- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Nguyễn Phi Khanh và nỗi niềm của người trí thức trước cảnh đất nước loạn ly

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 81791)

silent-evolution-01-content

 SILENT-EVOLUTION_ Photo by Jason deCaires Taylor


Nguyễn Phi Khanh sinh năm 1355 và mất năm 1428[1] (có thuyết nói ông sinh năm 1336, mất năm 1408[2]), quê ở xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây (có thuyết nói ông còn có quê thứ hai ở Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương). Ông tên thật là Nguyễn Ứng Long, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ tướng. Nhưng ông lại là người say mê văn chương, am tường kinh sách, thơ phú, nên thuở trẻ khi chưa đỗ đạt, ông được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán mới vào dạy học cho con gái đầu là Trần Thị Thái. Đó cũng là cơ duyên để ông trở thành con rể của vị Tư đồ danh tiếng này. Và vì thế, từ trước đến nay, ông được biết đến nhiều có lẽ chủ yếu là vì ông là con rể Trần Nguyên Đán và là cha đẻ của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc văn võ kiêm toàn ở thế kỷ XV, hơn là với tư cách một nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn Trần.

Nhưng ông thực là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn Trần, để lại nhiều tác phẩm có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lịch sử văn học thời kỳ này.

Nguyễn Phi Khanh đỗ Thái học sinh dưới triều Trần Duệ Tông, năm Long Khánh thứ 2 (1374). Nhưng ông không được trọng dụng và bổ làm quan dưới triều nhà Trần. Có nhiều thuyết giải thích khác nhau về việc này. Có thuyết cho rằng vì ông xuất thân bình dân nên không được nhà Trần trọng dụng(?). Lại có thuyết cho rằng vì ông là con gia đình quan võ, nhưng giỏi văn học, chính trị, có nhiều ảnh hưởng trong nhân sĩ, nên nhà Trần nghi ngại không giao cho chức quan gì(?)... Nhìn chung các đoán định này đều thiếu thuyết phục và cho đến nay ta vẫn thực chưa biết vì sao ông không được trọng dụng dưới triều Trần. Sau này khi nhà Hồ lên nắm quyền, ông mới được vời ra và trọng dụng. Ông làm quan dưới triều Hồ trải qua nhiều chức vụ như Học sĩ Viện Hàn lâm, Thông Chương đại phu, Đại Lý tự khanh kiêm Trung Thư thị lang, Thái tử tả tán Thiện đại phu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám... Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta, cùng với cha con Hồ Quý Ly, ông bị bắt về Kim Lăng, Trung Quốc và mất ở bên đó.

Tác phẩm của ông có Nhị Khê tập, đã bị mất mát nhiều, nay chỉ còn 69 bài chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Tuy thế, ông vẫn là một trong những nhà thơ có nhiều tác phẩm còn lại nhất trong thời Trần.

Nguyễn Phi Khanh sinh trưởng trong thời kỳ suy thoái của triều Trần. Thơ văn của ông là tiếng nói, là tâm trạng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam trong thời buổi đất nước loạn ly. Cảm hứng rõ nhất trong thơ ông là cảm hứng về đạo lý của kẻ sĩ khi đất nước bất an, thế cuộc điên đảo, tương lai u ám. Đọc lại lịch sử nước Việt thời kỳ này, ai cũng cảm thấy có một không khí thật nặng nề, u tối. Triều đình sa sút, bạc nhược, yếu hèn, thiên tai, địch hoạ liên miên, khiến không chỉ đời sống của người dân bị cơ cực, mà ngay cả một bộ phận quý tộc, quan lại, trí thức cũng không tránh khỏi hoàn cảnh buồn thảm. Người ta buồn thảm về công danh sự nghiệp mờ mịt. Chu Văn An từng than thở: “Công danh đã đi vào giấc mộng hoang đường” (Làm thơ ở Giang Đình). Thất vọng về công danh bế tắc, Nguyễn Ức viết: “Đường công danh vạn dặm chưa tỏ lối” (Đêm thu cùng bạn cũ Chu Hà kể chuyện đã qua)... Người ta buồn thảm về đời sống nghèo túng, bất an, vô vọng... Tiếng than van vang lên trong thơ văn của nhiều thi sĩ thời này như một thứ âm thanh, như một thứ âm nhạc của thời đại. Thơ văn chính là một loại âm nhạc của lòng người.

Muốn biết nước thịnh hay suy, thì phải nghe “lòng người” chứ không phải nhìn màu cờ sắc áo phô trương bên ngoài. Có thể nghe “lòng người” từ nhiều phía, trong đó tiếng lòng cất lên hồn nhiên vô tư và chân thực nhất thường là âm nhạc. Nghe âm nhạc mà biết được vận nước, biết được “thế đạo nhân tâm”. Nó cất lên từ lòng người nên không gì cấm đoán được nó. Cổ nhân dạy, nhạc không phải chỉ là âm nhạc, nó cũng là tiếng lòng của con người. Lòng người cảm ở ngoại vật mà sinh ra thanh âm. Thanh âm tương ứng với nhau mà thành các cung bậc khác nhau. Đó cũng là cung bậc tình cảm. Thanh âm ấy thể hiện ra ở cả múa hát, chuông trống, đàn địch, thơ văn... Âm của nhạc chia làm năm bậc, hay là năm âm chính: Cung, thương, giốc, chuỷ, vũ. Lòng người do cảm xúc ngoại cảnh mà thành âm nhạc, âm nhạc lại làm cho lòng người thay đổi. Ấy là cái tương tác của nhạc và người. Ngoại cảnh đau đớn thì lòng người thương xót, khi đó âm thanh nghe tiêu sái; ngoại cảnh tốt đẹp thì lòng người vui vẻ, khi đó âm thanh nghe êm đềm, hớn hở; ngoại cảnh đen tối thì lòng người giận dữ, âm thanh khi đó nghe dữ dội, bất yên; ngoại cảnh trang nghiêm thì lòng người chính trực, khi đó âm thanh nghe trang trọng, hùng tráng; ngoại cảnh ấm áp, yên lành thì âm thanh nghe tha thiết, dịu dàng, êm ái... Lòng người cảm điều thiện thì có thiện thanh, lòng người cảm điều ác thì có ác thanh. Thiện ác của nhạc là bởi lòng người sinh ra, rồi sau đó nó cảm lại lòng người, khiến cho lòng người đổi thay, có thiện có ác. Nhạc có tác dụng lớn như vậy nên người xưa chú ý dùng nhạc để cải hoá lòng người, cải hoá xã hội, khiến cho đạt tới sự chí thiện, chí mĩ... Người xưa cho rằng nhạc phải có thanh âm hài hoà, tao nhã, để di dưỡng tính tình... Nhạc vì thế, đều liên quan đến chính trị. Nghe âm nhạc mà biết được lòng người, biết được không khí chính trị của chế độ (cũng như xem văn học, nghệ thuật vậy). Chính trị tốt đẹp thì nhạc hay, chính trị xấu xa thì nhạc dở. Âm nhạc thời thịnh thì vui vẻ, khoan hoà, tha thiết, âm nhạc thời loạn thì buồn bực, tức tối, oán giận, sầu bi... Âm nhạc có quan hệ mật thiết đến việc giáo hoá, đến tình hình chính trị, nên người xưa rất trọng nhạc.

Đời vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), chính sự bắt đầu đổ nát, gian thần lộng hành, Chu Văn An dâng Thất trảm sớ đòi chém bảy tên nịnh thần, nhưng vua không nghe, bèn cáo quan trở về quê, mở trường dạy học. Hồ Nguyên Trừng trong sách Nam Ông mộng lục gọi ông là “Văn Trinh ngạnh trực” (Văn Trinh, con người cứng rắn và ngay thẳng). Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục – Tài phẩm viết: “Chu An dâng sớ xin chém bọn nịnh thần, làm rung động cả trong triều ngoài quận, rồi cáo quan trả mũ áo về nhà, không chịu tước lộc bó buộc, vua chúa phải tôn trọng, công khanh phải kính phục, đấy là bậc thanh cao nhất”. Thời Mạt Trần có cả một “phong trào” can vua của kẻ sĩ thể hiện trong các bài phú. Mượn lối tả cảnh ngụ tình, trình bày sự việc để thể hiện ý tưởng của mình, hàng loạt kẻ sĩ thời này đã sáng tác những bài phú nhằm bày tỏ thái độ phê phán đối với tình trạng đổ đốn, nhiễu loạn của xã hội. Đó là khi giai cấp thống trị đi vào con đường xa hoa hưởng lạc, mâu thuẫn giữa thống trị và bị trị ngày càng gay gắt. Triều đình nhà Trần nghiêng ngửa. Lớp trí thức “loạn diệc tiến” thời này tâm niệm phải "giúp vua được như Nghiêu Thuấn" (trí quân ư Nghiêu Thuấn chi quân), nên quyết dấn thân. Thơ văn của họ nói lên cái khát vọng "phò nghiêng, đỡ lệch". Xuất phát từ việc đề cao tư tưởng "đức trị", họ đề ra yêu cầu cấp thiết của việc "tu thân" đối với đấng "thiên tử". Nhà vua phải hàng ngày tu thân sửa đức mới mong cứu vãn xã hội. Trong Thiên thu giám phú, Phạm Mại khuyên vua trau dồi đạo đức, giữ vững lễ nghĩa: "Đạo đức rộng ra phép tắc, lễ nghĩa sánh chắc đá vàng". Trong Quan Chu nhạc phú, Nguyễn Nhữ Bật khuyên vua nên dùng âm nhạc làm phương tiện để sửa đức: "Tôn cái thế trung hoà thời cổ, sửa đồi phong, nịnh hót đời suy". Trong Cần Chính lâu phú, Nguyễn Pháp can vua không nên ăn chơi xa xỉ, mà phải chăm chỉ việc triều chính: “Thanh sắc lánh xa chẳng thiết,/ Bắn săn bỏ dứt không chơi./ Cấm gấm vóc không cho là quý,/ Mặc giản đơn làm trước mọi người... Thức khuya dậy sớm,/ sử dụng hiền tài...” Họ cho rằng trách nhiệm của người cầm bút phải dùng ngòi bút cứu vãn xã hội, dù có phải chịu hy sinh, mất mát, như tấm gương sử bút Đổng Hồ nước Tấn đời Xuân Thu: “Khen điều gì không ngoài cái thiện / Truất điều gì không ngoài cái ác / Cầm thẳng bút mà ghi chép hết, / Dù mảy may chẳng dám đơn sai...” (Đổng Hồ bút phú). Đó là âm nhạc thống thiết của văn chương, của lòng người thời đại này.

 Đọc Đại Việt sử ký toàn thư, ta thấy nhan nhản những ghi chép về một thời kỳ được xem là khá hỗn loạn của đất nước: Năm 1369, Dương Nhật Lễ lên ngôi, gây nhiều điều thảm khốc trong cung. Năm 1371 “người Chiêm Thành sang cướp... đốt trụi cung điện, đồ thư cả. Trong nước từ đấy sinh nhiều chuyện”. Năm 1373, giặc cướp đua nhau nổi dậy. Đại hạn, mất mùa liên miên. Sau đó thì: Vua Dụ Tông lại “là người ương bướng, tự theo ý mình, không nghe lời can...”. Vua Nghệ Tông sau này tuy được một vài người ca tụng, nhưng cũng bị sử sách đương thời phê phán vì là người khiến “đạo tam cương rối loạn”. Trần Phế Đế thì là ông vua “ngu hèn, chẳng biết làm gì, uy quyền ngày một về người dưới. Xã tắc nghiên đổ, đến thân mình chẳng giữ được”. Rồi lại “đại hạn, đói to”. Rôì thì nước Minh nhòm ngó, sách nhiễu. Đến đời Trần Thuận Tông, “vua chỉ ngồi giữ ngôi không, chính sự do quyền thần làm cả, tai hoạ đến thân mà không biết”. Đúng là, “nhà Trần từ sau Duệ Tông hoang dâm phóng túng, thêm vào Chiêm Thành quấy phá, giặc cướp rất nhiều, giữa ban ngày cướp đoạt của người, pháp luật không thể ngăn cấm nổi”[3].

 Trong bối cảnh xã hội ấy, Nguyễn Phi Khanh bước vào cuộc đời với bao hoài bão và cũng với nhiều nỗi thử thách, gian nan. Vì lý do nào đó, có thể vì thân phận, có thể vì đố kỵ, dèm pha, có thể vì khí chất con người ngay thẳng liêm chính không chịu khuất phục các thế lực hắc ám lộng hành trong một triều đình thoái hoá, hay cũng có thể vì một lí do khách quan nào đó mà chúng ta chưa biết được, nên tuy đỗ đạt cao, ông vẫn không được nhà Trần trọng dụng. Phải mãi sau này, khi nhà Hồ lên, ông mới được giữ một số chức quan, như đã nói. Đây có thể là thời kỳ tuy ngắn ngủi nhưng tươi sáng nhất của đời ông. Nhưng ngay cả khi không được thi thố tài năng, hay cả khi phần nào toại nguyên công danh, chúng ta vẫn thấy ông ôm một bầu tâm sự không mấy yên ả, thanh thản.

Cảm hứng trong thơ Nguyễn Phi Khanh là cảm hứng thế sự, cảm hứng đạo lý. Nó giúp cho thơ ông có “cá tính”, có nét riêng, và giúp ta có thể thấy được một số giá trị riêng mà lâu nay chúng ta chưa thật chú ý đến, làm cho thơ ông không chỉ là một sự giải thích “chung chung”, mờ nhạt, quen thuộc về con người, về tâm hồn ông, vốn ít nhiều đã bị khuất bóng bởi hai nhân vật nổi tiếng, một ở trước ông là nhà thơ - tể tướng Trần Nguyên Đán, đồng thời cũng là bố vợ ông, và một ở đằng sau ông là thi hào Nguyễn Trãi, cũng là con trai ông. Đúng là “người ta đã không hiểu được tâm sự sâu kín của ông, thì dễ thường cũng không hiểu được thơ văn sâu kín của ông, và như vậy là khó mà nhận chân được vẻ đẹp sáng ngời trong văn chương của ông”[4]. Hay ngược lại là, người ta đã không hiểu được thơ văn sâu kín của ông, và như vậy là khó mà nhận chân được vẻ đẹp sáng ngời trong văn chương của ông, thì dễ thường cũng không hiểu được tâm sự sâu kín của ông.

Chúng ta thấy có ba cảm hứng, ba nét tâm trạng được thể hiện khá rõ trong thơ Nguyễn Phi Khanh, đó là tâm trạng của kẻ sĩ dù tài cao mà không được trọng dụng nhưng vẫn lạc quan tin tưởng; là niềm khao khát cống hiến tài trí cho triều đình, cho đất nước của người trí thức dù trong bất kể hoàn cảnh nào; và sự đồng cảm, sẻ chia, yêu thương của người trí thức đối với đồng loại, đối với chúng dân, những người nghèo khổ trong thời buổi nhiễu nhương. Chúng đã làm nên nét riêng, làm nên giá trị của thơ ông. Những giá trị này, những phẩm chất này có lẽ cũng được tiếp nối, được nâng cao, được thăng hoa trong thơ ca của thi hào Nguyễn Trãi sau này. Và vì vậy, Nguyễn Phi Khanh chẳng những không bị khuất lấp trước cái bóng sừng sững của Nguyễn Trãi, mà còn có vai trò quan trọng không phải chỉ trong việc tạo dựng nên nhân cách, tâm hồn Nguyễn Trãi, mà còn cả trong việc bồi dưỡng nên những phẩm chất văn học của Nguyễn Trãi.

*

Nhận xét về thơ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Huệ Chi viết: “Trong tâm trạng u uất của một người có tài mà không được thi thố, phải làm nghề dạy học nuôi thân, Nguyễn Phi Khanh đã viết nên những vần thơ cảm thán nhẹ nhàng mà tinh tế. Ở đây có chút gì như sự mặc cảm về cái vô dụng của cuộc đời, như là sự chán ngán thế tình bạc bẽo, tin về niềm vui nhàn ẩn thanh cao của mình”[5]. Đinh Gia Khánh lại cho rằng, “Nguyễn Phi Khanh trong khi nói lên nỗi buồn của mình đối với hiện trạng của xã hội phong kiến vẫn không tỏ ra tuyệt vọng. Trái lại, ông đã nói lên ý chí phấn đấu để cải thiện hoàn cảnh. Cái khí phách của tác giả tiêu biểu cho khí phách của tầng lớp trí thức yêu nước đương thời”[6].

Trong bài thơ Thôn cư (Ở trong thôn), ông đã nói lên điều đó:

Thân ngoại phù danh phó trọc giao

Vạn sự vô doanh tâm tự khả

(Cái danh hão ở ngoài thân đã có chén rượu đục xoá bỏ

Muôn việc chẳng màng, lòng tự thanh thản)

Nhưng vẫn có những mối sầu nặng trĩu lòng ông trong những ngày ngã bệnh, như bày giãi của ông trong Thu trung bệnh (Bị bệnh lúc mùa thu):

Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh

Trữ sầu khi ngoạ sổ tàn canh

(Muôn việc đều trái với ý người, đêm dài thêm mãi

Chất chứa mối sầu nằm trằn trọc đếm canh tàn)

Hình như sau rất nhiều ngày tháng lăn lộn chốn đô thành kiếm tìm công danh dưới triều Trần nhưng thất bại, ông đã quyết định trở về. Trong bài thơ Dụng Trịnh sinh lưu biệt vận dĩ biệt chi (Dùng vần thơ lưu biệt của Trịnh Sinh để từ biệt), ông viết:

Thân xá hảo tuần ôn thanh hậu

Thế đồ cam tả lợi danh tiêu

Vân sơn tạc mộng tầm hương lý

Hồ hải tư du cách thị triều

(Trong ngôi nhà của cha mẹ hãy theo thời tiết ấm lạnh

Trên đường đời đành gỡ bỏ cái dàm danh lợi

Giấc mộng núi mây ngày trước tìm về quê hương

Chuyến chơi hồ hải này cách xa thị triều)

Ông muốn tìm niềm vui nơi suối rừng để quên lãng, mà ông cho đó như là một điều quý giá nhất. Trong bài Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác (Chơi núi Phật Tích, đối diện dòng sông, ngẫu nhiên làm thơ), ông muốn học người xưa:

Phù thế bách niên chân nhất thuấn

Cổ nhân phiến lạc trị thiên câm

(Cuộc đời trăm năm, thực chỉ như ánh chớp

Vui chơi một khắc, người xưa đánh giá nghìn vàng)

Cũng phảng phất một dáng vẻ tiên phong đạo cốt nhàn tản chốn ẩn cư, tuy rằng hình như không hẳn đã thật phù hợp với tuổi tác của ông những năm tráng niên còn day dứt mộng công danh này, nhưng chỉ vì bất đắc dĩ mà làm một người ngao du nơi sông núi. Vậy nên cái tâm trạng trong bài Du Côn Sơn (Chơi núi Côn Sơn) vừa như là “tả thực” lại vừa như có vẻ bông đùa:

Bách niên phù thế nhân giai mộng

Bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên

(Cuộc phù thế trăm năm, người người đều như mộng

Trộm cái nhàn nửa ngày, ta cũng là tiên)

Bởi vì đúng là thơ Nguyễn Phi Khanh trong thời kỳ này chủ yếu là tâm trạng ưu sầu. Trong bài Thu nhật khiển hứng (Khiển hứng ngày thu), ông viết:

Thế thái nhậm tha hoàn phiến bạc

Nhàn sầu khuyến ngã tửu bôi không

(Thói đời mặc họ như chiếc quạt lụa mỏng

Mối sầu vẩn vơ giục ta cạn chén)

Nhưng cũng đúng là thơ ông không thấy cái bất lực buông xuôi, mà vẫn có cái khảng khái, chí khí của con người có sức mạnh nội tâm để chiến thắng hoàn cảnh. Trong bài Ngẫu tác (Ngẫu nhiên làm thơ), ông cho rằng mọi sự trên đời đều là do con người ta thể hiện, con người ta đều có thể tìm thấy sự “thoả thích” tuỳ theo bản thân mình:

Càn khôn hình trước giai ngô đạo

Phi dược cao thâm khả toại nghi

(Vật hữu hình trong trời đất đều do ta biểu hiện

Chim bay trên trời cao, cá nhảy dưới vực sâu đều có thể thoả thích)

Vì thế mà trong những ngày nhàn ở chốn quê nhà, ông mới có thể “tan nỗi lo”, mới tìm được sự “thư thái”. Trong bài Gia viên lạc (Thú quê nhà), ông viết:

Tâm tòng nhàn xứ htiên ứu thất

Học đáo xung thời tứ thể thư

trục vật lao nhân hưu ngộ ngã

An Nhân chí dĩ toại u cư

(Lòng hướng về cái nhàn, ngàn nỗi lo tan hết

Học đến mức sung mãn, chân tay thư thái

Chạy theo vật dục, người đời nhọc nhằn, ta chớ lầm nữa

Được ở chỗ thanh u, chí An Nhân đã toại rồi)

Tâm trạng đó nói lên cái đạo lý làm người của Nguyễn Phi Khanh, dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất vẫn giữ vững chí khí, vẫn lạc quan chờ đợi, tin tưởng vào một ngày mai thay đổi.

*

Niềm khao khát cống hiến, những tâm sự của một người được trọng dụng đã làm nên những nét tươi sáng trong thơ Nguyễn Phi Khanh trong thời gian ngắn ngủi ông được làm quan dưới triều Hồ. Đúng là, “trong phần thơ làm sau khi làm quan với nhà Hồ, tâm tình Nguyễn Phi Khanh có phần khác trước. Đó là niềm vui của một người gẵn bó với triều đại mới, nhìn vào cảnh vật thấy rạng rỡ hơn, vì tâm tư của mình đã giải thoát được nhiều nỗi buồn... Dĩ nhiên phần thơ này không có mấy... Âm hưởng chung của thơ ông vẫn là âm hưởng ưu sầu”[7].

Tâm trạng hào hứng cống hiến, hăng hái phụng sự cho triều đình, cho chế độ cũng đã từng được ông thể hiện khi ông còn lận đận, “hàn vi”. Trong bài thơ Xuân hàn (Cái rét mùa xuân), ông đã từng mong được làm một cái ống bễ để thổi ngọn gió hoà tới khắp muôn dân:

An đắc thử thân như thác thược

Hoà phong hư biến cửu châu tâm

(Mong sao thân này được như cái ống bễ

Thổi ngọn gió hoà tới khắp lòng người chín châu)

Vẫn biết trên con đường “hoạn lộ” luôn lắm chông gai, nhưng ông mong muốn phải biết vượt lên trên chống gai, hiểm hóc để mà phụng sự, để cống hiến. Trong bài thơ Hạ Tống, Lê, Đỗ, tam Ngự sử (Mừng ba vị quan Ngự sử họ Tống, Lê, Đỗ), trước đây ông từng hào hứng chúc mừng những người được triều đình trọng dụng:

Dĩ tương phong thái nghi triều trứ

Hảo bả tinh trung động tử thần

Lưu thủ thanh danh quang vạn cổ

Thế gian kỳ lộ tổng yên trần

(Đã đem phong thái làm khuôn thước ở triều đình

Hãy đem lòng trung khích động đến điện tía

Gắng lưu lại tiếng thơm sáng muôn thuở

Những con đường trên cuộc đời này thảy đều khói bụi)

Vẫn biết chốn miếu đường là một sân khấu chính trị mà ai can dự vào cũng chỉ là một “diễn viên”, như chính ông trước đây có lúc buông lời trào lộng trong bài Thành trung hữu cảm ký, trình đồng chí (Gửi trình các bạn đồng chí những cảm xúc khi ở trong thành):

Triều trung chu tử động phân phân

Huyễn nhãn thuỳ năng các tự phân

(Trong triều áo đỏ áo tía cử động rối loạn

Bởi mắt chẳng tinh, ai mà phân biệt được mình)

Nhưng nếu được nhà vua và triều đình tin dùng, chắc chắn ông vẫn nguyện vì vua vì nước vì dân không một chút từ nan, như mong mỏi của ông bày tỏ trong bài Hạ Trung thư thị lang (Mừng quan Trung thư thị lang):

Thánh thế thảng hoài di khí vật

Nguyện thi tài tảo đáo nông tang

(Đời trị, chúa có đoái trông đến vật bị vứt bỏ còn sót lại

Thì xin nguyện đem tài mọn này đến tận nơi thôn xóm)

Đó là cái lý tưởng của kẻ sĩ đối với đất nước, đối với triều đình, luôn khao khát cống hiến, khao khát phụng sự. Nhưng có lẽ cảm hứng về điều này chỉ được ông thể hiện sâu sắc nhất khi đã làm quan cho nhà Hồ. Trong bài phú nổi tiếng Diệp mã nhi phú (Bài phú về con ngựa lá) ông đã không giấu giếm điều đó. “Theo lời chú trong Quần hiền phú tập thì sau khi Hồ Quý Ly dựng thành Tây Đô ở Thanh Hoá, có người dâng con bọ lá hình giống con ngựa (con bọ ngựa?), triều đình cho là điềm tốt mới đặt tên nó là Con ngựa lá và ra đề cho các danh sĩ đương thời làm phú chúc tụng việc này. Số người làm phú Con ngựa lá (Diệp mã nhi phú) chắc khá nhiều, song hiện nay chỉ mới tìm được bài của Đoàn Xuân Lôi và bài của Nguyễn Phi Khanh”[8].

Ông ca tụng con ngựa lá xuất hiện như điềm lành báo hiệu vận hội mới mở ra cho đất nước, cho con người:

Phàm là vật trong trời đất, chẳng vật nào không nhảy múa trước xuân phong, đượm nhuần trong hoà khí;

Người ước mong thoả nỗi ước mong, kẻ sinh sống vui niềm sinh sống;

Người khéo không trổ hết khéo khôn, kẻ tài kỳ dốc nghề tài kỳ...

Ca tụng vật lạ vật thiêng, cũng là ca tụng thời đại mới hứa hẹn bao điều sáng sủa, nhưng khác những bài phú khác, đây không phải chỉ là một bài văn mang cảm hứng ca tụng, ngợi ca triều đình, chế độ mà còn mang cảm hứng phê phán, cảm hứng về đạo lý dùng người, đạo lý của bậc đế vương có điều cần chỉnh đốn trên tinh thần “khuyến bách phúng nhất” (khuyến khích trăm lời, châm trích một lời). Dù chỉ là “một lời châm trích” trong “trăm lời ngợi ca”, nhưng đó là cả một bầu tâm huyết của tác giả. Nguyễn Phi Khanh muốn mượn hình ảnh con ngựa lá thiêng lạ, sang quý làm mê đắm cả bậc đế vương ấy để đặt một vấn đề khác, lớn lao hơn, rằng con vật lạ đó là quý giá thật, nhưng làm sao quý giá được bằng con người, làm sao quý giá được bằng kẻ sĩ? Bậc đế vương muốn trị nước yên dân, muốn cho đất nước cường thịnh thì phải biết quý trọng con người, nhất là kẻ sĩ. Phải biết trọng người hiền tài, chăm lo cho con người như vốn quý của quốc gia, trên cái tinh thần cao quý mà sau này khi phục hưng đất nước, có nhà Nho đã tổng kết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nếu nhà vua, hay rộng ra là giai cấp thống trị, biết nâng niu, quý trọng con người, biết chăm lo cho con người thì lòng dân sẽ tin theo, đất nước sẽ giàu thịnh, xã hội sẽ thái bình, nhược bằng quý vật hơn người thì hậu quả sẽ chỉ là sự xa lìa chính giáo, chỉ làm tổn thất nhân tâm, lòng người lý tán, và đất nước thêm rối ren loạn lạc. Trong bài phú, ông tha thiết trình bày cái ý tưởng đó với Hồ Quý Ly:

Kính xem: tài năng thành trí, khó kẻ luận bàn

Lại trộm nghĩ: Suy xét lòng trời, dõi tìm nhân sự

Ví bằng sinh sâu thiêng trên cây, sao bằng sản kẻ sĩ cao thượng, người kỳ tài trong thiên hạ?

Ví bằng vịnh thơ ngựa lá, sao bằng đọc thơ” Hữu Bật”[9] trong thiên “Lỗ tụng”, giải về “Đức ký”[10] ở “Lỗ luận”?

Thế nên đối với vật thiêng lạ cũng đã yêu thương; huống gì đối với loài xảo diệu còn hơn, và cực kỳ thiêng lạ!

Xin hãy đổi lòng yêu vật thành lòng trọng người hiền, đem chí đãi vật làm chí đãi kẻ sĩ;

Xem lá cây nhớ thơ “Vực phốc”[11] trọng dụng con người, thơ “Thanh nga”[12] dạy nuôi tài sĩ;

...

Khiến cho chốn triều đình tượng vẽ tìm được, vùng rừng rú rồng nằm phấn khí;

Được như thế thì phô trương điều lành, ngợi ca đức tốt há chẳng lớn lao rực rỡ hay sao?

Tư tưởng cao đẹp ấy sau này được chính con trai ông là Nguyễn Trãi tiếp tục khẳng định lại trong sự nuối tiếc, xót xa cho một triều đại khá tươi sáng nhưng đoản mệnh, là triều Hồ, trong bài thơ Quan hải (Đóng cửa biển), khi nói về những cố gắng vô vọng của nhà Hồ trong việc xây dựng một đội quân đông đến “trăm vạn người”, trong việc xây thành đắp luỹ hay chăng lưới sắt để “đóng cửa biển”, nhưng vì không được lòng dân nên vẫn thất bại thảm hại trước cuộc xâm lăng của giặc Minh:

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

(Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi,
Thêm ngầm dây sắt - uổng công thôi.
Lật thuyền, thấm thía: dân như nước,
Cậy hiểm mong manh: mệnh ở trời.
Họa phúc có nguồn, đâu bỗng chốc?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi?
Xưa, nay, trời đất vô cùng ý,
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt trời)

 Con người ấy, khi bị lãng quên vẫn kiên gan chờ đợi, khi được trọng dụng cũng rất cương trực, thẳng thắn. Cái đạo lý của Nguyễn Phi Khanh là cái đạo lý của kẻ sĩ với khí tiết thanh cao, phẩm chất trong sạch. Đó là một nhân cách đáng trọng cả giữa buổi nhiễu nhương hay trong thời thịnh trị.

*

Cùng với Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh được xem là một nhà thơ gắn bó với nhân dân, cảm thông sâu sắc nhất với nỗi thống khổ của nhân dân ở thời kỳ Vãn Trần. Do điều kiện sống, và do khí chất con người, ông đã từng sống, từng trải nghiệm qua cuộc sống của người dân trong hoàn cảnh đất nước loạn ly bởi thiên tai, địch hoạ, bởi triều đình phong kiến nhà Trần thời mạt kỳ. Nhất là, “từ cảnh ngộ một người bị đặt ở ngoài vòng chính sự, Nguyễn Phi Khanh có dịp quan sát một cách vô tư thời cuộc diễn biến xung quanh ông, ông chợt nhận ra muôn ngàn nỗi cực khổ đang vò xé người dân Việt ở giai đoạn cuối Trần”[13].

Trong bài Hồng Châu kiểm chính dĩ dư vận tác thuật hoài thi, kiến phúc dùng kỳ vận dĩ tặng (Kiểm chính Hồng Châu dùng vần của tôi để làm bài thơ Thuật hoài, sau khi đọc tôi lại dùng vần ấy làm thơ tặng anh), ông nói tới cái bất công của xã hội, cái khốn khổ của người dân, cái tình cảnh “người ăn không hết kẻ lần chẳng ra”, mà bản thân mình cũng đành bất lực:

Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu

Thuỳ gia kim ngọc á cao khâu

Nhân tình gian hiểm quân phương cốc

Thế lộ phong đào ngã diệc châu

(Muôn họ nhao nhác chờ miếng cơm manh áo

Nhà ai đó vàng ngọc sánh đầy gò cao

Anh là cái bánh xe lăn trong sự gian hiểm của tình người

Tôi như con thuyền trong cơn sóng gió của đường đời)

Ông khao khát một nỗi cảm thông, chia sẻ của triều đình đối với người dân. Trong bài Giáp tí hạ hạn, hữu sắc chư lộ đảo vũ, vị đảo nhi tiên vũ (Mùa hạ năm Giáp tí (1384) hạn hán, vua có sắc cho các lộ cầu mưa, chưa cầu trời đã mưa), trước cơn mưa hiếm hoi trong ngày hạn, ông bày giãi một tâm trạng nửa phần như là hoan hỉ cho dân, nửa phần như là sự trách móc đối với triều đình:

Viêm viêm cửu thổ chính tiêu tầm

Nhất vũ hoàng thiên phổ trạch thâm

Thỉnh tội quốc tương hành thịnh đảo

Sơ hoà dân dĩ thiếp hoan tâm

Ngoạ long tự thị nhân gian vật

Tiếu tương năng vi tuế hạn lâm

Tỉ thị bộc uông hà dụng giả

Chí thành cảm triệu cổ do câm

(Rừng rực đất đai khắp nơi đang khô cháy

Một trần mưa trời gieo khắp ơn sâu

Nhà nước đang chuẩn bị làm lễ thỉnh tội cầu mưa

Trời đã đem khí hoà, dân thấm nhuần niềm vui

Rồng nằm vốn là con vật của nhân gian

Tiếu tượng có thể hẹn mưa dầm trong tháng hạn

Chẳng cần phải mang cái thân gầy còm ra làm lễ

Xưa nay chỉ có lòng chí thành là cảm đến đất trời)

Có lẽ trong văn học thời kỳ Trần - Hồ, không có bài thơ nào bộc lộ một cách trực tiếp thái độ thương cảm sâu sắc, xót xa đến gan ruột đối với nỗi khổ của dân đen con đỏ trước cảnh hạn hán, mất mùa, đói khổ của người dân, cũng như một tinh thần phê phán gay gắt, quyết liệt đối với những kẻ thống trị tàn bạo bóc lột người dân như trong bài thơ Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng công

(Ở quê cảm xúc trước sự việc gửi trình tướng công Băng Hồ) của Nguyễn Phi Khanh:

Đạo huề thiên lý xích như thiêu

 

Điền dã hưu ta ý bất liêu

 

Hậu thổ sơn hà phương địch địch

 

Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều

 

Lại tư võng cổ hồn đa kiệt

 

Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu

 

(Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy

 

Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu

 

Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ

 

Mưa móc của Hoàng thiên hãy còn xa

 

Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt

 

Mỡ màng của dân đã cạn mất nửa…)

Cũng khó có bài thơ nào trong thời kỳ này bày tỏ lòng thương xót đối với nỗi thống khổ của “đồng bào” như trong bài Thù Đạo Khê thái học xuân hàn vận (Đáp lại bài thơ “Cái rét mùa xuân” của thái học Đạo Khê) của ông:

Liên cừ vạn tính giai ngô dữ

Tỵ ốc thuỳ gia diện diện hàn

(Xót thương trăm họ là đồng bào của ta

Dưới những mái nhà chen chúc mặt ai cũng rét buốt)

Nỗi đau đó ông không biết trông ai, nên đành phải kêu trời. Và khao khát được ghé vai để “phò nghiêng đỡ lệch” càng cháy bỏng trong lòng ông. Trong bài Trung thu cảm sự (Nhân tiết trung thu, cảm xúc trước sự việc), ông viết:

Nguyện bằng thiên thượng thanh quang dạ

Biến chiếu nhân gian tật khổ sầu

Trường sử quốc gia đa hạ nhật

Ngũ hồ quy mộng đáo biên chu

(Xin nhờ cái đêm trong sáng ở trên trời kia

Soi thấu nỗi khổ của thế gian này

Mãi mãi làm cho nước có những ngày thanh bình

Thì giấc mộng về Năm Hồ mới đến được chiếc thuyền con)

Nỗi đau buồn biễn thành uất ức, thành thái độ phê phán quyết liệt đối với triều đình, với chế độ thối nát đương thời. Điều này thể hiện rõ trong bài Thu nhật hiểu khởi hữu cảm (Ngày thu sáng dậy cảm xúc):

Ô hô thế đạo như hà ngã

Tam phủ di biên phú Đại đông

(Than ôi thế sự nên sao đặng

Thơ cũ ba lần đọc Đại đông)

Nhắc tới bài thơ Đại đông trong phần Tiểu nhã của Kinh thi, thơ ông “có ý nghĩa chỉ trích thời loạn, để phê phán những cảnh lục đục trong triều khiến cho đất nước không ổn định, mọi người đau khổ nhưng khổ nhất vẫn là dân đen, con đỏ”[14]. Đó là những bài thơ được viết dưới thời Mạt Trần, viết về tình cảnh của con người dưới triều đại đang suy thoái trầm trọng.

*

Nguyễn Phi Khanh là một nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ Mạt Trần. Những bài thơ của ông không phải chỉ là sự diễn tả tâm trạng kẻ sĩ trong buổi loạn ly một cách chung chung, mờ nhạt. Thơ ông có thần tứ riêng, có giá trị riêng, và từ cái riêng ấy ông cất lên tiếng nói, tâm trạng tiêu biểu của người trí thức phong kiến đương thời trước thực tế xã hội, như một giai điệu riêng trong dàn âm nhạc đày ai oán, não nề, căm phẫn, bi thương của lòng người để tiễn đưa một triều đại thối nát đi vào vương quốc của bóng tối./.

 

Nguyễn Phạm Hùng

(Đại học Quốc gia Hà Nội)

______________

Chú thích:

[1] Theo Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần, T. III, NXB Khoa học xã hội, H. 1978, tr. 380.

[2] Theo Bùi Văn Nguyên: Lời giới thiệu. Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, NXB Văn học, H. 1981, tr. 5.

[3] Quốc sử quán triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, T. II, NXB Khoa học xã hội, H. 1971, tr. 212.

[4] Bùi Văn Nguyên: Lời giới thiệu. Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, NXB Văn học, H. 1981, tr. 23.

[5] Nguyễn Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, H. 2004, tr. 1176.

[6] Đinh Gia Khánh: Văn học Việt Nam, thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, T. I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1978, tr. 175.

[7] Nguyễn Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), Sđ d, tr. 1176.

[8] Theo Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần, T. III, Sđd, tr. 490.

[9] Hữu Bật, tên một bài thơ ở phần Lỗ tụng trong Kinh thi, nội dung khen vua Hy Công nước Lỗ biết dùng lễ nghĩa hậu đãi bề tôi nên bề tôi hết lòng trung với vua.

[10] Đức ký, thiên Hiến vấn, phần Lỗ luận trong sách Luận ngữ , ý nói: không khen cái sức của con ngựa ký mà khen cái đức của nó.

[11] Vực phốc, tên một bài thơ phần Đại nhã trong Kinh thi, nội dung nói việc Chu Văn Vương biết sử dụng người hiền tài, cho họ địa vị xứng với tài năng của họ, thì quốc gia phồn thịnh.

[12] Thanh nga, tên bài thơ ở phần Tiểu nhã trong Kinh thi, nội dung ca ngợi người làm vua biết tổ chức nền học vấn để đào tạo nhân tài cho đất nước.

[13] Nguyễn Huệ Chi: Từ điển văn học (Bộ mới), Sđ d, tr. 1176.

[14] Bùi Văn Nguyên: Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Sđd, tr, 17.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 182459)
LTS . ...Dù lịch sử đã sang trang từ lâu, bài ký ức về Tướng Lê Nguyên Vỹ, cố Tư lệnh SĐ 5 BB–người đã chọn chết theo thành, và không nỡ bắt "con em người ta gửi gấm cho mình" chết oan uổng ở những giờ phút tàn cuộc của chiến tranh Việt Nam–là một trong những tài liệu hiếm hoi, có giá trị sử liệu. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu tác giả Triệu Vũ với quí độc giả. Tạp Chí Hợp Lưu
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 116315)
Đầu Xuân Kỷ Sửu (25/1/2009) tôi khởi đầu việc hiệu đính phần tư liệu lịch sử Việt từ đời Ngô (938-965) tới đời Nguyễn (1802-1945). Đây có lẽ là lần hiệu đính cuối cùng, và khá tốn thì giờ vì việc chuyển đổi từ lịch Ta qua lịch Tây.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 115363)
Phần III. G. TÀI LIỆU VIỆT: Ngoài tài liệu Trung Quốc, sử quan Việt cũng sử dụng một số tư liệu trong nước.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 117410)
Phần II. Cần nhấn mạnh, mang quân xâm chiếm, chia ra quận huyện để đặt dân Việt vào “vòng lễ giáo” Hán tộc [ kiểu cho đào mộ tổ tiên Lê Lợi năm 1418 (Thông sử, 208 [truyện Trịnh Khả]), hay thiến hoạn thiếu niên Việt] , chỉ là hai trong những biện pháp lấn đất giành dân.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 123830)
Phần IV II. VIỆC NGHIÊN CỨU THỜI CẬN ĐẠI (1800-1975): Giai đoạn trước 1975, việc nghiên cứu sử học đã có nhiều nguồn tư liệu hơn để làm việc. Tài liệu đáng tin cậy nhất, dĩ nhiên, là tài liệu văn khố. Nhiều nhà nghiên cứu sử học chuyên nghiệp đã sử dụng tài liệu văn khố Pháp, Mỹ và Liên Sô. Mới đây, văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại cũng đã mở rộng, sau nhiều thập niên “cho người chết ngủ yên.”
23 Tháng Hai 200912:00 SA(Xem: 113651)
Tập tài liệu được nói tới ở đây là một tập hợp những bài viết của “một số lão đồng chí đã từng công tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập sách viết trong Lời Cuối Sách vào tháng 12 năm 2001.
29 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 101978)
Căn phòng của Jacob ấn tượng tôi đến nỗi, tôi sợ phải đọc lại. Vì tác phẩm vượt mọi khuôn khổ, như có điện, từ trường, đến mức không còn liên quan đến sáng tạo tiểu thuyết. Trên những trang đầu tiên, bằng tất cả ngây thơ, người đọc bước vào tác phẩm không chút ngờ vực.
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 139143)
- Gửi Thức Tối hôm qua từ nơi cửa sổ phòng tôi tuyết xuống tuyết rơi trên những cành tùng có tiếng đập cánh rất khẽ của con chim trốn tuyết
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 132056)
Sao anh lặng im nhìn lên bầu trời Em thành dải mây bối rối Vì tinh tú tròn đêm trẩy hội Vắt xiêm y ngang cành táo trong vườn.
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 104702)
Lời người dịch:... Có lẽ không gì chính xác bằng nghe chính tác giả "In Cold Blood" trình bầy câu chuyện đằng sau việc thực hiện cuốn tiểu thuyết đã thay đổi bộ mặt văn chương và cả báo chí Mỹ vào giữa thế kỷ trước, đem văn chương (vốn trí thức, "tháp ngà") lại gần với báo chí (vốn bình dân, "trần tục") hơn, và ngược lại. Trùng Dương (12/2008)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3801)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13227)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19618)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18601)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1548)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1719)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2235)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2357)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1413)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2178)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1304)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2345)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2544)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 215)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 970)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1038)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15854)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32115)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1410)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10628)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9829)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9950)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10755)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10323)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi