- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,523

NGUYỄN HÀN CHUNG VÀ NGHỊCH LƯU CỦA TUỔI

27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 17975)

nguyenhanchung-content


Cuộc sinh tồn thon em

 

Cuộc sinh tồn thon em

trói chặt gã đàn ông ứ nhớ 

bầm uất không xuất

cơn mê dính chặt vào thân

 

Không có thơ

gâu gâu nỗi buồn bảy món

lũ hoạnh tài háu ăn

 

Chống mắt xác tín những lần giảo nghiệm húp chan

đời anh đời em đắng chát

vô vị vô vọng không lẽ vô vi

lấy gì phà vào sâu hun hút

đồng tiền bén ngọt cứa vào nhân luân mê hoặc tất thảy mọi bộ phận không ngoại trừ

 

A men

 

Không đủ đảm lược nói mắt huyền tóc mơ chán chết

tất nhiên biết uế tạp

u mê anh cứ ham đeo đuổi cơn động dục lâm bồn mặc em vun vào thánh thiện

 

mãn nhãn chớp tắt

còn hơn một đời lu câm

 

 

Trước khi thánh phải là người

dẫu trong tận cùng thực tướng

dẫu ngày thiên địa chuyển sát

dẫm lên húy kị bươn rớt chấp chịu

đâu dám bỏ bê cuộc sinh tồn thon em

 

 

Nguyễn Hàn Chung

 

 

 

trốn  

 

 

 trốn tiệt những đường cong

 rầu lòng bố cáo thất tung ánh sáng

 cày cục giống con nòng nọc xoay tròn một đời lắt léo

tá lả tình nhân neo đơn 

 

 không có ngựa hồ gầm

 mà chăm băm gió bấc

 không cởi không thả giữ rịt túi tinh ngày ấu mốc meo 

tủi em chênh vênh triền gió

có bao giờ em biết

 túng thiếu một đời anh thừa thãi

 

trốn tiệt những mông vú háng đùi tân trang

cũng chẳng bõ bèn gì khi hàng triệu sinh linh đói sữa

 còn bao nhiêu cái chớp mắt là tiêu

những đời thi sĩ

đừng giả vớ kinh hãi khi em hô kinh nguyệt bặm trợn

say no lấy gì lai sinh?

 

không có lấy con trâu con bò nào gặm nhai

cỏ xanh sinh ra buồn chán

 căm ghét cả những người thợ tỉa tót cần mẫn vô danh

khô héo một đoạn đời hương phấn

 

trốn tiệt cũng không thoát khỏi ma trận

trét vào con chữ giải khuây

không sao

em cứ lấy hớ hênh hậu thiên bù trừ thiếu sót tiên thiên

kẻo khi lão lai không còn cơ hội

 

trốn là trốn làm sao đây 

khi những đường cong cứ quấn vào thơ

thít chặt

họa chăng chỉ có nấm mồ

 

Nguyễn Hàn Chung

1/10/13

 

 

TẶNG KHAN

 

trong giấc mơ hẻo lánh không có em bên ngày

mịt mù

nhưng cơn gió trốt trốt

anh xoay trong vòng xoay

về ư em

giấc mơ nào mà không bịn rịn níu tà áo em bay

quấn vào chân anh mỗi cuộc 

 

 

ngựa nản chân bon hì hi làm sao

rêm người những cơn thấp khớp

không có em mô tê răng rứa chọc ghẹo quấy phá

lưỡi nào có xương mà không vặn vẹo tò te

anh liếm đằng đẳng đắng chát

 

quýnh quíu giấc mơ con chuồn chuồn kim đậu giàn bông bí

không hay tuyết rơi vung vãi hành hạ chùm hoa trinh nữ

lẻ loi tàn tạ sau vườn

 đứa nào tưới thẫn thờ lên hoa nhớ em quắn lưỡi

 

chờ xuân sang mà sợ xuân mục nát

 nhìn sững những chiếc lá vàng rơi quanh co

 còn kịp ngày mưa thưa dần theo đà tóc rụng ?

 

những giấc mơ ly tan nhiều khi sum họp

những giấc mơ ly tán nhiều khi sum vầy

em như cành gai cào xước lên da rát thốn

 

ngày ngắn quá rồi

còn bày đặt tày gang.

 

Nguyễn Hàn Chung

12/1/12

 

 


 

lời tình chắp vá

 

 

Bàn tay mỏi rớt

đến ly cà phê cũng không thèm quậy

ôm ảo ảnh mảnh lưng thon đuổng

tuyết vãi mù mịt cuối con đường không tăm hơi

mải miết những câu cú quạu quọ

muốn cắn một lời riết róng

môi em đâu ?

 

 Ngày ru rú ôm cây trụ điện xiêu vẹo xóm đáy

ném lời thù thì như xưa mẹ gieo thoi

làn da vàng ệch màu đồng đất quê nhà

thấm những chiều mưa đông đá không em

còn dăm vết tàn nhang kẻ ở

 

Thèm chết lời ỏn thót cô ả

còn hơn ngậm cứng ngắc ngứ

nỗi hoang toàng thâm căn cố đế 

không thể bộc bạch dù cả với mẹ với em

mặc cho đau thương lẩn quất

bò lăn bò càng nỗi buồn

 

Giá như có thể nối những đoạn đời lại với nhau

không biết anh sẽ nối những đoạn nào

đoạn đớn hèn rúm ró đoạn cục súc manh động

 

đoạn ngờ nghệch đoạn giả trá đoạn bi thương

sắp lớp đủ đầy

nhưng mảng u uẩn cứ sưng tấy

 không chịu vỡ

anh không thể lấn vào em như con buôn gán nợ

đành câm

cả những đòi cơn đêm hôm quờ quạng

 

Chả lý bàn tay cẳng chân

chỉ là phuơng thức bước đến trời mờ mịt

trái tim

sự lừa phỉnh của ẩn dụ tình ca dấy lên những câu thơ cao đạo thiếu tháng

chăm bẳm mục đích tối thượng thân xác

 

Bởi cớ lời rù quyến thiếu nồng nàn bú mớm

em bỏ tôi tong teo vành ngoài

mãn cuộc vẫn mông muội gào rú lời tình chắp vá

 

Nguyễn Hàn Chung

Houston ngày tuyết đầu mùa

 

 

 

trùng trùng bay nhớ loạn

 


Thương con sẻ đồng trốn chui trốn nhủi

bọn âm hồn bất tán

lùng sục không sót nhành cây bụi cỏ nào

chúng nhai rau ráu nỗi buồn chim sẻ

mùi thơm đau chim non

 

Tôi chạy mù mịt đắng họng

gãy cổ ngắm lớp lớp đàn đàn chim bay bang Texas

chúng bay sướng

chẳng biết sợ ai

nhẩn nha lu bù lầu cao cột điện

nguýt háy kít bụp loạn xạ chớt nhả mấy tên cu li da màu khiêng bê…

 

Mùa mưa khô mưa

tuyết còn lang thang đâu miền bắc

những khu rừng nguyên sinh cây ríu rít xanh

cái cây mầy cũng sướng

không ai rờ rẫm râu ria ra rậm rịt từ thuở mẹ cha sinh

 

Con sông gầy gò quê tôi

quen thói lên bờ xuống ruộng

lính quýnh chảy về đông

thi thoảng đến kỳ kinh cũng lên cơn đồng bóng

ăn sống nuốt tươi đám rách rưới bần hàn

con sông này đây sướng rơn

rong chơi óc ách quẩn quanh nuôi sống côn trùng

 

Cả cum mây vàng mây xanh mây xám

mầy cũng sướng

nhởn nhơ bay tán loạn xà bần 

thỏa thích bốn phương tám hướng

mây quê mình chỉ biết cuống quít về tây

theo chiều gió đông gió chướng tạo cơn

mưa cuối thu , đầu đông trẩy hội côn đồ

giông gió ,bão lũ quăng quật cuống cuồng xô tất thảy rơm rạ tranh tre xuống biển đông mù mịt

 

Làm gì có cao xanh đâu mà kêu thấu

dao găm đồng lõa với nam mô

thế gian toàn điệu khải truyền nát bét 

đầy dẫy những con giòi con sâu tương cận

 

 Thành một nấm, em và tôi.

 

Nguyễn Hàn Chung

 

 

 

trước bầy đầu manikin

 

 

 

Trước mắt anh một bầy đầu manikin kiều diễm

tóc mây loạn sắc

tóc mượt bay bay

tóc từ đâu lại

có trời mà biết nhưng chắc chắn không phải của những người đàn bà giàu sang

tóc người giàu không bán

 

Anh cảm thấu mùi tóc mun Asia mùi tóc quăn Africa xa xôi mùi gì gì đó cùng màu tóc mun em xưa cùng mùi rong rêu rừng rú ruộng rẫy mùi sa mạc mùi đồng cỏ mùi cứt bò

 

Mùi của anh

 

Bầy manikin có những đôi mắt đẹp mê hồn long lanh vô cảm

Anh bất lực không nhận ra màu mắt em trú ngụ hà phương

Má hồng non môi mọng tang sao anh mất cảm giác hôn hít má bầu mặt mụn

Manikin và anh lạnh tanh

 

 

Anh lùn mà bầy đầu manikin lại ở trên cao

không thèm nhìn anh nửa con mắt

anh vẫn cố lừa anh theo kiểu phả hồn

không biết từ lâu khánh tận tình yêu thuần khiết ngày cập kề tuổi teen

 

 Bầy đầu manikin xõa tóc

 mỗi con nhìn một hướng

anh nhớ mùi hương chang tóc mẹ

tóc manikin tuyệt không có gàu

tóc mẹ khen khét bài ca vọng cổ

 

Bầy đàn manikin không hề biết giả dối 

tóc các châu màu cơ cực

anh chán ghét bất cứ ai ký sinh màu tóc

để hát bài bên nhau…

 

Nguyễn Hàn Chung

Monique Beauty Supply TX

 


 

Dự cảm rời

 

 

Những cơn gió lẻ bầy vịn mưa mà tới

Ngã ba xốn xang nhớ em

Nhớ em mong em đừng tới

 

Đêm co cụm mặt hồ

Anh ráp vào mưa phập phù trốn rét

Bỏ thuốc lâu rồi khói đâu mà hát câu ví dầu …lại sặc

Mà gù xuống nỗi niềm ho khan

 

Bây giờ em có ra bến riêng

Ngóng một cánh buồm xiêu lạc

Nhớ em nụ cười anh rách nát

Sóng chân mày chồng chất đến hoang mang

 

Mưa phất phơ ngày em mới ra ràng

Dùng dặc con thuyền mắc cạn

Gió núi quê anh cực kỳ hào sảng

Không thổi phương em về còn biết thổi phương ai

 

Nắng xiên khoai anh tong tả đi cày

Mưa tới giờ hạ huyệt

Những cơn gió muộn mằn điên tiết

Lầng quầng trước ngã ba sông

 

Anh xéo lòng anh lên con chữ hoang

Nhớ em thả neo vào ký ức

Những con chữ đang thì rạo rực

Anh còn chưa thôi cái tuổi mùa màng

 

Những cơn gió lẻ bầy vịn mưa mà tới

Ngã ba nhớ em xốn xang

Ơn em vì em không tới.

 

Nguyễn Hàn Chung

 

 

 

Uống rượu với vợ bạn

 

 

Rót cho bạn một cốc đầy

Rót mời chị một chút cay gọi là…

 

Bạn tôi từ bước chân ra

Mê sông đắm biển trăng hoa cánh buồm

Chị dầu dãi gánh sớm hôm

Bao nhiêu cực bấy nhiêu buồn,nín câm

 

Bạn đi ngậm ngải tìm trầm

Mưa nghi ngút nắng lâm thâm ,rối màu

Mà nào đến cõi thơ đâu

Chỉ thêm mấy sợi trên đầu trắng tro

 

Cùng nhau bước hụt chuyến đò

Bến sông tỏ hết lòng cho nhau rồi

Nỗi niềm bạn cũng là tôi

Nhớ thương nén chặt trong lời linh tinh

 

Cốc nầy kính chị anh minh

Giải oan án kẻ phụ tình bạn mang

Thì xin chị,dẫu muộn màng

Rót vào sương khói chút nhang khói nầy

 

Rót cho bạn một cốc đầy

Rót mời chị sẻ đắng cay với chồng

 

 

Nguyễn Hàn Chung

 



 



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1038)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1124)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1812)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5842)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5821)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13169)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30052)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81164)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20227)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 215)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối