- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Giấc mơ

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 86739)

mo_3_tranhdh

 (Mơ_ Tranh Đặng Hiền )

 

Tôi chìm vào một giấc mơ, giấc mơ có những sợi dây bé xíu đan vào nhau thành những mắt lưới. Tôi đi tìm một thế giới, nỗi đau oán thù bị xóa bỏ, chỉ còn tôi với thế giới ấy.


 Giấc mơ 1.

 Chúng ta có thể ngồi dựa vai nhau như thế này. Những lùm tối trùm lên con đường. Hai chiếc bóng cô quạnh bên nhau. Khúc sông quanh co phía dưới lùm tối, chốc chốc lại vang lên tiếng quẫy đạp trong sóng nước. Vì tinh tú lạc trong vũng đen nhạt nhòa chảy về một miền xa lắc và trở lại bằng một vì tinh tú khác.

 Để hai chiếc bóng ngồi bên nhau trong vũ trụ bao la, một vì tinh tú đã hi sinh cả thời tuổi trẻ. Nó thang thang, phiêu dạt hàng trục triệu ki-lô-mét về hướng mặt trời. Sự di cư tuyệt vời ấy tạo nên một khối cầu chứa đựng những gương mặt hỉ - nộ - ái - ố. Khối cầu chứa đựng hai chiếc bóng lầm lũi đi về hướng cô đơn. Tôi tìm thấy tên vì sao trong một cuốn bách khoa toàn thư, bộ sách dày nhất mà tôi từng thấy. Người ta gọi nó là vua của các hành tinh trong thái dương hệ. Khối cầu của tôi là vua của những khối cầu tròn méo còn lại.

 Tôi nhìn về phía đêm xa xả tiếng mèo gào. Những móng vuốt sắc lẹm cứa xèn xẹt vào lòng tôi. Máu rỏ xuống, bàn tay vụng dại gạt đi. Bên những bóng cây là là nửa mặt nước nửa bờ cỏ và trên hơn là mặt đường, tôi thấy lờ mờ một gương mặt xanh xám. Tiếng mỗi vo ve phá tan bầu không khí giữa hai tâm hồn đang bay lạc giữa không gian tĩnh tại. Người đó là thầy tu. Không có áo cà sa. Không kiêng sắc giới. Ánh sáng lọt qua lớp tế bào rần rật chảy vào máu. Ánh sáng của sao mộc, người đó không biết, chỉ mình tôi biết, con đường đang đi là một mê cung.

 Khi tôi quay lưng về phía những ngôi nhà lụp sụp thắp nến suốt đêm thì người đàn ông biến mất, như ảo ảnh, người đàn ông giống hệt ánh sáng mộc tinh băng qua đời tôi.


 Giấc mơ 2.

 “Lạy chúa! Thứ lỗi cho con”

Nàng dờ tay lên bụng, một mầm sống đang lớn dần lên. Cái đầu rất nhỏ xinh, nơi những mớ tóc sẽ mọc lên, những lọn tóc dài có thể tết mớ ba mớ bảy.

“Lạy chúa chúng con ở trên trời.

Danh cha được tôn thánh. Nước chúa cha mau đến. Ý muốn cha được nên, trên đất như trên trời. Xin cha nuôi dưỡng chúng con, ban thức ăn mỗi ngày. Cho đời luôn thắm tươi. Xin cha tha lỗi cho chúng con cũng như chúng con tha người nghịch thù cùng chúng con. Xin chớ để chúng con bị cám dỗ. Nhưng cứu cho chúng con khỏi gian ác. Vì ngôi nước. Vinh hiển đều thuộc nơi đời đời vô cùng. Amen”.

Chúa của nàng gầy gò thở dài trên thánh giá. Ngài đóng đinh mình vào cuộc sống của những con chiên ngoan đạo. Lạc trong những lời cầu nguyện, những khuôn miệng tròn méo cùng đọc một bài thánh kinh. Tốt có. Xấu có. Nàng không biết những cái bụng chứa kinh thánh đọc kinh thanh thoát có sống tốt đẹp và phúc hậu.

Nàng không theo đạo. Nàng vẫn đặt chân đến nhà thờ, như một thói quen. Nàng nhìn thấy chúa như pho tượng đá rạn nứt hướng về phía thành phố tràn ngập ánh đèn. Chúa cũng hướng về phía ngôi làng lụp sụp trong ánh nến lay lắt. Ngài giang tay ôm trọn rạch sáng nhoi nhói phía bầu trời. Ai sinh ra cũng là con của chúa. Bóng tối rần rật vút lên đốm lửa rồi tắt lịm, nơi sang sảng cất lên tiếng khóc thê lương của một sinh linh bé nhỏ bị người đàn bà nọ bỏ rơi. Những lùm cây lành lạnh hơi nước phía bờ sông.

 “Lạy chúa! Xin người thứ lỗi cho con”

 Người đàn bà bỏ đi, đứa trẻ vẫn khóc. Vầng sáng soi tỏa vào gương mặt non nớt bị ném vào vũng bùn nhầy nhụa của số phận. Đứa bé lớn lên bên con sông với những nếp nhà lụp sụp ánh nến.

 Chúa lắc đầu, chúa bất lực trước những đứa con ngoại đạo, hừng sáng le lói là nơi chúa đến và đi. Chúa tồn tại bằng linh hồn, biến mất như linh hồn. Trong nàng cồn cào chộn rộn. Có một tia mộc tinh băng qua rồi vụt mất, nơi ngôi sao tan biến có một mầm sống đâm chồi. Nó đang hứng lấy linh khí của khối cầu và cơ thể sống của một người đàn bà để lớn. Chồi non ấy ám trong những lọn tóc dài mớ ba mớ bảy của nàng ngày còn bé.


  Giấc mơ 3.

 Tôi chắc một điều là con bé sẽ bất ngờ về câu chuyện của những con sên ma. Trong căn nhà khói vón cồn cộn bức vách, nó ôm tôi vồn vã. Một chân kẹp qua đùi tôi, một chân gác cao.

 Loài sên ấy không có mắt, toàn thân là một màu trắng nhờn nhợt, chết chóc. Con bé nhắm mắt bay vào một vùng không gian trong khu vườn ở xứ Weles. Những chiếc răng nhọn hoắt làm nó sợ. Chẳng ai nhìn thấy. Con bé cũng không thấy. Nó vẫn sợ. Ai cũng sợ. Nó có thể ăn thịt loài động vật tiến hóa nhất trong khối cầu này. Con bé dừng chân tìm kiếm, tim nó đập thình thình…

 Nó sợ ánh sáng. Nó nhờn nhẫy và bệch bã như một loài ma trốn trong góc tối. Nó ám vào tuổi thơ của con bé. Tuổi thơ có những con ốc sên hình người nhiếc móc bầm dập lòng tự ái. Gương mặt lồ lộ hàm răng nhọn. Con ốc sên được gắn mác người cha lẩn khuất trong bóng tối, nơi bàn tay đã bị đêm vô hiệu hóa.

 Đoạn sông bị lấp đi, dòng chảy vô tình ngoặt theo hướng khác. Ngôi nhà lá lụp sụp tan vào cơn bão cuối cùng. Ở đó mọc lên một căn nhà xây nho nhỏ le lói ánh điện thắp suốt đêm.

 Tiếng nói xì xèo loãng vào đất. Một người đàn bà và một đứa con gái biến ngôi nhà trở nên hoang lạnh hơn vốn có. Những câu chuyện về con sên ma luôn là chủ đề đầu tiên. Kết thúc là sự ra đi của của cơn bão mộc tinh cách đây hàng triệu triệu năm đùn vun lên khối cầu mang tên quả đất. Nó chưa bao giờ nhìn thấy quả đất, ngay cả hình dung cũng không.

 Đừng kể về những con sên ma nữa, cuộc đời sẽ bị thui chột trong những vũng máu không màu, không mùi, không cảm giác. Bàn tay mẹ nó lạnh. Con sên ma không còn đến làm thịt mẹ nó như ngày bà trốn gia đình đi dọc bờ sông. Từ lòng sông hắt lên một tiếng húng hắng nho nhỏ, như tiếng ma trơi giữa những tán cây. Râm ran những âm thanh vĩ cầm vang lên từ đất. Không còn kẻ mơn trớn trên da thịt. Rền rĩ, tưỡn mình trào dâng thác lũ.

 Nhiều đêm người đàn bà tỉnh giấc, hai từ “Sên Ma” cứ lẳng lặng ném vào đêm buốt nhức. Trong căn phòng nhỏ, con bé giật mình ú ớ gọi cha.


  Giấc mơ 4.

 Cơn bão đổ xuống, những cánh liếp tung tóe vung vãi trên mặt sông.

 Trong một giấc mơ chắp vá, người đàn bà mơ thấy cơn bão ghé thăm ngôi làng nghèo xác xơ bên dòng sông quanh năm không chảy. Nó không phải là dòng sông duy nhất trong khối cầu không biết chảy. Mà chảy để làm gì? Với nó không cần thiết. Khi con người thấy nó cần thiết thì họ đã rẽ nó sang hướng khác.

 Thay vì một dòng sông, người đàn bà trở nên khát biển. Hành trình tìm kiếm biển là những giấc mơ. Bà ta thấy những con mực khổng lồ hay loài lươn quái vật. Tất cả có thể nuốt chửng bà ta trong thoáng chốc. Chẳng ai có thể khám phá hết cuộc sống đầy bí ẩn dưới đôi mắt của đại dương, của người đàn bà.

 Tiếng cửa mở rất khẽ, tiếng chốt cửa càng khẽ khàng hơn. Người đàn bà trở mình. Qua một bức rèm mỏng manh, đứa con khẽ thở dài trong giấc mơ không trọn vẹn. Có quá nhiều kẻ săn mồi, như loài khủng long hay sói dữ. Con mồi già nua ngoan ngoãn, nó không chống cự, chống cự chỉ càng làm cho vết thương chưa lành thêm lở loét. Đừng rên rĩ nữa. Mở cửa băng qua đêm mà không cần chốt lại. Không còn ai mơ về những giấc mơ ngày cũ. Mộc tinh cũng chỉ là một câu truyện cổ xưa không ai còn nhắc đến. Mầm sống đã mọc thành cây xanh, cũng mướt mát, non tươi như thứ mồi nhử những loài động vật ăn lá. Cố ngụy trang, sẽ chẳng ai thấy cả. Tưởng cứ sần sùi, sẽ được sần sùi, nhưng trong thế giới tạp nham, có những kẻ lại chỉ thích những thân cây nhiều gai và lá đầy mụn mủ. Nó vẫn thở đều đều. Bước chân len qua khe cửa trở về từ phía đêm đánh vào nơi cảm giác nhoi nhói.

 Nó muốn nói về một giấc mơ, nhưng chợt thấy giấc mơ chỉ còn lại những loài thú ăn thịt. Tiếng thở dài ngao ngán chan ướt một nửa gương mặt đã trở nên hanh hao.



 Giấc mơ 5.

 Kết thúc thôi! Chạy trốn khỏi những giấc mơ lập dị và đau khổ hơn cả cuộc sống đời thường kia. Khi mở cánh cửa của địa ngục và thiên đường, tôi thấy chúa. Chúa đứng giữa ranh giới mong manh của thiện – ác, tối – sáng. Bàn chân tôi bị đẩy vào khoảng không lơ lửng.

 Gió reo lên khi bắt gặp kẻ cản đường ngang bướng. Đêm sình sịch đổ xuống những cơn mưa cuối mùa, tôi trở về với tà áo tả tơi bết dính thứ nước trong veo không mùi vị. Biểu tượng của cây thánh giá tôn kính lung lay rớt khỏi ban thờ. Tượng chúa vỡ tan.

 “Lạy chúa! Người tha lỗi cho con”.

 Tôi sùng tín chúa, mặc dù tôi không phải là con chiên của chúa. Tôi chạy quanh ngôi nhà ba gian xinh xắn. Chỉ có mình tôi. Cơn giông ập đến, rạch sáng xiên ngang trời chơi trò ú tim với khối cầu đất. Con bé trốn nhà đi chơi, không ai biết nó đang ở đâu dưới cơn mưa tầm tã ban khuya.

 Khúc sông đã lấp rồi, nhưng con đường vẫn còn đó. Những lùm cây vẫn sững sờ qua bao mùa trút nước. Hai chiếc bóng đi về phía cô đơn. Ở đó, những câu chuyện huyền hoặc về sao mộc tinh vẫn được đêm ghi nhớ. Đêm lại trả cho người, người tan vào cơn mưa không oán thán.

 Khi cơn mưa tan…

 Con đường im lìm dưới những hàng cây đổ bóng…

 Cơn mưa qua là qua mãi, chỉ còn lại bên kia cái làng nghèo là tiếng trẻ con quấy khóc. Tiếng khóc ấy cất lên từ dãy nhà của những người người đàn bà. Cũng não lòng thê lương như tiếng khóc của đứa trẻ năm xưa, khi sao mộc tan biến. Đàn bà và những đứa trẻ cứ tiếp nối từ đời này qua đời khác. Trẻ trai, có người đem xe đến tận nơi đón rước. Trẻ gái, ở lại góp tiếng khóc rền rĩ với tiếng đàn bà ru ầu ơ. Mảnh đất ấy hàng ngàn đời vẫn vậy. Mảnh thiên thạch cuối cùng của sao mộc tinh đã lấy đi dương khí trong lòng đất lạnh, ở đây hội tụ và phát âm. Những người đàn bà còn rùng mình sợ.


 Kết.

 Tôi muốn đào mảnh thiên thạch ấy lên. Đàn ông cứ lần lượt rời bỏ phụ nữ mà đi, chẳng biết vì lí do gì cả. Chỉ còn đàn bà và trẻ con. Nhiều đàn bà và trẻ con. Những con sên ma cũng tìm đến hù dọa, nhưng không ai sợ nó, nhiều khi chúa cũng đến, đức mẹ đồng trinh cũng đến mỉm cười với lũ trẻ. Vì sao chỉ còn lại đàn bà? Đơn giản, vì nó là giấc mơ của tôi. Chỉ còn lại đàn bà, đàn bà sẽ không còn phải khóc. Con Sên ma đội lốt đàn ông đến nhen lên những mầm sống bất tận. Phải chăng như thế là quá đủ? Như đức mẹ đồng trinh sinh ra chúa bởi sự thụ thai của trời đất. Mẹ không cần đàn ông, chúa vẫn ra đời, chúa cứu nhân độ thế.

 Đừng ai tin…

 Giấc mơ chỉ là một sự điên rồ thoát thai, nhiều khi giấc mơ đến từ một người khác. Như con Sên ma đến từ khu vườn Weles, con bạch tuộc đến từ biển, chúa đến từ trời đất. Hay giấc mơ của tôi đến từ cõi vô cùng.

HOÀI BĂNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 5767)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 6250)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 10286)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 7860)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 9062)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 11277)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 9519)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 6909)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 9457)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 10879)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10368)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17201)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16235)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16710)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 302)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1360)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1354)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2067)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 307)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1318)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1172)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
(Xem: 2620)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 416)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1307)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1201)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1237)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3001)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2822)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3264)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 3278)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2062)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13892)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30015)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36062)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11515)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13011)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2766)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3924)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3916)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4446)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4944)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8248)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7625)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10578)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.