- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,618

Giấc mơ

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 52518)

mo_3_tranhdh

 (Mơ_ Tranh Đặng Hiền )

 

Tôi chìm vào một giấc mơ, giấc mơ có những sợi dây bé xíu đan vào nhau thành những mắt lưới. Tôi đi tìm một thế giới, nỗi đau oán thù bị xóa bỏ, chỉ còn tôi với thế giới ấy.


 Giấc mơ 1.

 Chúng ta có thể ngồi dựa vai nhau như thế này. Những lùm tối trùm lên con đường. Hai chiếc bóng cô quạnh bên nhau. Khúc sông quanh co phía dưới lùm tối, chốc chốc lại vang lên tiếng quẫy đạp trong sóng nước. Vì tinh tú lạc trong vũng đen nhạt nhòa chảy về một miền xa lắc và trở lại bằng một vì tinh tú khác.

 Để hai chiếc bóng ngồi bên nhau trong vũ trụ bao la, một vì tinh tú đã hi sinh cả thời tuổi trẻ. Nó thang thang, phiêu dạt hàng trục triệu ki-lô-mét về hướng mặt trời. Sự di cư tuyệt vời ấy tạo nên một khối cầu chứa đựng những gương mặt hỉ - nộ - ái - ố. Khối cầu chứa đựng hai chiếc bóng lầm lũi đi về hướng cô đơn. Tôi tìm thấy tên vì sao trong một cuốn bách khoa toàn thư, bộ sách dày nhất mà tôi từng thấy. Người ta gọi nó là vua của các hành tinh trong thái dương hệ. Khối cầu của tôi là vua của những khối cầu tròn méo còn lại.

 Tôi nhìn về phía đêm xa xả tiếng mèo gào. Những móng vuốt sắc lẹm cứa xèn xẹt vào lòng tôi. Máu rỏ xuống, bàn tay vụng dại gạt đi. Bên những bóng cây là là nửa mặt nước nửa bờ cỏ và trên hơn là mặt đường, tôi thấy lờ mờ một gương mặt xanh xám. Tiếng mỗi vo ve phá tan bầu không khí giữa hai tâm hồn đang bay lạc giữa không gian tĩnh tại. Người đó là thầy tu. Không có áo cà sa. Không kiêng sắc giới. Ánh sáng lọt qua lớp tế bào rần rật chảy vào máu. Ánh sáng của sao mộc, người đó không biết, chỉ mình tôi biết, con đường đang đi là một mê cung.

 Khi tôi quay lưng về phía những ngôi nhà lụp sụp thắp nến suốt đêm thì người đàn ông biến mất, như ảo ảnh, người đàn ông giống hệt ánh sáng mộc tinh băng qua đời tôi.


 Giấc mơ 2.

 “Lạy chúa! Thứ lỗi cho con”

Nàng dờ tay lên bụng, một mầm sống đang lớn dần lên. Cái đầu rất nhỏ xinh, nơi những mớ tóc sẽ mọc lên, những lọn tóc dài có thể tết mớ ba mớ bảy.

“Lạy chúa chúng con ở trên trời.

Danh cha được tôn thánh. Nước chúa cha mau đến. Ý muốn cha được nên, trên đất như trên trời. Xin cha nuôi dưỡng chúng con, ban thức ăn mỗi ngày. Cho đời luôn thắm tươi. Xin cha tha lỗi cho chúng con cũng như chúng con tha người nghịch thù cùng chúng con. Xin chớ để chúng con bị cám dỗ. Nhưng cứu cho chúng con khỏi gian ác. Vì ngôi nước. Vinh hiển đều thuộc nơi đời đời vô cùng. Amen”.

Chúa của nàng gầy gò thở dài trên thánh giá. Ngài đóng đinh mình vào cuộc sống của những con chiên ngoan đạo. Lạc trong những lời cầu nguyện, những khuôn miệng tròn méo cùng đọc một bài thánh kinh. Tốt có. Xấu có. Nàng không biết những cái bụng chứa kinh thánh đọc kinh thanh thoát có sống tốt đẹp và phúc hậu.

Nàng không theo đạo. Nàng vẫn đặt chân đến nhà thờ, như một thói quen. Nàng nhìn thấy chúa như pho tượng đá rạn nứt hướng về phía thành phố tràn ngập ánh đèn. Chúa cũng hướng về phía ngôi làng lụp sụp trong ánh nến lay lắt. Ngài giang tay ôm trọn rạch sáng nhoi nhói phía bầu trời. Ai sinh ra cũng là con của chúa. Bóng tối rần rật vút lên đốm lửa rồi tắt lịm, nơi sang sảng cất lên tiếng khóc thê lương của một sinh linh bé nhỏ bị người đàn bà nọ bỏ rơi. Những lùm cây lành lạnh hơi nước phía bờ sông.

 “Lạy chúa! Xin người thứ lỗi cho con”

 Người đàn bà bỏ đi, đứa trẻ vẫn khóc. Vầng sáng soi tỏa vào gương mặt non nớt bị ném vào vũng bùn nhầy nhụa của số phận. Đứa bé lớn lên bên con sông với những nếp nhà lụp sụp ánh nến.

 Chúa lắc đầu, chúa bất lực trước những đứa con ngoại đạo, hừng sáng le lói là nơi chúa đến và đi. Chúa tồn tại bằng linh hồn, biến mất như linh hồn. Trong nàng cồn cào chộn rộn. Có một tia mộc tinh băng qua rồi vụt mất, nơi ngôi sao tan biến có một mầm sống đâm chồi. Nó đang hứng lấy linh khí của khối cầu và cơ thể sống của một người đàn bà để lớn. Chồi non ấy ám trong những lọn tóc dài mớ ba mớ bảy của nàng ngày còn bé.


  Giấc mơ 3.

 Tôi chắc một điều là con bé sẽ bất ngờ về câu chuyện của những con sên ma. Trong căn nhà khói vón cồn cộn bức vách, nó ôm tôi vồn vã. Một chân kẹp qua đùi tôi, một chân gác cao.

 Loài sên ấy không có mắt, toàn thân là một màu trắng nhờn nhợt, chết chóc. Con bé nhắm mắt bay vào một vùng không gian trong khu vườn ở xứ Weles. Những chiếc răng nhọn hoắt làm nó sợ. Chẳng ai nhìn thấy. Con bé cũng không thấy. Nó vẫn sợ. Ai cũng sợ. Nó có thể ăn thịt loài động vật tiến hóa nhất trong khối cầu này. Con bé dừng chân tìm kiếm, tim nó đập thình thình…

 Nó sợ ánh sáng. Nó nhờn nhẫy và bệch bã như một loài ma trốn trong góc tối. Nó ám vào tuổi thơ của con bé. Tuổi thơ có những con ốc sên hình người nhiếc móc bầm dập lòng tự ái. Gương mặt lồ lộ hàm răng nhọn. Con ốc sên được gắn mác người cha lẩn khuất trong bóng tối, nơi bàn tay đã bị đêm vô hiệu hóa.

 Đoạn sông bị lấp đi, dòng chảy vô tình ngoặt theo hướng khác. Ngôi nhà lá lụp sụp tan vào cơn bão cuối cùng. Ở đó mọc lên một căn nhà xây nho nhỏ le lói ánh điện thắp suốt đêm.

 Tiếng nói xì xèo loãng vào đất. Một người đàn bà và một đứa con gái biến ngôi nhà trở nên hoang lạnh hơn vốn có. Những câu chuyện về con sên ma luôn là chủ đề đầu tiên. Kết thúc là sự ra đi của của cơn bão mộc tinh cách đây hàng triệu triệu năm đùn vun lên khối cầu mang tên quả đất. Nó chưa bao giờ nhìn thấy quả đất, ngay cả hình dung cũng không.

 Đừng kể về những con sên ma nữa, cuộc đời sẽ bị thui chột trong những vũng máu không màu, không mùi, không cảm giác. Bàn tay mẹ nó lạnh. Con sên ma không còn đến làm thịt mẹ nó như ngày bà trốn gia đình đi dọc bờ sông. Từ lòng sông hắt lên một tiếng húng hắng nho nhỏ, như tiếng ma trơi giữa những tán cây. Râm ran những âm thanh vĩ cầm vang lên từ đất. Không còn kẻ mơn trớn trên da thịt. Rền rĩ, tưỡn mình trào dâng thác lũ.

 Nhiều đêm người đàn bà tỉnh giấc, hai từ “Sên Ma” cứ lẳng lặng ném vào đêm buốt nhức. Trong căn phòng nhỏ, con bé giật mình ú ớ gọi cha.


  Giấc mơ 4.

 Cơn bão đổ xuống, những cánh liếp tung tóe vung vãi trên mặt sông.

 Trong một giấc mơ chắp vá, người đàn bà mơ thấy cơn bão ghé thăm ngôi làng nghèo xác xơ bên dòng sông quanh năm không chảy. Nó không phải là dòng sông duy nhất trong khối cầu không biết chảy. Mà chảy để làm gì? Với nó không cần thiết. Khi con người thấy nó cần thiết thì họ đã rẽ nó sang hướng khác.

 Thay vì một dòng sông, người đàn bà trở nên khát biển. Hành trình tìm kiếm biển là những giấc mơ. Bà ta thấy những con mực khổng lồ hay loài lươn quái vật. Tất cả có thể nuốt chửng bà ta trong thoáng chốc. Chẳng ai có thể khám phá hết cuộc sống đầy bí ẩn dưới đôi mắt của đại dương, của người đàn bà.

 Tiếng cửa mở rất khẽ, tiếng chốt cửa càng khẽ khàng hơn. Người đàn bà trở mình. Qua một bức rèm mỏng manh, đứa con khẽ thở dài trong giấc mơ không trọn vẹn. Có quá nhiều kẻ săn mồi, như loài khủng long hay sói dữ. Con mồi già nua ngoan ngoãn, nó không chống cự, chống cự chỉ càng làm cho vết thương chưa lành thêm lở loét. Đừng rên rĩ nữa. Mở cửa băng qua đêm mà không cần chốt lại. Không còn ai mơ về những giấc mơ ngày cũ. Mộc tinh cũng chỉ là một câu truyện cổ xưa không ai còn nhắc đến. Mầm sống đã mọc thành cây xanh, cũng mướt mát, non tươi như thứ mồi nhử những loài động vật ăn lá. Cố ngụy trang, sẽ chẳng ai thấy cả. Tưởng cứ sần sùi, sẽ được sần sùi, nhưng trong thế giới tạp nham, có những kẻ lại chỉ thích những thân cây nhiều gai và lá đầy mụn mủ. Nó vẫn thở đều đều. Bước chân len qua khe cửa trở về từ phía đêm đánh vào nơi cảm giác nhoi nhói.

 Nó muốn nói về một giấc mơ, nhưng chợt thấy giấc mơ chỉ còn lại những loài thú ăn thịt. Tiếng thở dài ngao ngán chan ướt một nửa gương mặt đã trở nên hanh hao.



 Giấc mơ 5.

 Kết thúc thôi! Chạy trốn khỏi những giấc mơ lập dị và đau khổ hơn cả cuộc sống đời thường kia. Khi mở cánh cửa của địa ngục và thiên đường, tôi thấy chúa. Chúa đứng giữa ranh giới mong manh của thiện – ác, tối – sáng. Bàn chân tôi bị đẩy vào khoảng không lơ lửng.

 Gió reo lên khi bắt gặp kẻ cản đường ngang bướng. Đêm sình sịch đổ xuống những cơn mưa cuối mùa, tôi trở về với tà áo tả tơi bết dính thứ nước trong veo không mùi vị. Biểu tượng của cây thánh giá tôn kính lung lay rớt khỏi ban thờ. Tượng chúa vỡ tan.

 “Lạy chúa! Người tha lỗi cho con”.

 Tôi sùng tín chúa, mặc dù tôi không phải là con chiên của chúa. Tôi chạy quanh ngôi nhà ba gian xinh xắn. Chỉ có mình tôi. Cơn giông ập đến, rạch sáng xiên ngang trời chơi trò ú tim với khối cầu đất. Con bé trốn nhà đi chơi, không ai biết nó đang ở đâu dưới cơn mưa tầm tã ban khuya.

 Khúc sông đã lấp rồi, nhưng con đường vẫn còn đó. Những lùm cây vẫn sững sờ qua bao mùa trút nước. Hai chiếc bóng đi về phía cô đơn. Ở đó, những câu chuyện huyền hoặc về sao mộc tinh vẫn được đêm ghi nhớ. Đêm lại trả cho người, người tan vào cơn mưa không oán thán.

 Khi cơn mưa tan…

 Con đường im lìm dưới những hàng cây đổ bóng…

 Cơn mưa qua là qua mãi, chỉ còn lại bên kia cái làng nghèo là tiếng trẻ con quấy khóc. Tiếng khóc ấy cất lên từ dãy nhà của những người người đàn bà. Cũng não lòng thê lương như tiếng khóc của đứa trẻ năm xưa, khi sao mộc tan biến. Đàn bà và những đứa trẻ cứ tiếp nối từ đời này qua đời khác. Trẻ trai, có người đem xe đến tận nơi đón rước. Trẻ gái, ở lại góp tiếng khóc rền rĩ với tiếng đàn bà ru ầu ơ. Mảnh đất ấy hàng ngàn đời vẫn vậy. Mảnh thiên thạch cuối cùng của sao mộc tinh đã lấy đi dương khí trong lòng đất lạnh, ở đây hội tụ và phát âm. Những người đàn bà còn rùng mình sợ.


 Kết.

 Tôi muốn đào mảnh thiên thạch ấy lên. Đàn ông cứ lần lượt rời bỏ phụ nữ mà đi, chẳng biết vì lí do gì cả. Chỉ còn đàn bà và trẻ con. Nhiều đàn bà và trẻ con. Những con sên ma cũng tìm đến hù dọa, nhưng không ai sợ nó, nhiều khi chúa cũng đến, đức mẹ đồng trinh cũng đến mỉm cười với lũ trẻ. Vì sao chỉ còn lại đàn bà? Đơn giản, vì nó là giấc mơ của tôi. Chỉ còn lại đàn bà, đàn bà sẽ không còn phải khóc. Con Sên ma đội lốt đàn ông đến nhen lên những mầm sống bất tận. Phải chăng như thế là quá đủ? Như đức mẹ đồng trinh sinh ra chúa bởi sự thụ thai của trời đất. Mẹ không cần đàn ông, chúa vẫn ra đời, chúa cứu nhân độ thế.

 Đừng ai tin…

 Giấc mơ chỉ là một sự điên rồ thoát thai, nhiều khi giấc mơ đến từ một người khác. Như con Sên ma đến từ khu vườn Weles, con bạch tuộc đến từ biển, chúa đến từ trời đất. Hay giấc mơ của tôi đến từ cõi vô cùng.

HOÀI BĂNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6188)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30693)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81715)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.