- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Người Đàn Bà Phía Bên Này Doi Đất

11 Tháng Mười Một 20143:00 SA(Xem: 58036)
ChauDoc-AnGiang-VN-nhn
Châu Đốc- An Giang- ảnh Nguyễn Hoàng Nam



K
hi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

*

Lần mở mắt thứ nhất là bầu trời xanh trong chói chang trên mặt sàn nước.
Ngày cô mới chào đời, mẹ của cô, theo tục lệ, đã vội ẵm cô trong bọc khăn rằn nhàu nhò ra chào sàn nước. Một dòng sông in bóng bầu trời xanh mênh mang mở ra trong con mắt ký ức của tuổi thơ. 
Tuổi thơ mênh mang ngập tràn nước.
Và từ đó trở đi, cuộc đời của cô gắn liền với sàn nước. Như cuộc đời của ngoại, của mẹ, của Gái chị, Gái em, Gái lớn và cô, Gái nhỏ rồi sẽ cắm xuống mặt sông, cột vào chân sàn nước của người đàn ông đã chọn mình.
Cũng như bao nhiêu làng xóm ven sông khác, nhà mẹ cô nằm vắt vẻo bên bờ sông, con sông chạy ngoằn ngoèo theo đường lộ cái. Con sông bao đời thân thuộc hơn con đường. Cái sàn nước, nhà nào cũng làm chồm ra mặt sông trở thành cái bộ mặt xanh mướt của mỗi nhà. 
Bước chân chập chững tập đi của cô chỉ loanh quanh nơi sàn nước, nơi mẹ cô ngồi lui cui, lưng còng, vai gầy cắm đầu xuống mặt sông vò tay đám áo quần cứng còng nhiễm phèn của cả nhà. Rồi Gái chị, Gái em, Gái lớn lần lượt giã từ sàn nước nhà mẹ từng chiều muộn tắt nắng với rất nhiều bịn rịn, lưu luyến rời sàn nước thân quen từ nhỏ để đến cột cuộc đời mình vào sàn nước nhà người đàn ông xa lạ nào đó.
Cuộc đời một người đàn bà chỉ tính bằng chiều dài cái sàn nước.
Một chiều mẹ ôm chặt cô vào lòng, mùi trầu, mùi dầu tràm quyện với mùi lục bình, mùi rong rêu quấn quanh chân cột sàn nước, cái mùi theo cô mãi những ngày đêm xa nhà trắc trở sau này, thành một mớ ký ức chòng chành và sóng sánh không ngừng:
- Cả đời mẹ đã cột chặt vào cái sàn nước này. Con phải đi xa khỏi cái sàn nước mới khá lên được
Bóng mẹ đổ dài qua bóng sàn, trượt xuống mặt sông, vỡ ra thành những vệt dài. Cái vệt dài mong nhớ đó đi theo cô hết phần đời còn lại.

Lần mở mắt thứ hai, là bầu trời xanh chao nghiêng hắt lên từ một lòng sông lạ.
Cô không còn nhớ nổi vì sao mình nằm chỏng chơ dưới lòng con thuyền này, neo cột vào một bến sông lạ. Chồm ra giữa mặt sông như một doi đất cô độc bị đánh rơi trên đường con sông vùng chạy ra biển. Đêm trước, cô còn nép trong vách phên lát tường hăng mùi trầu và áo quần con nít cũ của nhà mình. Đêm sau cô đã nằm ngửa trong lòng thuyền, mái tóc con gái 17 tuổi xổ tung lênh láng trăng muộn.

Đêm đó trăng 17, cô còn nhớ, và mùi người đàn ông xa lạ đó, mùi rượu nồng nặc, mùi áo quần bắt nắng khê nồng, mùi tanh của bùn đất dưới thân ghe… Tất cả ập vào cô cùng một lúc, cùng một câu nói qua kẽ răng, như nhát rựa chém vào cột sàn:
- Cô về đây là để trừ nợ, chẳng phải vợ chồng gì! Hiểu chưa?
Và từ đó đời cô bắt đầu tập quen với những chòng chành sóng sánh va lắc mới ở bên này doi đất.
Người đàn ông cô gọi là chồng, chưa bao giờ biết tên thật của cô. Trong cơn say bí tỉ mềm mụp mỗi khuya anh gọi cô bằng tất cả những cái tên anh học được từ những quán nhậu kiêm tiệm karaoke mọc lên chi chít như nấm đầu mùa mưa trong thị xã:
- Hồng, Cúc, Hoa, Diễm, Đẹp…
Cô chấp nhận những cái tên xa lạ đó, cảm thấy mình được an toàn trong vỏ bọc của những cái tên lạ. Miễn là anh không chạm được vào con bé Gái nhỏ, ẩn núp sâu trong tim cô, thắt thỏm run rẩy trong cái kẹp ba lá, áo bà ba vá, cặp nách hai bẹ chuối cây, bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi đập chân bành bạch quẩn quanh bên sàn nước nhà mẹ. Miễn là anh để yên cho con bé Gái nhỏ ngủ yên trong vùng ký ức ngọt ngào của tuổi thơ. Và những xúc cảm, những rung động, yêu thương âu yếm cũng ngủ yên sâu trong tim cô, như con bé ấy.

Con sông cắt hai doi đất bằng dòng chảy sâu và xiết của con nước lớn lúc nào cũng đầy ăm ắp nên hai doi đất nhô ra giữa sông, nhìn từ xa như chạm mũi vào nhau, đến gần mới thấy từ mũi này qua mũi kia phải mất hết mấy tiếng đồng hồ tay chèo khỏe.

Bên này doi đất bồi, bên kia doi đất lở. Dần dần doi đất bên này nhà cửa lấp đầy vội vã, xiên xẹo, chạy theo mép nước. Những người đàn bà hàng xóm lạ, sau một đêm giở liếp cửa ngượng nghịu nhìn nhau chào, khóe mắt nhăn chĩu chịt chân chim, trên gò má lốm đốm tàn nhang và những vết bầm tím. 

Doi đất bên kia vẫn xanh rậm rịt bần đước, dừa nước chen chúc và những câu chuyện hoang đường về vùng nước xoáy dìm chết thuyền bè mon men lại gần bờ.

Mặt trời mọc lên từ doi đất bên này và lặn ở doi đất bên kia. 

Mỗi chiều, từ doi đất bên này, khói bếp trấu, bếp rơm thơm len lỏi rập rềnh trên sàn nước, mùi cơm gạo mới, mùi rau cỏ tập tàng vườn nhà, mùi cá sông tép đồng, mắm nẫu dìu dịu ngây ngây giục những người đàn ông nhanh tay neo ghe vào chân sàn, khoát nước sông rửa vội tay chân, tiện tay ngắt ngang trái ớt xanh trong bụi ớt rung rinh đầu sàn. Rồi khoan khoái ngồi khoanh chân chữ ngũ, cầm đôi đũa tre xới vội bát cơm dẻo thơm hạt gạo mới, cắn một đuôi ớt non, quẹt một miếng nước mắm nhĩ, hít hà như đang lùa cả hương đất trời Nam bộ vào lòng.
Mỗi chiều, cô ngồi lặng bên sàn nước nhà mình nhìn doi đất bên kia chìm trong màu vàng lung linh kỳ ảo, thứ ánh sáng hắt lên và khuếch tán rực rỡ từ lòng sông trong vắt. 
Một chiều như vậy, khi người đàn ông của cô đi lưới cá muộn chưa về, cô cao hứng nhảy ào xuống chân sàn tắm vội. Cảm giác bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi, đập chân bành bạch quẩn quanh chân sàn nước nhà mẹ rưng rưng trở về. Từ đâu xa trên mặt sóng dập dềnh văng vẳng tiếng gọi thì thào:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Cô rùng mình, ngưng tay khỏa nước, quay mặt nhìn về doi đất phía bên kia. Từ sát mép nước, bóng một người đàn ông đứng ngược sáng, ánh nắng cuối ngày dát một màu óng ánh như bụi vàng quanh thân hình rắn rỏi sừng sững.
Cô giật mình, leo hẳn lên trên mặt sàn nước, ngồi cúi người hong khô mái tóc ướt. Nhưng cảm giác từng vùng da thịt hằn lên dưới tà áo bà ba nóng bỏng trong tia mắt săm soi sờ sững của người đàn ông làm cô vừa bối rối vừa ngộp thở, cảm giác bồi hồi, hối hả cô chưa từng có với chồng. Bên kia sông, từng hồi âm thanh xao xuyến vẫn lan đi không ngừng:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Và cô cứ ngồi như vậy, co người lại, mắt nhìn sững vào doi đất bên kia, nơi người đàn ông trong ngược bóng chiều tà cũng đăm đăm cắm tia nhìn vào cô, không rời. 
Cho đến khi bóng tối sụp xuống. Che phủ mọi thứ.
Cô lết thết, thờ thẫn bước vào nhà, thổi bùng bếp trấu, khơi lại ngọn đèn dầu tù mù trên bàn thờ. 
- Cô xoay bức hình của bả vào trong tường giùm tui!
Giọng của chồng cất lên đục ngầu, đột ngột từ sau lưng làm cô giật nảy mình. Cô biết anh đã say mềm. Bao giờ cũng vậy, khi say mềm về, anh sẽ úp tấm hình má chồng trên bàn thờ vào tường. Anh vừa sợ vừa căm ghét đôi mắt sáng quắc nhưng thê thiết của bà.
Anh ngồi bó gối một góc nhà, cười gằn với cô:
- Bà ấy có gì mà tiếc nữa. Đáng lẽ bà ấy không có chỗ trên bàn thờ. Tía tui còn thì không đời nào có chuyện đó đâu. 
Anh lôi tay cô ra, chỉ vào vết chém mờ mờ trên chân cột sàn.
- Đây nè, đây là chỗ tía cột bả lại, để coi bả còn dám bỏ nhà đi theo thằng kia không! 
Và sau đó cười gằn thêm vài hơi nữa:
- Cái vệt máu này, cái vệt máu khô trên mặt sàn này. Đêm đó bả tự mình tháo dây chèo xuồng đi, tui gọi “tía ơi, má bỏ đi kìa tía”. Lúc đó tui mới có 10 tuổi, một thằng con nít 10 tuổi, biết làm gì khi mẹ mình bỏ mình mà đi! Tía tui trở cán rựa, chặt đứt sợi dây xuồng, tui thề là ổng chỉ chặt đứt sợi dây xuồng….
Rồi anh cất giọng cười u u thê lương, nghe nổi da gà hơn tiếng khóc.
Vệt máu ấy, có ngày cô thấy rõ, có ngày không. Nhất là những ngày mưa, nước nhỏ ròng ròng từ mặt sàn xuống mặt sông cũng thẫm một màu nâu đỏ như máu ứa. 
Nhất là những ngày mưa, đôi mắt má chồng từ bức hình chân dung nhìn xuyên qua anh, qua cô, qua căn nhà trống ra mặt sông khắc khoải như sắp bước xuống chạy xấp xãi đi. Những lúc như vậy, cô cũng chịu không nổi, và phải lật đật úp mặt bà vào tường.
**
Chiều nay nữa, chiều rất muộn, chồng cô vẫn chưa về.
Cô ngồi trầm mình trong nắng chiều rớt, nhìn đăm đắm về doi đất phía bên kia. Người đàn ông vẫn đứng đó, im phăng phắc. Chợt xuyên qua khoảng cách của chiều dài lòng sông, cô thấy cánh tay anh đưa lên vây vẫy, mơ hồ nhưng quả quyết, đôi môi mấp máy không rõ lời. Từ trong vô thanh, cô nghe đầu óc mình ong ong đồng vọng và tim nhói buốt đau đớn :
- Anh chờ em, lâu lắm rồi. Anh sẽ chờ.
Cô quay phắt người, đi vào nhà. Đôi mắt đau đáu vẫn dính theo vào người cô, khắp người cô nhức nhối như bị ai đánh đập. Và kiệt sức.
Chiều sau, chiều sau nữa, mỗi chiều muộn, cô giấu mình sau liếp cửa, mắt nhìn qua bên kia doi đất. Người đàn ông vẫn đứng đó, sát mép nước, nhưng khuôn mặt sầu muộn, đầu cúi xuống, tất cả nét u buồn tan chảy đều rõ ràng chói lọi trong nắng quái ủ rũ cuối ngày. Cô úp mặt vào tay, nước mắt ràn rụa. Trái tim nhói lên từng hồi như có ai xiết chặt, rồi buông ra, rồi lại xiết chặt.

Chồng cô lảo đảo bước vào nhà, say mèm, nằm vật ra tấm phản gỗ, miệng không ngớt lẩm bẩm:
- Hồng, Cúc, Diễm, Hoa…
Cô bậm môi, cầm lấy cái mái chèo, hai chân lật đật như quấn vào nhau xiên xẹo bước ra đến cửa. Đi ngang bàn thờ, đôi mắt của má chồng nhìn theo cô hun hút, nửa bồn chồn, nửa ẩn ức. Cô lập cập lật bức hình xoay vào tường, rồi đi như chạy ra phía sàn nước.

Một cơn mưa rào ào ào trút xuống, hai hàm răng của cô đập vào nhau lẩy bẩy, nước tuôn chảy từ mặt sàn xuống lòng thuyền đùng đục màu nâu đỏ như màu máu khô.
Cô rùng mình, vừa vì lạnh, vừa vì sợ hãi, nước quất vào mặt cô ràn rạt, lòng sông nổi sóng ùng ục trong cơn giông gió. Sức mạnh của tuổi 20 và tiếng gọi không ngừng từ bên kia doi đất đẩy cô bươn bải như cái máy chèo về phía trước. Doi đất bên kia từ từ hiện ra sau màn mưa, chơm chởm rễ bần đước và dừa nước ken dày, dưới sát mép nước, người đàn ông vẫn đứng, cơ ngực nổi vồng, mắt nhìn trân trân về phía trước. 
Sóng từ bờ xô đẩy cô như điên cuồng về phía giữa sông, trong khi gió trên đầu ràn rạt hắt cô về phía ngược lại, chiếc thuyền mỏng manh quay vòng vòng, mất phương hướng. Một màn nước từ trên cao úp chụp xuống, trời đất quanh cô tối sầm lại.
Khi cô tỉnh dậy, trước mắt cô là bầu trời màu vàng trong vắt, sau đó đến khuôn mặt trầm ngâm cúi xuống bên cô và tiếng gọi thì thào:
- Em đã tỉnh rồi à?
Cô òa khóc, thì ra người đàn ông đó, cô đang ở trong vòng tay của người đàn ông đó, người đàn ông mỗi chiều làm từng thớ thịt trong người cô run rẩy, khao khát và chờ đợi. Cô nhắm nghiền mắt, hít sâu mùi da thịt trộn lẫn bùn đất, cây cỏ, mùi sình và mùi gió sông lồng lộng khoáng đạt thanh thản. Khi cô mở mắt ra, người đàn ông vẫn cúi xuống bên cô, gần hơn, gần hơn nữa. 
- Có phải em từ doi đất bên kia qua? Người em có mùi khói bếp, mùi rơm rạ. Mùi trẻ con.
Cô rùng mình, thảng thốt. Người đàn ông này bị mù. Thay vì đôi mắt, chỉ là một khoảng không trống rỗng, đục ngầu.
Cô vùng dậy rời khỏi tay người đàn ông. Khuôn mặt ông cau lại, trong một thoáng.
- Em nên trở về đi, trước khi trời sụp tối. Không có em, bên ấy không có mùi khói bếp. Chiều nào tôi cũng nương theo hướng gió để nghe mùi khói bếp bay về. 
- Còn cơn mưa? – cô lẩm bẩm.
- Không có cơn mưa nào. Đừng lo, tôi sẽ đưa em về!
Cô rời tay người đàn ông, tập tễnh đi về phía chiếc xuồng của mình. Trời hanh khô và trong veo, từ bờ bên này nhìn thấy rõ sàn nước nhà cô nhuộm vàng trong nắng chiều và bóng chồng cô lờ mờ nằm vắt ngang chiếc phản gỗ mệt nhọc.
- Tôi tự đến, tôi sẽ tự về lại được- Cô vừa nói vừa ứa nước mắt.
Chỉ bằng một cái đẩy nhẹ nhàng, xuồng của cô đã ở giữa dòng nước, phân chia rõ ràng, một bên trong đến thấy nắng dưới lòng sông , một bên đục ngầu màu nâu đỏ. Là dòng nơi cô quay về.
Cô nhắm mắt lại, trời đất tối sầm, một tiếng nổ nhỏ trong đầu cô làm tất cả xoay tròn đảo lộn:
- Người đàn ông ấy bị mù, chưa bao giờ ông ta nhìn thấy mình cả!

Khi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

**

Nửa đêm cô tỉnh giấc, bên vuông cửa mở toang hoác, chồng cô đứng nhìn chăm chăm hướng doi đất phía bên kia. Một quầng sáng như lửa lan cháy rực rỡ trên mặt sông:
- Người ta đốt phá sạch rừng đước để làm bờ kè. Đất đó được quy hoạch rồi.
Cô nghe khắp người nhộn nhạo, đau buốt:
- Còn người đàn ông mù?
- Làm gì có người đàn ông mù nào! Bên đó trước giờ vẫn là rừng đước hoang vu không người thôi!

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 125750)
... T iếng khóc thút thít hiền lành. Tiếng khóc của Toàn thời thơ ấu. Cánh cửa sổ mở rộng, không có chút nắng nào. Tôi nhìn bầu trời, màu trời đục lờ lợ. Đột nhiên tôi nhớ lại tất cả, nhớ từng chi tiết thật kỹ càng. Nhớ từ lúc đặt chân xuống thuyền vượt biên gặp hải tặc cho đến lúc Toàn hãm tôi mới đây. Nhớ cả câu nói của người lính thủy bị bắn. Nhưng mà... Trời ơi! Chuyện gì đã xảy ra? Chúng tôi còn ở Vũng Tàu hôm qua kia mà! Tôi gục xuống, Toàn quay lại mặt đầy thẹo. Vết thẹo. Trời ơi, buổi sáng.
08 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 125504)
... Ở đây các nhà thơ đều phải bỏ tiền ra in thơ. Mà họ có giầu gì cho cam. Phải dành dụm từng đồng, bớt xén tiền ăn của cả nhà, có khi đến mấy năm mới in được tập thơ. Mà in rồi chỉ đem đi tặng cũng đủ hết hơi. Thì ra trên thế gian này, thơ văn sinh ra để làm vất vả cho con người...
08 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 154060)
Thiên nhiên vừa khe khẽ đặt xuống con như viên sỏi trắng tinh khôi trên bãi cát bình an ấm áp viên sỏi cười với ánh mặt trời
05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 119593)
Hư cấu trên năm, bẩy mảnh đời cóp nhặt tạo ra những nhân vật của truyện ngắn này. Chúng không là những người bằng xương bằng thịt, tức có thật, hoặc tưởng là mình có thật, kể cả (và nhất là) nhân vật mang danh xưng Tôi trong truyện. Tôi, phần não phải, nơi điều hành tâm và tình, trong truyện này mâu thuẫn với phần não trái, nhân vật tên Th, mang chức năng sai khiến lý tính. Khi mâu thuẫn biện chứng - lý và tình - bế tắc, thực tại mang tính định mệnh, một loại tổng hợp mang nét ngẫu nhiên, có người cho đó chính là chữ Duyên trong Phật pháp. Tác giả nói quanh, xin lỗi bạn. Có lẽ bạn muốn xem hắn kể chuyện thế nào cho thành truyện, thời giờ đâu mà viển vông.
05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 126862)
Ở Trung Quốc, màu đỏ có thể được nhìn như màu trắng. Hoặc không màu? Khi mà tất thảy đều mang sắc đỏ, con người ta bị mù màu tạm thời. Nhìn cái gì cũng thấy xanh biếc. Trong veo. Chẳng biết vì sao trâu bò thường rất căm ghét màu đỏ? Trăn cũng vậy? Nó có thấy trong veo và xanh biếc? Không giống với môi trường mà nó đang sống? Phải liều chết tranh đấu với con người để tìm lại chỗ của mình? Đấu bò? Có lẽ vì thế Trung Quốc không thể chơi môn thể thao này? Nhưng mặc áo đỏ ở Trung Quốc? Chẳng làm ai bận tâm. Chỉ như quả ớt chín ném thêm vào hũ tương ớt.
05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 146264)
Sáng sớm qua sông hái bông điên điển Áo sẽ thơm mùi cỏ dại hoa đồng Khi đêm về lòng nhớ mênh mông Tâm xanh biếc cả khung trời cao rộng.
05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 141202)
Lần đầu tiên đến Hà Nội, hẳn bất kỳ ai, nhìn thấy điều gì cũng dễ dàng xúc động, cũng làm gợi nhớ đến những hình ảnh bàng bạc trong ký ức đã gặp gỡ ở tiểu thuyết, thơ ca... Nhưng với tôi, đáng nhớ hơn cả, đó là những cô thiếu nữ Hà Nội.
05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 150831)
Đêm qua anh mơ thấy biển Sóng êm đềm liếm gót chân em Gió lao xao rụng nhành dương liễu Em nhặt vội vàng xõa mớ tóc xanh Giá như mặt trời đứng yên trên biển Chắc kịp buổi anh về.
26 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 151352)
Hãy ra chỗ Thúy Tân Định lấy chai Chivas về quán Đò Đưa trên đường Trịnh Công Sơn rửa bảng tên sơn còn ướt cụng ly nhau mừng con đường mới ngồi quanh bàn có Phạm văn Đỉnh Toulouse Đinh Cường Virginia, Bửu Ý Huế cả Đặng Tiến vừa mổ tim Lê Khắc Cầm, Ngụy Ngữ…Sài gòn
25 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120682)
Trên trang văn hóa báo Le Monde hôm nay có bài giới thiệu về một cuộc triển lãm ảnh của phóng viên ảnh chiến trường người Pháp Henri Huet về cuộc chiến tranh Việt Nam với Mỹ qua bài viết: "Chiến tranh Việt Nam : Những hình ảnh, bạn hữu và cái chết".
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi