- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chuyện Đời Nay

24 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 68000)

ngannammaytrangbay-nghoangnam-content

Ngàn năm mây bay -ảnh Nguyễn Hoàng Nam


Bà Tư quay lưng bước vội vào máy bay, hình ảnh đứa con trai và hai đứa cháu nội đứng vẫy tay nhìn theo hằn sâu vào tâm trí đã cằn cỗi, nhàu nát của bà. Suốt đoạn đường lái xe ra phi trường, bà và thằng con trai cưng quý của bà đã không có một mẩu đối thoại nào, dù từ mấy tuần nay Bà đã không ngừng lẩm bẩm tới lui hàng trăm lần những điều muốn nói với con lần cuối. Quái, từ ngày xóm giềng đưa xác ông Tư về, bà đã trải qua bao nhiêu trận đói khát, xách nhiễu, một mình nuôi hai con khôn lớn giữa hai làn đạn, bà chưa một lần ngần ngại, chả sợ sống chết. Vậy mà bây giờ,ở ngay giữa lòng cuộc sống ấm yên no đủ này, trái tim đã được cuộc đời và tuổi tác tôi luyện của bà lại thường xuyên co thắt, rụt rè. Cánh cửa máy bay hạ xuống, một tay ôm ngực khi không đau nhói, tay còn lại bà quệt vội những giọt nước mắt bỗng dưng ràn rụa trên gò má nhăn nheo. Đằng sau cánh cửa đóng chặt đó là giọt máu, khúc ruột, tình yêu, lẽ sống duy nhất của bà.

Máy bay cất cánh lên tầng không, bên dưới trùng trùng lớp lớp những bãi tuyết tiếp nối nhau, trắng bóc một màu bôi xoá. Mặt hồ Michigan đóng băng cứng ngắt, lạnh nhạt chôn sâu quãng đời ngắn ngủi bà sống ở Mỹ với vợ chồng thằng Hùng. Vẫn cái thói quen hằng chục năm nay, bà lẩm bẩm nói chuyện với ông Tư. Có thể nào bà vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ.Nhưng sao cái mùi đau xót, mất mát vẫn còn hừng hực đến thế, như cái mùi bốc lên trong chiếc xe lam ngày bà vĩnh viễn mất Ông.

Vài năm trước đây, lòng đầy tự tin, từ quê nhà bà đáp máy bay sang Mỹ sau khi nghe tin con trai và con dâu lục đục. Bà thật không hiểu nỗi cái thằng con dở hơi, có vợ ngoan hiền như con Hà mà cũng không đủ sức cột thắt thì làm được cái ngữ gì. Bà nhớ rõ như in ngày bà bị bệnh u nan tử cung phải vào nằm bệnh viện, con bé nhà quê hiền lành đã ngày đêm túc trực chăm lo săn sóc cho bà. Khi lâm bệnh nặng, gọi con trai từ Mỹ về, bà và đứa con gái của bà đã dàn xếp cho thằng Hùng lấy nó. Họ hàng xa không bằng láng giềng gần, con bé cùng quê thân thiết với con Thảo con gái bà, gần đây chăm sóc Bà như mẹ ruột, sẵn sàng là người vợ nâng khăn sẻ áo cho thằng con trưởng ở Mỹ chỉ biết nai lưng làm lụng kiếm tiền, chẳng có chút tơ tưởng, hiểu biết gì về giống cái.

Sinh ra và lớn lên ở miền quê lam lũ, Bà cần cù làm lụng, cuộc sống đơn thuần những buổi sáng làm ruộng cho đến khi trời chạng vạng tối về nhà lo trong lo ngoài. Ngày gặp ông Tư, bà trân trân nhìn bàn tay và khuôn mặt thư sinh trắng nõm như bức tranh sơn thuỷ đã có lần bà được thấy qua, rồi để yên cho tiếng tiêu êm tai và những ngón tay thoăn thoắt của ông vuốt cổ bà. Gia đình hai bên không môn đăng hộ đối, các cụ chê Bà gái quê ít chữ.Chỉ ba tháng sau, bà bỏ quê bỏ ruộng, ông bỏ nhà bỏ đất đưa bà ra Đà Nẵng lập nghiệp. Hai vợ chồng sống chật vật, ông Tư không một lần hối tiếc. Ngày thằng Hùng chào đời, bà quỳ sụp khấn vái tổ tiên, cầu cho thằng con sống khoẻ mạnh, no đủ, có chữ có nghĩa, quan trọng nhất bà cầu cho nó có khí khái của ông Tư. Khi binh đoàn của Ông Tư ra quân, bà một mình gánh thằng Hùng vượt xóm xuyên làng đem con về quê cũ.

Làng quê Bà nằm ngay trên tuyến đường binh lửa. Ban đêm Việt Cộng đến quấy nhiễu. Ban ngày lính quốc gia về ra oai. Ngày ngày bà còng lưng ra sức cầy cấy, đêm về bao nhiêu lúa gạo phải nộp hết cho bộ đội. Đói rách lam lũ là đời sống thường tình của dân nghèo trong xóm chợ. Khi thằng Hùng lên bốn và con Thảo mới ba tháng tuổi còn nằm yên trong bụng, đang gánh lúa ra chợ, bà đổ quỵ xuống khi chứng kiến cảnh thằng con bé xíu lẽo đẽo theo sau chiếc xe chở xác ông Tư về, vắt vẻo chân trong chân ngoài. Dân làng nói ông Tư bị đạn bắn vào thái dương, xác vứt bên kia núi. Người ta trao cho gia đình bà cái bằng tử sĩ trong khi tự tay bà đào đất mai táng chồng. Đặt tấm hình cái mặt còn non choẹt của ông Tư lên bàn thờ, bà thề độc sẽ mang hết sức mình bảo bọc thằng con thoát khỏi số phận cha chú nó.

Ông Tư mất đi, thằng Hùng con Thảo trở thành mạch sống duy nhất của Bà. Ngày tháng đốt rụi tuổi xuân. Cuộc sống cơ cực, khắc khổ khiến Bà gầy rộc, cằn cỗi hơn cây khô mùa hạn. Ban ngày bà bận rộn luôn chân luôn tay việc đồng áng, chật vật, tất bật miếng ăn. Ban đêm là lúc bà sống lại. Bà ngồi đăm đăm nhìn tấm hình ông Tư trên bàn thờ, lắng nghe tiếng tiêu ngày nào văng vẳng ru bà vào giấc ngủ đầy mộng, của những tháng ngày ngắn ngủi Bà cùng ông Tư xắn quần trầm mình dưới cái nắng gắt của cát biển Đà Nẵng, những đêm trời mưa âm ỉ ông Tư đốt củi, bà quấn chặt thằng Hùng ấm áp cuộn sát một bên. Người ta có thể cướp trâu, cướp đất, cướp nhà cửa của Bà, nhưng cái kho tàng quý giá bất khả xâm phạm chính là tình yêu son sắt bà có với Ông.

Thằng Hùng ngày càng khôn lớn, được gia đình ông Tư thương yêu, dạy dỗ, nuôi ăn nuôi học. Niềm vui duy nhất của bà là khi nghe người ta khen nó nhìn giống ông Tư như khuôn đúc. Mà quả thật như vậy, mặt mày nó trắng trẻo thư sinh, chữ nghĩa lưu loát, lớn lên ngoài đồng ruộng, mà mắt nó sáng rực mỗi khi Cô Út mang về cho cuốn sách mới. Bà chạy chọt cho con đi học trường cao đẳng sư phạm. Khi ra trường, lý lịch tối, bà lại ra công đút lót mua cho nó cái chân giáo viên quèn ở trường làng bên kia núi. Tưởng là yên ổn, ngày công an đến gọi thằng con đi nghĩa vụ quân sự, bà lên cơn chửi đổng.Tổ cha cái xứ sở khốn nạn, mẹ con bà chả có nghĩa vụ gì với cái đất nước cùng khổ này nữa. Ba ngày sau, khi thằng Hùng vừa tròn 23 tuổi, bà bấm bụng đẩy con lên tàu vượt biển. Mới ngoài tuổi 43, tóc bà bạc trắng qua đêm, bà mất ăn mất ngủ cho đến ngày được tin chiếc tàu mang thằng Hùng đi khỏi cuộc đời bà đã đáp bến bình an.

Đêm hôm đó bà quỳ trước bàn thờ. Lần đầu tiên kể từ ngày ông Tư mất, bà cho phép mình khóc ròng. Những giọt nước mắt chảy ngược từ bao năm được dịp xối xả. Bà khóc như trận mưa đầu mùa, gội rửa cho ráo những tháng ngày bất hạnh, những nỗi sợ hãi, những cơn ám ảnh. Bà khóc mừng thằng con đã thoát khỏi cái chết, cái nghèo, cái số phận bi thảm, bất an của dân tộc bà. Bà khóc thương cho cái cảm giác ly tán, mất mát mơ hồ.Từ nay về sau, bà sẽ chẳng bao giờ còn có dịp chăm chút cho thằng con cưng quý nữa.

***

Ngày đặt chân xuống thành phố tuyết trắng, lòng bà rộn ràng biết mấy. Thằng Hùng dang tay ôm Mẹ, bà vừa hít ngửi, vừa luống cuống, lọng cọng vuốt cái mặt, cái đầu, cái lưng dài của nó. Niềm vui hội ngộ chưa đầy, bà đưa mắt nhìn quanh, mặt bà đanh lại: “Vợ con mày đâu sao không thấy?” Thằng Hùng thản nhiên: -Tụi nhỏ đi học. Hà đang ở HorseShoe? Bà trợn mắt: -Ho sù cái gì? Mẹ hỏi sao con Hà không đi đón Mẹ? Thằng Hùng chậm rãi: -HorseShoe là sòng bài cách nhà chừng một tiếng đồng hồ lái xe. Hai hôm nay Hà ở lại HorseShoe không về nhà.

Suốt đoạn đường lái xe, thằng Hùng im lặng, bà Tư mở mắt thao láo nhìn đường xá, quang cảnh, miệng kể chuyện huyên thuyên. Xe lái xuyên qua những cánh đồng trắng xoá, những hạt tuyết trắng rơi lan man như những hạt mưa bụi ở quê bà, bao phủ, bủa vây tứ phía. Bà chặc lưỡi: -Băng tuyết phủ kín đồng ruộng cây lúa làm sao sống nổi hả con? Cũng chẳng buồn chờ thằng Hùng trả lời, bà nói tiếp chuyện nhà, chuyện họ hàng, chuyện xóm làng. Nói đến chuyện xu gia, bà chép miệng: -Sao mày im thin thít thế kia. Kể chuyện vợ con cho mẹ nghe. Hai đứa bây có chuyện gì?

Ngày tháng trôi qua ở Mỹ, đã nhiều ngày, nhiều tháng Bà ở với con trai, con dâu và cháu nội. Chuyện vợ chồng thằng Hùng mãi đến bây giờ bà cũng không hiểu ra. Đàn bà đàn ông ở thời đại này, trên cái xứ sở quái đản này, cứ như loài dã thú không đầu không đuôi, không trước không sau.Thuở xưa còn ở quê nhà, trước khi thằng Hùng từ Mỹ về, con Hà quấn quít bên Bà không rời một bước.Tướng tá tròn trịa có vẻ nhân hậu, bắp chân săn vồng, đôi mông tròn mẩy khiến mấy ông già không dời nổi mắt, còn các bà mẹ như bà chỉ nghĩ đến chuyện rước nàng dâu mắn đẻ về cho con trai. Ngày thằng Hùng từ Mỹ về thăm nhà, con bé nhà quê như con bò mộng đã đóng ách, liu ríu quanh quẩn bên chân bà. Mặc kệ họ hàng khuyên can con bé đít to đầu teo không tương xứng với thằng con có chữ có nghĩa của mình, bà khăng khăng gả ghép nó cho con trai. Hôm thằng Hùng bằng lòng lấy nó làm vợ, nó sụt sịt kêu tiếng Mẹ, bà cảm động rơi nước mắt nhớ lại giấc mơ gái quê một thời của mình khi bà lẽo đẽo theo gót ông Tư. Mới ngày hôm qua đó thôi, bà nghe chính mình lẩm bẩm... rồi bà giật mình nghe tiếng cười rộ của con Hà và đám đàn bà trẻ. -Bà già nói gì? Giọng con Hà văng vẳng: -Bả đang diễn tuồng than thân trách phận. Ai thèm để ý. Tràng cười the thé nổi lên, rồi tan biến, bà chỉ kịp nhìn thấy những cánh chân trần bắp vế núc ních trên những chiếc giày xanh đỏ, cao nhồng nhọn hoắt đang lộp cộp bước xa dần. Chúng nó lại kéo nhau đi Ho-Sù. Bà nhớ ra thằng cháu nội đã giải thích: Bà nội, hỏng phải ho-sù, Horseshoe. Cái gì đó liên quan đến giày với ngựa. Bà làu bàu: mã mẹ mấy con đĩ ngựa.

Thật ra Bà Tư đâu phải là người không biết phải trái. Bà sang Mỹ chỉ với một tấm lòng duy nhất là hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chúng nó. Đã nhiều lần bà cố gắng tìm cách gợi chuyện với con dâu. Bà thường bắt đầu bằng những kỷ niệm xưa cũ, cố tìm đâu đó trong cái bộ mặt khinh khỉnh, thái độ lạnh nhạt, hỗn láo của con Hà tấm lòng của con bé nhà quê chân chất ngày nào. Hồi mới sang, chân ướt chân ráo chưa hiểu trật tự xứ Mỹ, nóng lòng thấy thằng con và hai đứa cháu cưng của mình ngày nào cũng ăn mì tôm và pi-xà, bà xót ruột nặng nhẹ với con dâu. Có lần bà vô tình mắng nó: Mày tô son trét phấn làm gì mà để con cái bê bối, luộm thuộm. Mày tròn ủng tròn ỉnh mà để thằng chồng đói mốc đói meo. Mày là cái ngữ đàn bà thứ gì? Con Hà quay ngược lại, sát đến nhìn thẳng mặt bà đáp trả: Đàn bà xứ Mỹ thời nay không đần độn như các bà thời xưa. Nhà quê, xấu xí, mốc meo từ đầu tới chân. Có gì hay ho mà lên mặt dạy đời. Thật là hết chịu nỗi, bà quát: Cái con mất dạy. Thằng chồng mày không biết dạy mày nên mày mới ra nông nổi này.Con Hà cười khinh khỉnh: Bà già nói điên nói khùng mà lần này nói trúng, con trai bà mà có bản lãnh thì ngữ này đã khá hơn từ lâu.

Đêm hôm đó, bà thức chờ thằng Hùng đi làm về. Thằng con tội nghiệp, nghe Mẹ mắng nó đàn ông nhu nhược, nó dựng cổ vợ dậy cho một cái bạt tai. Bà nghe hai vợ chồng to tiếng, con Hà kêu cảnh sát, rồi giận dữ xách giỏ bỏ đi mấy ngày không về. Thấy thằng Hùng xấc bấc xang bang, mặt mày hốc hác, một mình lo ăn, lo uống, lo bài vở, đưa đón con đi học, bà lại thương con và ân hận. Bà tự nhủ từ nay sẽ thôi xen vào chuyện chúng nó. Có ông Tư hiểu tấm lòng của bà, ngày bà từ giã con gái và cháu ngoại rời quê cha đất tổ, ý nguyện duy nhất của Bà là dùng tình thương yêu chân thật để hàn gắn cho vợ chồng nó. Có lẽ nào chính bà đã già, lỗi thời, không hiểu được vai trò vợ chồng thời nay, hay vì Bà nhà quê trơn trất không đủ khôn ngoan lý lẽ với con dâu, con bé nhà quê đã có lần bà yêu thương nó như con ruột của Bà.

Cằn nhằn, mắng mỏ, dỗ dành,năn nỉ con dâu, cố gắng đủ cách cũng không thay đổi được gì, bàTư tự xăng tay áo lo cơm lo nước cho con cho cháu. Con Hà được dịp rảnh tay chân ngày càng đổ đốn. Cứ đến chiều thứ Sáu cuối tuần là nó lên quần lên áo biến mất.Thằng Hùng đi làm đêm. Nó đi làm ngày. Hai vợ chồng như mặt trăng mặt trời tránh gặp mặt nhau. Cuối tuần, thằng Hùng chở Mẹ và hai con đi đây đó. Cuộc sống sinh hoạt thường ngày của mấy cha con không bận tâm gì đến nó. Nó thay xác đổi dạ. Chỉ cái tướng tròn trịa xưa nay còn nguyên vẹn, ngày một ủn ỉn hơn. Mặt nó trắng bệt. Da nó căng phồng. Mắt xanh môi đỏ,người không ra người, ngợm không ra ngợm. Nó mê nhất là kiếm ra đồng tiền. Rồi đem đồng tiền đi mua sắm, nướng sạch ở sòng bài, chả ngó ngàng gì đến chồng con.

Lời ra tiếng vào, mấy bà bạn già cùng quê mách bà, thấy con Hà cặp bồ đi chơi ở sòng bài. Bà thương con, thương cháu dấu nhẹm không nói gì với con. Tận trong thâm tâm, bà Tư tự trách chính mình. Lỗi bà đã gả ép thằng Hùng với nó. Ở quê Bà, đàn ông đàn bà đã một lần lấy nhau là ăn ở suốt đời. Bà chỉ biết lâm râm khấn vái. Ở cái xứ không có mồ mả tổ tiên này, con người như cái cây bị bứng rể, không ông bà phù hộ, con Hà sống dở người dở thú, thằng Hùng thì dở sống dở chết.

Càng ngày, tình cảnh càng tệ hại hơn. Bà và con dâu ở cùng nhà, đôi lúc ngồi cùng mâm mà không ai nói với ai tiếng nào. Thằng Hùng đã từ lâu chả còn thiết gì đến quan hệ vợ chồng, chúi đầu vào sách vở và công việc không quan tâm gì đến chuyện tình cảm. Cho đến khi con Hà ngang nhiên đi chơi với bạn trai không còn nể nang gì nữa. Thằng con trai của Bà xưa nay phong giáo nhẹ nhàng, giờ đây đổi tính đổi nết, cộc cằn, say xỉn, thô lỗ. Nhìn cái gia đình tan nát của nó, Bà nhớ lời ông Tư năm xưa thường nói phải dám bỏ cái cần bỏ và dám làm điều cần làm mỗi khi Bà ái ngại việc ông bỏ nhà bỏ của vì Bà. Cái đầu già nua của Bà hôm nay lại bận rộn bưng bức.

Đêm hôm, con Hà dẫn bạn trai về nhà tiệc tùng, Bà quen giấc hằng đêm thức đến 3 giờ sáng chờ con đi làm về cơm nước rồi mới đi ngủ. Thằng con ngồi xuống bàn ăn mặt mày mệt mỏi, Bà ôn tồn gợi chuyện: -Con à, dạo này con Hà hết thuốc chữa, nó đưa bạn trai về nhà cợt nhã trước mặt Mẹ. Con tính sao... Chưa nói dứt câu, thằng Hùng vất đôi đũa đập chén cơm vào bàn, nước canh văng tung toé vào mặt hai mẹ con: -Trời ơi, sao khổ quá hả trời, sống sao cho nỗi với hai người đàn bà chỉ giỏi chì chiết nhau. Mẹ muốn con phải làm sao cho Mẹ vừa lòng. Hơn bốn giờ sáng, thằng Hùng rồ máy xe phóng ra đường, bà mở cửa nhìn theo, ngoài trời bông tuyết rơi trắng xoá, hơi lạnh trời đêm hắt vào, ngấm sâu vào lằn da sớ thịt, bà rùng mình nhìn lên bầu trời, cái xứ sở gì mà cả ngôi sao cũng không có, lấy đâu mà soi đường dẫn lối. Lần đầu tiên trong đời Bà không biết sắp tới sẽ phải làm gì. Ông bà tổ tiên đang ở đâu? Sao Bà thấy trơ trọi và lạc hướng. Bà quay vào nhà lặng lẽ thu dọn chén miểng. Rồi thấy đau nhói, Bà ngồi bệch xuống sàn nhà hai tay ôm lấy ngực, nghe miếng miểng trong lòng mình vỡ vụn. Ở đây, trong căn nhà này, trên xứ sở này, Bà thừa thãi vô dụng. Bà thấy mình như ngôi sao lẩn biến trên bầu trời, chực tắt.

Những ngày cuối năm, trời lạnh đến tê cứng, con người và vạn vật đều chạy nước rút. Mấy bà bạn già cùng quê biết bà sắp trở về quê sống liên tục rủ rê nhóm họp. Gặp nhau cũng chỉ để ca cẩm. Con Hà và đám bạn chợ búa của nó cũng bận rộn suốt ngày với khách khứa làm móng tay móng chân mùa lễ,rồi còn thì giờ thì xe xua tiệc tùng. Hai bàn tay núng nứ của nó mùa này móng dài nhọn hoắt sơn màu đỏ chót. Thấy bà trân trân nhìn, nó dương cặp mắt lồi, trề cặp môi thịt chảy xệ: bộ rảnh lắm sao mà nhìn trân nhìn tráo. Chẳng hiểu sao bà lại nghĩ đến cảnh làng quê ngày nào ông cậu nó chọc tiết heo đỏ ối mừng gả nó cho thằng Hùng của Bà. Bà nhìn nó cười hiền lành. Nó đá lông nheo đắc ý xách ví xỏ giày lồng ngồng bước ra cửa, miệng không quên xỉa xói: Bà già bây giờ học văn minh nước Mỹ bắt đầu biết điều hơn rồi đó. BàTư im lặng không nói gì, từ bao giờ, bà đã bỏ ngoài tai những điều chướng tai gai mắt.

Thật ra Bà đang tập trung để ý đến thằng Hùng. Mấy hôm nay không hiểu sao mặt mày nó có vẻ tươi vui hơn khiến bà cũng vui lây. Hôm qua nó đi làm về, mặt tươi cười, miệng kể chuyện liến thoắng. Có hôm nó ăn cơm khen Mẹ nấu ngon, nhắc đến món thịt ngâm nước mắm của Bà, rồi hỏi thăm Mẹ có cần con chở đi chợ. Đêm đêm bà thấy nó ngồi trước máy vi tính lẻng bẻng cười. Có khi bà nghe nó to nhỏ như chuyện trò với ai đó, ánh mắt nó mơ màng nhìn đăm đăm vào một bóng hình trên màn ảnh. Có thật hay không, thằng con yêu quý nhất đời của bà đang thật sự sống lại. Ông Tư phù hộ, bà lầm bầm khấn vái, nhưng rồi chợt nhận ra mình sai trái, bà chăm bẳm nhìn thằng con rồi chép miệng làu bàu: cái thằng mất nết, vợ hư chồng dại chỉ làm khổ con khổ cái.

Suốt tuần lễ giáng sinh và tết dương lịch trước khi bà về Việt Nam, thằng Hùng nhẹ nhàng, vui vẻ, lo lắng cho Bà hết mình.Rạng sáng ngày giáng sinh, hai thằng cháu nội dậy thật sớm mở quà. Con Hà đi đêm về khuya, mặt nặng mầy nhẹ rầy la tụi nhỏ để yên cho nó ngủ. Thằng Hùng hôm nay khuôn mặt cũng trẻ thơ như hai thằng cháu nội, Bà thấy nó mở ra một hộp quà gói giấy màu xinh xắn, nó ngồi thừ ra nhìn đầy vẻ cảm động, rồi mặt nó rạng rỡ cầm cuốn sách lên lật tới lật lui. Bên ngoài trời lạnh như căm, nó chạy ra cửa tóc tai chỉnh tề nhờ thằng con nháy giùm tấm bóng. Bà nhìn nó dọ hỏi, nó cười thành tiếng hỏi Mẹ hôm nay muốn làm gì.Trưa hôm đó, mặt cho bão tuyết, thằng Hùng chở Bà và hai thằng con trai đi Michigan thăm đồng hương.

Trên đường về, giả vờ ngủ bà nghe giọng thằng Hùng nhỏ nhẹ nói điện thoại.Ai đó bên đường giây làm nó cười. Nụ cười trong mắt nó rạng rỡ hệt như hồi còn bé mỗi lần chạy ra đầu ngõ đón bà gánh lúa về. Lòng Bà chợt ấm áp. Mùa xuân có lẽ rồi cũng sẽ trở về, như bao lần ly tan, mất mát, cuộc đời rồi cũng xoay vòng tuần hoàn. Bà chợt hiểu ra, đã nhiều lần bà tiếp tay giúp xoay chuyển cuộc đời nó, nhưng đã đến lúc bà phải buông tay để chính nó tự tìm cho mình cứu cánh.

***

Mùa hè miền Trung nóng bức, nằm đong đưa trên chiếc võng trước hè, đứa cháu đang nịnh bà ngoại xin tiền đứng bên cạnh phe phẩy chiếc quạt mo to tướng. Điện thoại reo, bà nghe giọng con Thảo tươi cười, rồi nó đưa điện thoại: Mẹ ơi, anh Hai gọi từ Mỹ nè. Tim bà rộn ràng. Chẳng hiểu sao từ ngày trở về quê, bà cứ mong thầm trong lòng một điều gì đó.Chính bà cũng không biết rõ bà chờ đợi tin gì vui. Có lẽ bà bám vào chút hy vọng từ ánh mắt rạng rỡ của thằng Hùng những ngày cuối trước khi bà rời nước Mỹ.Thằng con trai hỏi thăm Mẹ, rồi bỗng ngập ngừng: Mẹ à. Con báo mẹ tin vui. Hà mới qua khỏi cơn bệnh thập tử nhất sinh, đang dần dần hồi phục. Vợ chồng con đã hoà thuận trở lại. Bà im lặng, đưa mắt nhìn dàn hoa giấy đỏ rực dưới cái nắng gay gắt. Ánh nắng vàng rực bỗng dưng đổi màu trắng xám. Xa xa những hạt mưa bụi bất chợt lất phất, nhoà nhạt, hệt như những hạt tuyết trắng xứ người, phủ lắp, lạnh ngắt.

