm buổi chiều nhập nhoạng, Mười mới gặp được hồn ma cậu Chín. Chợt nhìn thấy Mười, hồn ma chỉ biết ngửa mặt lên trời mà than. Bất hạnh đúng là kẻ vô tình, không mời mà đến. Làm sao ta có thể có con rơi thế này. Mà lại con với dì Cúc nữa. Hồn ma muốn khóc mà không được. Ma đâu có nước mắt.

Dòng họ Nguyễn Tiên mở cuộc họp báo độc nhất vô nhị tại Phụng Hiệp. Nhằm thanh minh cho người sống lẫn người đã khuất. Cả thị trấn vui như hội. Mười chẳng có cha, xét về mặt giấy tờ. Mười là kết tinh nền y học hiện đại, con thụ tinh nhân tạo. Năm đó, dì Cúc lên trung tâm hiếm muộn, đòi cho được tinh trùng người miền Tây. Người miền Tây đâu có thói quen hiến tinh trùng. Trong ngân hàng tinh trùng chỉ có một mẫu. Ngẫu nhiên hay oan nghiệt lại của cậu Chín. Dân thị trấn nhao nhao hẳn lên, quyết nhìn cho được mảnh giấy xác nhận của bệnh viện. Chỉ có dì bình thản nhất. Ai trố mắt chuyện ngộ quá. Dì cười. Ai xin lỗi vì lâu nay nghĩ oan. Dì cũng cười luôn.

Mười là con cậu Chín, theo di truyền học, dù hồn ma chẳng lấy dì Cúc bao giờ. Ngoài đời, nhìn Mười, người người đều nói con ông Chín. Hồn ma ray rức. Đâu nỡ để con nghèo khổ. Mà bây giờ hồn ma làm được gì nữa. Chết chưa phải là hết. Bất hạnh thật dai như đỉa. Hồn ma thăng nhưng lòng vẫn day dứt.

Rồi Mười mất tích.

Người duy tâm rỉ tai nhau. Có ông lão đánh cá thấy Mười lân la trên cồn Tiên đúng ngày nhật thực. Hồn ma nắm tay Mười bay, bật trên mặt nước sông đúng chín bước. Rồi cả hai rơi tõm xuống vòng xoáy, mặt sông chỉ còn đám bong bóng nước vật vờ. Kẻ duy vật tặc lưỡi lần nữa. Vẽ chuyện, mợ Chính đưa Mười qua Úc du học, chứ đi đâu mà mất tích.

Kể từ đó.

Không còn đám lửa lân tinh bùng cháy trên cồn Tiên.

Không còn cá sấu sẩy chuồng từ trại nuôi giống.

Không còn vòng xoáy trên dòng sông Ngã Bảy.

Chiếc cầu mới, mở đường quốc lộ chạy vòng quanh thị trấn (nay thị xã Ngã Bảy), đã uốn dòng chảy của sông. Có lẽ chẳng còn bất hạnh cho con người. 

Oan nghiệt dòng họ Nguyễn Tiên đã lắng. Những chiều buồn, dì Cúc thường ngồi một mình trên chiếc ghế đẩu trước hiên nhà, mỏi mắt ngóng  đứa con trai về. Bão trong lòng dì như đi cùng với những đám mây vần vũ ở trên đầu. Cơn mưa giải hạn đang về. Nhất định dì phải về miệt Phụng Hiệp, mua lại căn nhà xưa. Dì mơ về vườn hoa cúc ngay ngắn đẹp như tranh.

Mỗi lần đám giỗ cậu Chín, hiện một nhành hoa cúc trắng tinh khiết e ấp nằm sát bên mộ phần.

THÁI BẢO

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 147799)
đêm phố cổ tạ ơn một nàng thơ cuối cùng vẫn còn biết giật mình trước mắt đêm chai lì như mắt loài chuột cống
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119178)
“Theo Trần Trọng Kim nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt. Nhưng nói chắc là Thường Kiệt làm được thơ thì không có gì làm bằng cứ”[15]. Sau này, Bùi Văn Nguyên phân tích các cứ liệu và đoán định rằng: “Như vậy tác giả bài thơ “thần” này là khuyết danh”[16]. Bùi Duy Tân tiếp tục hướng này và chủ trương rằng “bài thơ này nên để khuyết danh tác giả”[17]...
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 100280)
Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 104813)
Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 120185)
Sư thày trụ trì ngôi chùa làng là người có học. Chẳng bao lâu hắn đã có thể trò chuyện như một người bạn tâm giao. Giáo lí nhà phật trong nhiều năm đã trở nên mờ nhạt với tuyệt đại đa số những con người tất bật với cuộc sống hôm nay. Cái hiểu biết về đền chùa miếu mạo của hắn cũng chỉ dừng ở mức không nhầm lẫn giữa nơi này với nơi khác. Bởi thế được trò chuyện với sư thày mỗi tháng vài lần là điều làm hắn vô cùng thích thú.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 143641)
Một cái chức nhỏ nhẹ Một cái chức lăn như cỏ lông chông Mơ đeo vào tay xòe ra giữa nắng Mơ đeo vào gót chân mỗi bước mỗi khua vang rổn rảng
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 128057)
Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buổi chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 142541)
một con thuyền dính bùa ngải của sông ý nghĩ găm đầy tháng năm mắc cạn em cố quên làm gì! khi ngay cả cánh tay anh cũng ảo
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 112841)
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngô Thế Vinh còn là một sinh viên y khoa, đảm nhiệm chức vụ chủ bút cho tạp chí Tình Thương, tờ báo của những người sinh viên áo trắng. Trong thời gian này tôi là một sĩ quan rất trẻ của QLVNCH. Cả Ngô Thế Vinh và tôi bị cuốn vào một biến động làm rung chuyển rừng núi Tây Nguyên: vụ nổi loạn đòi tự trị của những sắc tộc thiểu số, mà báo chí thời đó gọi là FULRO.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119426)
...Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3807)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13261)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1590)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1743)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2255)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2383)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1427)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2194)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1920)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1972)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1337)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2381)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2572)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2335)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 226)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 779)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 981)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1059)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6386)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15864)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38846)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1443)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13874)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6881)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10649)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9846)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9970)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10766)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11106)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10334)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi