- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,584,999

Người Đàn Bà Phía Bên Này Doi Đất

11 Tháng Mười Một 20143:00 SA(Xem: 19872)
ChauDoc-AnGiang-VN-nhn
Châu Đốc- An Giang- ảnh Nguyễn Hoàng Nam



K
hi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

*

Lần mở mắt thứ nhất là bầu trời xanh trong chói chang trên mặt sàn nước.
Ngày cô mới chào đời, mẹ của cô, theo tục lệ, đã vội ẵm cô trong bọc khăn rằn nhàu nhò ra chào sàn nước. Một dòng sông in bóng bầu trời xanh mênh mang mở ra trong con mắt ký ức của tuổi thơ. 
Tuổi thơ mênh mang ngập tràn nước.
Và từ đó trở đi, cuộc đời của cô gắn liền với sàn nước. Như cuộc đời của ngoại, của mẹ, của Gái chị, Gái em, Gái lớn và cô, Gái nhỏ rồi sẽ cắm xuống mặt sông, cột vào chân sàn nước của người đàn ông đã chọn mình.
Cũng như bao nhiêu làng xóm ven sông khác, nhà mẹ cô nằm vắt vẻo bên bờ sông, con sông chạy ngoằn ngoèo theo đường lộ cái. Con sông bao đời thân thuộc hơn con đường. Cái sàn nước, nhà nào cũng làm chồm ra mặt sông trở thành cái bộ mặt xanh mướt của mỗi nhà. 
Bước chân chập chững tập đi của cô chỉ loanh quanh nơi sàn nước, nơi mẹ cô ngồi lui cui, lưng còng, vai gầy cắm đầu xuống mặt sông vò tay đám áo quần cứng còng nhiễm phèn của cả nhà. Rồi Gái chị, Gái em, Gái lớn lần lượt giã từ sàn nước nhà mẹ từng chiều muộn tắt nắng với rất nhiều bịn rịn, lưu luyến rời sàn nước thân quen từ nhỏ để đến cột cuộc đời mình vào sàn nước nhà người đàn ông xa lạ nào đó.
Cuộc đời một người đàn bà chỉ tính bằng chiều dài cái sàn nước.
Một chiều mẹ ôm chặt cô vào lòng, mùi trầu, mùi dầu tràm quyện với mùi lục bình, mùi rong rêu quấn quanh chân cột sàn nước, cái mùi theo cô mãi những ngày đêm xa nhà trắc trở sau này, thành một mớ ký ức chòng chành và sóng sánh không ngừng:
- Cả đời mẹ đã cột chặt vào cái sàn nước này. Con phải đi xa khỏi cái sàn nước mới khá lên được
Bóng mẹ đổ dài qua bóng sàn, trượt xuống mặt sông, vỡ ra thành những vệt dài. Cái vệt dài mong nhớ đó đi theo cô hết phần đời còn lại.

Lần mở mắt thứ hai, là bầu trời xanh chao nghiêng hắt lên từ một lòng sông lạ.
Cô không còn nhớ nổi vì sao mình nằm chỏng chơ dưới lòng con thuyền này, neo cột vào một bến sông lạ. Chồm ra giữa mặt sông như một doi đất cô độc bị đánh rơi trên đường con sông vùng chạy ra biển. Đêm trước, cô còn nép trong vách phên lát tường hăng mùi trầu và áo quần con nít cũ của nhà mình. Đêm sau cô đã nằm ngửa trong lòng thuyền, mái tóc con gái 17 tuổi xổ tung lênh láng trăng muộn.

Đêm đó trăng 17, cô còn nhớ, và mùi người đàn ông xa lạ đó, mùi rượu nồng nặc, mùi áo quần bắt nắng khê nồng, mùi tanh của bùn đất dưới thân ghe… Tất cả ập vào cô cùng một lúc, cùng một câu nói qua kẽ răng, như nhát rựa chém vào cột sàn:
- Cô về đây là để trừ nợ, chẳng phải vợ chồng gì! Hiểu chưa?
Và từ đó đời cô bắt đầu tập quen với những chòng chành sóng sánh va lắc mới ở bên này doi đất.
Người đàn ông cô gọi là chồng, chưa bao giờ biết tên thật của cô. Trong cơn say bí tỉ mềm mụp mỗi khuya anh gọi cô bằng tất cả những cái tên anh học được từ những quán nhậu kiêm tiệm karaoke mọc lên chi chít như nấm đầu mùa mưa trong thị xã:
- Hồng, Cúc, Hoa, Diễm, Đẹp…
Cô chấp nhận những cái tên xa lạ đó, cảm thấy mình được an toàn trong vỏ bọc của những cái tên lạ. Miễn là anh không chạm được vào con bé Gái nhỏ, ẩn núp sâu trong tim cô, thắt thỏm run rẩy trong cái kẹp ba lá, áo bà ba vá, cặp nách hai bẹ chuối cây, bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi đập chân bành bạch quẩn quanh bên sàn nước nhà mẹ. Miễn là anh để yên cho con bé Gái nhỏ ngủ yên trong vùng ký ức ngọt ngào của tuổi thơ. Và những xúc cảm, những rung động, yêu thương âu yếm cũng ngủ yên sâu trong tim cô, như con bé ấy.

Con sông cắt hai doi đất bằng dòng chảy sâu và xiết của con nước lớn lúc nào cũng đầy ăm ắp nên hai doi đất nhô ra giữa sông, nhìn từ xa như chạm mũi vào nhau, đến gần mới thấy từ mũi này qua mũi kia phải mất hết mấy tiếng đồng hồ tay chèo khỏe.

Bên này doi đất bồi, bên kia doi đất lở. Dần dần doi đất bên này nhà cửa lấp đầy vội vã, xiên xẹo, chạy theo mép nước. Những người đàn bà hàng xóm lạ, sau một đêm giở liếp cửa ngượng nghịu nhìn nhau chào, khóe mắt nhăn chĩu chịt chân chim, trên gò má lốm đốm tàn nhang và những vết bầm tím. 

Doi đất bên kia vẫn xanh rậm rịt bần đước, dừa nước chen chúc và những câu chuyện hoang đường về vùng nước xoáy dìm chết thuyền bè mon men lại gần bờ.

Mặt trời mọc lên từ doi đất bên này và lặn ở doi đất bên kia. 

Mỗi chiều, từ doi đất bên này, khói bếp trấu, bếp rơm thơm len lỏi rập rềnh trên sàn nước, mùi cơm gạo mới, mùi rau cỏ tập tàng vườn nhà, mùi cá sông tép đồng, mắm nẫu dìu dịu ngây ngây giục những người đàn ông nhanh tay neo ghe vào chân sàn, khoát nước sông rửa vội tay chân, tiện tay ngắt ngang trái ớt xanh trong bụi ớt rung rinh đầu sàn. Rồi khoan khoái ngồi khoanh chân chữ ngũ, cầm đôi đũa tre xới vội bát cơm dẻo thơm hạt gạo mới, cắn một đuôi ớt non, quẹt một miếng nước mắm nhĩ, hít hà như đang lùa cả hương đất trời Nam bộ vào lòng.
Mỗi chiều, cô ngồi lặng bên sàn nước nhà mình nhìn doi đất bên kia chìm trong màu vàng lung linh kỳ ảo, thứ ánh sáng hắt lên và khuếch tán rực rỡ từ lòng sông trong vắt. 
Một chiều như vậy, khi người đàn ông của cô đi lưới cá muộn chưa về, cô cao hứng nhảy ào xuống chân sàn tắm vội. Cảm giác bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi, đập chân bành bạch quẩn quanh chân sàn nước nhà mẹ rưng rưng trở về. Từ đâu xa trên mặt sóng dập dềnh văng vẳng tiếng gọi thì thào:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Cô rùng mình, ngưng tay khỏa nước, quay mặt nhìn về doi đất phía bên kia. Từ sát mép nước, bóng một người đàn ông đứng ngược sáng, ánh nắng cuối ngày dát một màu óng ánh như bụi vàng quanh thân hình rắn rỏi sừng sững.
Cô giật mình, leo hẳn lên trên mặt sàn nước, ngồi cúi người hong khô mái tóc ướt. Nhưng cảm giác từng vùng da thịt hằn lên dưới tà áo bà ba nóng bỏng trong tia mắt săm soi sờ sững của người đàn ông làm cô vừa bối rối vừa ngộp thở, cảm giác bồi hồi, hối hả cô chưa từng có với chồng. Bên kia sông, từng hồi âm thanh xao xuyến vẫn lan đi không ngừng:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Và cô cứ ngồi như vậy, co người lại, mắt nhìn sững vào doi đất bên kia, nơi người đàn ông trong ngược bóng chiều tà cũng đăm đăm cắm tia nhìn vào cô, không rời. 
Cho đến khi bóng tối sụp xuống. Che phủ mọi thứ.
Cô lết thết, thờ thẫn bước vào nhà, thổi bùng bếp trấu, khơi lại ngọn đèn dầu tù mù trên bàn thờ. 
- Cô xoay bức hình của bả vào trong tường giùm tui!
Giọng của chồng cất lên đục ngầu, đột ngột từ sau lưng làm cô giật nảy mình. Cô biết anh đã say mềm. Bao giờ cũng vậy, khi say mềm về, anh sẽ úp tấm hình má chồng trên bàn thờ vào tường. Anh vừa sợ vừa căm ghét đôi mắt sáng quắc nhưng thê thiết của bà.
Anh ngồi bó gối một góc nhà, cười gằn với cô:
- Bà ấy có gì mà tiếc nữa. Đáng lẽ bà ấy không có chỗ trên bàn thờ. Tía tui còn thì không đời nào có chuyện đó đâu. 
Anh lôi tay cô ra, chỉ vào vết chém mờ mờ trên chân cột sàn.
- Đây nè, đây là chỗ tía cột bả lại, để coi bả còn dám bỏ nhà đi theo thằng kia không! 
Và sau đó cười gằn thêm vài hơi nữa:
- Cái vệt máu này, cái vệt máu khô trên mặt sàn này. Đêm đó bả tự mình tháo dây chèo xuồng đi, tui gọi “tía ơi, má bỏ đi kìa tía”. Lúc đó tui mới có 10 tuổi, một thằng con nít 10 tuổi, biết làm gì khi mẹ mình bỏ mình mà đi! Tía tui trở cán rựa, chặt đứt sợi dây xuồng, tui thề là ổng chỉ chặt đứt sợi dây xuồng….
Rồi anh cất giọng cười u u thê lương, nghe nổi da gà hơn tiếng khóc.
Vệt máu ấy, có ngày cô thấy rõ, có ngày không. Nhất là những ngày mưa, nước nhỏ ròng ròng từ mặt sàn xuống mặt sông cũng thẫm một màu nâu đỏ như máu ứa. 
Nhất là những ngày mưa, đôi mắt má chồng từ bức hình chân dung nhìn xuyên qua anh, qua cô, qua căn nhà trống ra mặt sông khắc khoải như sắp bước xuống chạy xấp xãi đi. Những lúc như vậy, cô cũng chịu không nổi, và phải lật đật úp mặt bà vào tường.
**
Chiều nay nữa, chiều rất muộn, chồng cô vẫn chưa về.
Cô ngồi trầm mình trong nắng chiều rớt, nhìn đăm đắm về doi đất phía bên kia. Người đàn ông vẫn đứng đó, im phăng phắc. Chợt xuyên qua khoảng cách của chiều dài lòng sông, cô thấy cánh tay anh đưa lên vây vẫy, mơ hồ nhưng quả quyết, đôi môi mấp máy không rõ lời. Từ trong vô thanh, cô nghe đầu óc mình ong ong đồng vọng và tim nhói buốt đau đớn :
- Anh chờ em, lâu lắm rồi. Anh sẽ chờ.
Cô quay phắt người, đi vào nhà. Đôi mắt đau đáu vẫn dính theo vào người cô, khắp người cô nhức nhối như bị ai đánh đập. Và kiệt sức.
Chiều sau, chiều sau nữa, mỗi chiều muộn, cô giấu mình sau liếp cửa, mắt nhìn qua bên kia doi đất. Người đàn ông vẫn đứng đó, sát mép nước, nhưng khuôn mặt sầu muộn, đầu cúi xuống, tất cả nét u buồn tan chảy đều rõ ràng chói lọi trong nắng quái ủ rũ cuối ngày. Cô úp mặt vào tay, nước mắt ràn rụa. Trái tim nhói lên từng hồi như có ai xiết chặt, rồi buông ra, rồi lại xiết chặt.

Chồng cô lảo đảo bước vào nhà, say mèm, nằm vật ra tấm phản gỗ, miệng không ngớt lẩm bẩm:
- Hồng, Cúc, Diễm, Hoa…
Cô bậm môi, cầm lấy cái mái chèo, hai chân lật đật như quấn vào nhau xiên xẹo bước ra đến cửa. Đi ngang bàn thờ, đôi mắt của má chồng nhìn theo cô hun hút, nửa bồn chồn, nửa ẩn ức. Cô lập cập lật bức hình xoay vào tường, rồi đi như chạy ra phía sàn nước.

Một cơn mưa rào ào ào trút xuống, hai hàm răng của cô đập vào nhau lẩy bẩy, nước tuôn chảy từ mặt sàn xuống lòng thuyền đùng đục màu nâu đỏ như màu máu khô.
Cô rùng mình, vừa vì lạnh, vừa vì sợ hãi, nước quất vào mặt cô ràn rạt, lòng sông nổi sóng ùng ục trong cơn giông gió. Sức mạnh của tuổi 20 và tiếng gọi không ngừng từ bên kia doi đất đẩy cô bươn bải như cái máy chèo về phía trước. Doi đất bên kia từ từ hiện ra sau màn mưa, chơm chởm rễ bần đước và dừa nước ken dày, dưới sát mép nước, người đàn ông vẫn đứng, cơ ngực nổi vồng, mắt nhìn trân trân về phía trước. 
Sóng từ bờ xô đẩy cô như điên cuồng về phía giữa sông, trong khi gió trên đầu ràn rạt hắt cô về phía ngược lại, chiếc thuyền mỏng manh quay vòng vòng, mất phương hướng. Một màn nước từ trên cao úp chụp xuống, trời đất quanh cô tối sầm lại.
Khi cô tỉnh dậy, trước mắt cô là bầu trời màu vàng trong vắt, sau đó đến khuôn mặt trầm ngâm cúi xuống bên cô và tiếng gọi thì thào:
- Em đã tỉnh rồi à?
Cô òa khóc, thì ra người đàn ông đó, cô đang ở trong vòng tay của người đàn ông đó, người đàn ông mỗi chiều làm từng thớ thịt trong người cô run rẩy, khao khát và chờ đợi. Cô nhắm nghiền mắt, hít sâu mùi da thịt trộn lẫn bùn đất, cây cỏ, mùi sình và mùi gió sông lồng lộng khoáng đạt thanh thản. Khi cô mở mắt ra, người đàn ông vẫn cúi xuống bên cô, gần hơn, gần hơn nữa. 
- Có phải em từ doi đất bên kia qua? Người em có mùi khói bếp, mùi rơm rạ. Mùi trẻ con.
Cô rùng mình, thảng thốt. Người đàn ông này bị mù. Thay vì đôi mắt, chỉ là một khoảng không trống rỗng, đục ngầu.
Cô vùng dậy rời khỏi tay người đàn ông. Khuôn mặt ông cau lại, trong một thoáng.
- Em nên trở về đi, trước khi trời sụp tối. Không có em, bên ấy không có mùi khói bếp. Chiều nào tôi cũng nương theo hướng gió để nghe mùi khói bếp bay về. 
- Còn cơn mưa? – cô lẩm bẩm.
- Không có cơn mưa nào. Đừng lo, tôi sẽ đưa em về!
Cô rời tay người đàn ông, tập tễnh đi về phía chiếc xuồng của mình. Trời hanh khô và trong veo, từ bờ bên này nhìn thấy rõ sàn nước nhà cô nhuộm vàng trong nắng chiều và bóng chồng cô lờ mờ nằm vắt ngang chiếc phản gỗ mệt nhọc.
- Tôi tự đến, tôi sẽ tự về lại được- Cô vừa nói vừa ứa nước mắt.
Chỉ bằng một cái đẩy nhẹ nhàng, xuồng của cô đã ở giữa dòng nước, phân chia rõ ràng, một bên trong đến thấy nắng dưới lòng sông , một bên đục ngầu màu nâu đỏ. Là dòng nơi cô quay về.
Cô nhắm mắt lại, trời đất tối sầm, một tiếng nổ nhỏ trong đầu cô làm tất cả xoay tròn đảo lộn:
- Người đàn ông ấy bị mù, chưa bao giờ ông ta nhìn thấy mình cả!

Khi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

**

Nửa đêm cô tỉnh giấc, bên vuông cửa mở toang hoác, chồng cô đứng nhìn chăm chăm hướng doi đất phía bên kia. Một quầng sáng như lửa lan cháy rực rỡ trên mặt sông:
- Người ta đốt phá sạch rừng đước để làm bờ kè. Đất đó được quy hoạch rồi.
Cô nghe khắp người nhộn nhạo, đau buốt:
- Còn người đàn ông mù?
- Làm gì có người đàn ông mù nào! Bên đó trước giờ vẫn là rừng đước hoang vu không người thôi!

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1554)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1605)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2283)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6287)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6156)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13520)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30626)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81659)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20481)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 310)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.