Buông điện thoại, lòng bà lặng câm, mắt bà vô vọng dõi về một phương trời xa xôi, vô định. Bão tuyết và vực thẳm, ai đó đang bứt khúc ruột của bà, ném xuống.

Nguyên Yên

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 122130)
Tôi là kẻ lọc lừa. Từ bé, tôi đã lừa những đứa trẻ khác để lấy đồ chơi của chúng. Đến tuổi đi học, tôi lừa thầy, phản bạn. Tôi gạt gẫm cả cha mẹ, anh em. Đi đâu tôi cũng được ưu đãi vì cái bề ngoài hào nhoáng của mình.
26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 115389)
Nhìn những mảnh gương vỡ và cái khung mạ vàng nằm dưới đáy thùng rác trong góc phòng tắm, Thúy không cảm thấy một mảy may tiếc nuối. Cái gương nhỏ này là món quà đầu tiên Dave tặng khi mới quen.
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 92158)
Sáng hôm nay ông Năm nhấp nhỏm ngồi đứng không yên. Hết ngồi xuống lại đứng lên. Ông bước chầm chậm lại gần cửa kiếng lớn phía sau nhà, nghiêng mình nhìn xéo qua cái hàn thử biểu để ngoài trời. Ông nhướng mắt rán nhìn cái màu đỏ của thuỷ ngân, coi nó lên xuống tới mức nào. Có thấy gì đâu, cái lằn đỏ nhỏ xíu, lờ mờ.
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 88594)
Hai mươi nhăm năm. Một phần tư thế kỷ. Khi nhìn lại chặng đường vừa qua của văn học Việt Nam, người ta nhận thấy do một tình cờ, một định mệnh hay một thần giao cách cảm ...
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 84772)
Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: ...”Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho 'Mặt trời mọc' đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc.
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 106199)
Hai mươi nhăm năm. Một phần tư thế kỷ. Khi nhìn lại chặng đường vừa qua của văn học Việt Nam, người ta nhận thấy do một tình cờ, một định mệnh hay một thần giao cách cảm ...
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 127766)
Sáng hôm nay ông Năm nhấp nhỏm ngồi đứng không yên. Hết ngồi xuống lại đứng lên. Ông bước chầm chậm lại gần cửa kiếng lớn phía sau nhà, nghiêng mình nhìn xéo qua cái hàn thử biểu để ngoài trời. Ông nhướng mắt rán nhìn cái màu đỏ của thuỷ ngân, coi nó lên xuống tới mức nào. Có thấy gì đâu, cái lằn đỏ nhỏ xíu, lờ mờ.
26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 159473)
Thạnh móc trong túi ra một miếng vải được buộc túm chặt bằng lạt tre, cẩn thận gỡ sợi lạt. Một dúm muối hột đen bẩn hiện ra. Thạnh trân trọng, nâng niu múc, vừa chẵn được hai thìa, đổ vào bát của Tường.
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 142259)
Dực đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực, nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc cầu thang gỗ.
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 129793)
Chồng tôi hành nghề kỳ quặc: Kiểm tra trí nhớ của con người. Lấy anh tôi mới khám phá, anh thường xuyên theo dõi những giấc mơ của mình. "Em có thai phải không?" Sau tháng đầu tiên Công đã dọ hỏi. Tôi lắc đầu tươi tỉnh. Giấc mơ đêm khuya còn sáng hồng bụ bẫm bắp chân hài nhi. Tôi biết chắc tôi chưa có mang, nhưng làm sao Công biết tôi đã nằm mơ thấy đứa trẻ? Sáu tháng hạnh phúc trôi qua như gió hắt mặt hồ.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3784)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13205)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1533)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1703)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2211)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2320)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1406)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2151)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1888)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1945)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1289)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2318)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2533)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2314)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 183)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 747)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 955)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1027)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6358)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15838)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32091)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38809)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1389)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6845)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10617)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9812)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9932)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10741)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3418)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11082)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10306)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi