- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,461,590

Ngày Nhật Thực

09 Tháng Tư 20152:57 SA(Xem: 16008)


TangThanhHa 2
Ảnh Phạm Hoài Nam

         
               Ở thị trấn Phụng Hiệp Hậu Giang có một cồn đất lạ - Cồn Tiên nổi chính giữa dòng sông Ngã Bảy. Chếch lên vài mét, theo hướng Đông- Bắc, lồ lộ một vòng xoáy nơi hội tụ bảy dòng kinh nước ngọt. Vài năm trước, đúng ngày nhật thực, ngày mặt trăng cưỡng hôn mặt trời, đất tối sầm hỗn mang, dân thị trấn bạt hồn bạt vía khi thấy những đám ma trơi dập dờn mặt nước sông, kinh hoàng, vài cột nước sủi bọt dựng đứng tại vòng xoáy, kèm theo tiếng nổ lác đác và xác dăm con cá sấu (sổng chuồng) banh thây đỏ ngầu. Người duy vật chép miệng dạy đời. Bày đặt, ba cái đám lân tinh và khí metan nổi giận từ đáy sông, chứ có gì đâu. Kẻ duy tâm lại thì thầm, hồn ma cậu Chín đó. Ổng đang dằn vặt về hai chữ hạnh phúc. Chết rồi, chẳng được yên thân, phải ray rứt vì tiếng đồn tằng tịu với dì Cúc, oan nghiệt.

Dì Cúc nê cái bụng bầu bảy tháng lặt lè chăm vườn hoa cúc trắng. Chỉ có Dì mới được sờ vào hoa, bất kể ngày đau ốm. Hai hàng hoa cúc trắng tạo thành lối đi zích zắc, rắc rối như cuộc đời của dì, chạy từ ngõ tận hiên nhà. Bây giờ chòm xóm đã quen dần cái bụng lúp xúp của dì. Dăm tháng trước, tin dì có bầu chấn động cả thị trấn nhỏ bé có duy nhất một con lộ. Dì không có chồng lẫn bạn trai mà có bầu. Nhiều người thấy dì từ xa đã lườm nguýt, bỏ đi mười thước vẫn còn nghe tiếng vọng khinh miệt, cô giáo mà chửa hoang (dù bây giờ dì chẳng còn dạy ai). Còn sắp nhỏ, thấy dì liền a lại, nhìn chằm chằm vô cái bụng bầu như nhìn người ngoài hành tinh. Thế nhưng dì vẫn bình thản, xem mọi chuyện nhẹ như sương sớm mai. Mẹ dì nhắc sao con cứ im lặng hoài. Dì chỉ cười, nhìn ra song cửa, rồi cắm cúi may áo quần.

          Cay độc hơn, dân thị trấn ác ý đồn tác giả bào thai chính là cậu Chín. Nhà cậu và dì gần như đối diện trên con đường chạy ngang chợ lúc nào cũng tấp nập, nhầy nhụa, và nhão nhẹt đầy dấu chân người. Chẳng qua bảy tháng trước, dì lên thành phố nghỉ hè nhằm lúc cậu lên đó dưỡng bệnh. Miệng thế gian quái lạ, cậu bị ung thư bao tử giai đoạn cuối, sao làm cha được chứ. Dì có vào bệnh viện ung bướu, cầm tay cậu mà khóc. Khóc vì bệnh, chỉ vậy thôi.

 Nhà cậu có hai mặt tiền. Phía trước buôn bán tấp nập ồn ào, đầy tiếng trả giá, la hét, chửi, vì hỏi mà không chịu mua. Những âm tạp nham, lắm khi lừa đảo của thời nói thách bán gian. Phía sau nhìn thẳng ra sông luôn ngập tràn gió mát yên tịnh, bông lục bình tím lặng lờ trôi theo con nước. Hai mặt tiền trái ngược nhau như hai mặt đối lập của cuộc đời, bất hạnh và hạnh phúc. Từ hiên nhà sau, thấy rõ mồn một Cồn Tiên và vòng xoáy giữa sông. Khi say cậu thường phán. Đó, hố đen sâu thẳm của nhân loại, nơi chôn vùi tất cả bất hạnh của con người. Con cháu phân trần, lỗ đen chứ. Cậu cười, tụi mày trẻ dại. Trong vũ trụ mơ hồ kia, mới gọi lỗ đen. Chứ trên mặt đất, mặt sông thế này, phải gọi hố đen chứ. Đây chính là trung tâm của miền đất chín con rồng. Nói xong, cậu Chín lại cười hà hà ra vẻ đắc ý.

          Cậu đang nửa ngồi nửa nằm trên chiếc ghế đu, miệng nghêu ngao vài câu vọng cổ bài Tình anh bán chiếu. Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên dòng kinh Ngã Bảy...Bàn chân trái giả của cậu (bị tai nạn lúc hoảng loạn năm bảy lăm) vẫn đung đưa muồi lắm theo năm nốt đàn Hò, Xự, Xang, Xê, Cống. Ai ngờ, bàn chân trái ấy lại song hành với giàu sang. Số là những năm tháng khó khăn cuối thập niên bảy mươi, cả dòng họ Nguyễn Tiên đều vượt biên. Cụt chân nên đành ở lại, thế là, khi không thừa hưởng mọi tài sản của dòng họ. Có bột mới gột lên hồ. Cậu giàu, phất lên từ đó.

          Dì Cúc thần tượng cậu dữ lắm. Cái gì cũng anh Chín. Thời trung học, cô bé Cúc nhà bên vẫn qua anh hàng xóm học lóm vài con chữ. Nhưng dì vẫn kính nhi viễn chi thôi, đâu dám mơ tưởng gì. Khi cậu dời nhà từ Cần Thơ về miệt Phụng Hiệp này, cậu đã yên bề gia thất. Cậu Chín lấy vợ sớm. Mới mười chín tuổi, ông nội đã dạm hỏi trầu cau đám cuối xóm. Ngày rước dâu, nghe đâu nhiều nàng ở Cần Thơ phải dấu lệ trong mắt. Rồi dì phải lòng anh kĩ sư thành phố về Phụng Hiệp sửa cầu Trắng.

          Năm đó, dì đang dạy học môn tiếng Anh ở trường cấp hai trong thị trấn. Thời sau Tết, mùa bông lục bình nở nhuộm tím ngát cả dòng sông. Màu bông tim tím giản dị, tinh khiết, nổi bật lên bên cạnh màu xanh mướt của lá. Lúc còn tuổi thơ dại, dì thường mơ mộng làm cô dâu phải cài bông lục bình tím… Đang vớt lục bình mà mắt dì len lén nhìn vào bờ. Vớt hoa lên ghe, hoa lại rớt xuống mặt sông. Mèn đéc ơi, hôm nay là ngày gì vậy cà. Dì thảng thốt. Trái tim của dì như muốn nổ tung. Máu trong người cứ rần rần. Chết thật. Có người đang tắm. Đúng ra chàng trai. Bắp tay ấy, vòng ngực ấy cứ cuồn cuộn nhấp nhô theo giọng hò.

          Hạnh phúc đang len lỏi trong tận trái tim của dì, nhưng Mẹ cứ nhắc hoài. Con trai thành phố khó tin. Đêm cuối tháng, trời tối chẳng thấy mặt người. Dì và anh kỹ sư lặng lẽ chèo ghe ra Cồn Tiên. Ảnh đi trước, gạt những đám cỏ tranh cao qua đầu người, cứ thế mà đi. Tình yêu có lí lẽ của nó. Người thường đố ai dám ra cồn buổi tối. Rắn đầy. Hai tay nắm chặt mái chèo. Vùn vụt, chỉ ba nhát phang, mấy cây cỏ tranh ngã gục đủ khoảng trống cho hai người. Hơi thở nóng, nỗi sợ rắn, khiến hai người nhích lại gần nhau. Cứ mỗi lần anh kỹ sư đưa tay qua, dì phải giữ riệt tay ảnh lại, quyết không cho qua vùng rốn. Hơi thở dì cứ dồn dập, hổn hểnh. Đến lần thứ năm, dì không còn tay mà giữ tay người … Vì hai bàn tay lại ôm chầm đôi mắt. Ánh sáng chói lòa. Không phải trời đầy sao, mà hàng trăm ngọn đuốc từ mặt sông liếm dần lên cồn đất. Giọng the thé đàn bà cất lên. Kiếm cho tao con Bạch Cúc. Người người chạy rần rần vang cả khúc sông. Bóng người đổ dài lên người dì. Có lẽ bóng không bao giờ đuổi kịp người, may mắn, chẳng ai nhìn thấy nhau. Dì hốt hoảng nhảy ùm xuống sông, lặn một hơi vô bờ. Đến nhà. Hoàn hồn, dì mới biết người ta đi đánh ghen. Ai ngờ anh kỹ sư đã có hôn thê tận Sài Gòn.

Dì tê tái tận cõi lòng. Tan nát. Ban giám hiệu trường lại băm nát tim dì lần nữa. Kiểm điểm. Chuyện đánh ghen vô cớ đã làm nhà trường bị tai tiếng. Bất hạnh đã đánh úp, đo ván dì một cách nghiệt ngã trong thời khắc dì không bao giờ ngờ đến. Dì quăng giáo án, quăng viết, về nhà dùng phấn, mở tiệm may. Dì chẳng còn tin ai, kể cả bản thân. Dì cũng chẳng buồn khóc. Tuyến lệ có lẽ đã khô cháy hết trong thời khốn khó ngày xưa. Hạnh phúc mãi đi tìm, còn bất hạnh chỉ là kẻ không mời mà đến.

Nhắc lại dì Cúc. Cậu chỉ cười lặng lẽ. Cái bao tử đang hành Cậu dữ quá. Tiếng cười ngạo mạn ngày xưa đã vắng trên môi. Số con Cúc vậy mà khổ. Đã bốn mươi tuổi già, bỗng nhiên mang tiếng thị phi. Hạnh phúc đâu có ngọt ngào dễ nắm bắt, mà xù xì trơn tuột lắm. Hạnh phúc như giọt mưa. Thấy, nhưng không thể hứng chặt giọt nước trong bàn tay. Đối với cậu, hạnh phúc, chẳng qua, trò chơi đong đầy của tạo hóa. Đạt hạnh phúc, thế nào chẳng sớm thì muộn cũng nếm mùi bất hạnh. Con người chính là sự kết hợp tinh tế của hai cỗ máy hạnh phúc và khổ đau. Đơn giản, trần tục vậy thôi. Cậu ném xuống sông hết ba cái định nghĩa khác về hạnh phúc của mấy triết gia. Ai mà còn tin họa là phúc, phúc là họa, phúc là những gì sau khi cho… vớ vẩn, rối rắm.

Cậu biết đời mình chỉ còn đếm từng ngày. Ung thư đã di căn khắp nơi. Lòng cậu thanh thản lắm. Người giàu nhất thị trấn, hỏi sao không hạnh phúc. Đời cậu cũng phiêu bạt giang hồ. Ngoài kia xô bồ, căng thẳng, ganh tị quá. Cậu bằng lòng ở cái miệt nhỏ này. Trong thị trấn, chẳng ai dám gọi cậu thằng cụt. Ai nấy đều cung kính một anh Hai, hai anh Hai. Từ phía sông, làn gió đêm chợt ùa vào nhà, đong đưa mành sáo. Tiếng chuông gió ngoài hiên leng keng lạnh lùng như đang nguyện hồn ai. Lảm nhảm một hồi, cậu thiếp đi với nụ cười viên mãn.

Đêm sắp qua. Chú đại bàng xanh nuôi trong nhà bỗng dưng vỗ cánh ầm ĩ, kêu thất thanh, bay về phía cồn Tiên. Cậu Chín qua đời đúng mười một giờ năm mươi chín phút khuya. Thời khắc cuối cùng ngày nhật thực. Ma chay xong, dân thị trấn giật mình. Tấm bảng tiệm may Bạch Cúc không còn. Hàng hoa cúc trắng xơ xác như vườn hoang.

Đêm cậu mất, dì Cúc chuyển dạ dù thai chưa đủ ngày đủ tháng. Phụ nữ lớn tuổi sanh con đầu lòng nhiều bất trắc. Dì sanh mổ, mệt, thiếp đi. Nhìn con, dì rất hạnh phúc, rồi ngất. Nước da trắng, khuôn mặt khôi ngô ấy, sao mà giống cậu Chín như hai giọt nước. Kể cả bàn chân trái bị teo (tuổi lớn sanh con dễ bị tật), giống như bàn chân trái cụt của cậu.

Căn nhà mặt tiền chợ dưới quê vẫn không bằng giá căn nhà xập xệ cấp bốn ở Sài Gòn. Dì bán hết những gì ở quê rồi cả nhà líu ríu lên thành phố. Mái nhà tôn, những đêm mưa, tiếng mưa rơi lộp bộp, buồn thê thảm. Từng giọt mưa rơi nháo nhào, rồi văng xa trên mái nhà, nghe như tiếng đồng hồ đếm thời gian. Dì không biết phải đếm xuôi hay đếm ngược để trông chờ hạnh phúc. Nhiều đêm hai mẹ con thủ thỉ với nhau. Con hỏi Mẹ. Con có cha không Mẹ. Ai cũng có Cha, con à. Cha con bỏ chúng ta đi xa lắm rồi. Dì vuốt lưng thằng bé, rồi thở dài xa vắng. Hay tiếng mưa buồn thế này, Cha đành ra đi. Thằng bé buông một câu nghe già chát.

 Thằng Mười, dì đặt tên con tỏ lòng kính trọng cậu Chín, càng lớn càng giống cậu. Nụ cười móm duyên, cái dáng đi liêu xiêu vì có tật bên bàn chân trái, không lẫn vào đâu được. Mười học rất giỏi, trừ cái tội hay lảm nhảm một mình, lúc trời chạng vạng. Có khi nào con mình mắc bệnh tự kỷ. Dì hay nghĩ thế. Ai ngờ, Mười có khả năng ngoại cảm.

Một hôm, Mười hớt hải chạy về. Hỏi Dì dồn dập. Cha con là ông Chín giàu nhất ở Phụng Hiệp, phải không Mẹ? Dì nghe mà toàn thân lạnh ngắt. Bất hạnh sao cứ theo hoài.

Mười tần ngần đứng trước căn nhà lầu năm tấm cao nhất thị trấn. Nhà cậu Chín. Mợ Chín nhìn Mười, nhìn lên bàn thờ, rồi xỉu. Thiên hạ đua nhau đến nhà mợ Chín xem đứa con rơi. Chẳng còn ai ở nhà, kể cả đám con nít. Nhìn cảnh ấy, Mười tẻn tò te, rồi tót thẳng ra Cồn Tiên. Phải sau năm buổi chiều nhập nhoạng, Mười mới gặp được hồn ma cậu Chín. Chợt nhìn thấy Mười, hồn ma chỉ biết ngửa mặt lên trời mà than. Bất hạnh đúng là kẻ vô tình, không mời mà đến. Làm sao ta có thể có con rơi thế này. Mà lại con với dì Cúc nữa. Hồn ma muốn khóc mà không được. Ma đâu có nước mắt.

Dòng họ Nguyễn Tiên mở cuộc họp báo độc nhất vô nhị tại Phụng Hiệp. Nhằm thanh minh cho người sống lẫn người đã khuất. Cả thị trấn vui như hội. Mười chẳng có cha, xét về mặt giấy tờ. Mười là kết tinh nền y học hiện đại, con thụ tinh nhân tạo. Năm đó, dì Cúc lên trung tâm hiếm muộn, đòi cho được tinh trùng người miền Tây. Người miền Tây đâu có thói quen hiến tinh trùng. Trong ngân hàng tinh trùng chỉ có một mẫu. Ngẫu nhiên hay oan nghiệt lại của cậu Chín. Dân thị trấn nhao nhao hẳn lên, quyết nhìn cho được mảnh giấy xác nhận của bệnh viện. Chỉ có dì bình thản nhất. Ai trố mắt chuyện ngộ quá. Dì cười. Ai xin lỗi vì lâu nay nghĩ oan. Dì cũng cười luôn.

Mười là con cậu Chín, theo di truyền học, dù hồn ma chẳng lấy dì Cúc bao giờ. Ngoài đời, nhìn Mười, người người đều nói con ông Chín. Hồn ma ray rức. Đâu nỡ để con nghèo khổ. Mà bây giờ hồn ma làm được gì nữa. Chết chưa phải là hết. Bất hạnh thật dai như đỉa. Hồn ma thăng nhưng lòng vẫn day dứt.

Rồi Mười mất tích.

Người duy tâm rỉ tai nhau. Có ông lão đánh cá thấy Mười lân la trên cồn Tiên đúng ngày nhật thực. Hồn ma nắm tay Mười bay, bật trên mặt nước sông đúng chín bước. Rồi cả hai rơi tõm xuống vòng xoáy, mặt sông chỉ còn đám bong bóng nước vật vờ. Kẻ duy vật tặc lưỡi lần nữa. Vẽ chuyện, mợ Chính đưa Mười qua Úc du học, chứ đi đâu mà mất tích.

Kể từ đó.

Không còn đám lửa lân tinh bùng cháy trên cồn Tiên.

Không còn cá sấu sẩy chuồng từ trại nuôi giống.

Không còn vòng xoáy trên dòng sông Ngã Bảy.

Chiếc cầu mới, mở đường quốc lộ chạy vòng quanh thị trấn (nay thị xã Ngã Bảy), đã uốn dòng chảy của sông. Có lẽ chẳng còn bất hạnh cho con người. 

Oan nghiệt dòng họ Nguyễn Tiên đã lắng. Những chiều buồn, dì Cúc thường ngồi một mình trên chiếc ghế đẩu trước hiên nhà, mỏi mắt ngóng  đứa con trai về. Bão trong lòng dì như đi cùng với những đám mây vần vũ ở trên đầu. Cơn mưa giải hạn đang về. Nhất định dì phải về miệt Phụng Hiệp, mua lại căn nhà xưa. Dì mơ về vườn hoa cúc ngay ngắn đẹp như tranh.

Mỗi lần đám giỗ cậu Chín, hiện một nhành hoa cúc trắng tinh khiết e ấp nằm sát bên mộ phần.

THÁI BẢO

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2494)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6439)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3338)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 854)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1050)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 753)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 916)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 841)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 1052)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 1032)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.