- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945: Đế Quốc Việt Nam (3-8/1945) [phần 4 Của 4]

04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 107594)

(Phần IV):

 

Phụ Chú:

1. Thuật ngữ Việt Nam hoá [Vietnamization] được dùng để mô tả những diễn biến thu nhập và thực thi những biến đổi xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị do chế độ bảo hộ Pháp cưỡng bách áp đặt từ 1861 tới 1945, sau khi chế độ thực dân Pháp bị soi mòn dần từ năm 1940-1941 rồi cuối cùng bị xóa bỏ từ tháng 3/1945. Dù trong Anh ngữ, từ này còn một hàm ý khác—như chính sách Việt nam hóa cuộc chiến tranh Việt Nam của Liên bang Mỹ (1964-1973)—chúng tôi nghĩ thuật ngữ Việt Nam hoá chính xác hơn Việt hóa [Vietism hay Vietnamism]. Đây là một chu trình liên lũy từ thời hoang sơ của Bách Việt, tới thời Hai Bà Trưng (40-43)-bà Triệu (248), Ngô Quyền (938-944), rồi Đinh Tiên Hoàng (968-979), Lê Hoàn (980-1005), qua nhà Lý (1009-1226), nhà Trần (1226-1400), nhà Hậu Lê (1428-1528, 1593-1789), Tây Sơn (1778-1802), rồi nhà Nguyễn (1802-1945). Nó bao gồm cả những cuộc thay đổi triều đại và ý thức hệ mà nhiều người cho là “cách mạng,” và sự phá hủy, sửa đổi để hình thành những cơ cấu xã hội, kinh tế, văn hóa (phong tục) mới dài theo chu trình toàn cầu hoá của nhân loại.

2. Masaya Shiraishi, “La présence Japonaise en Indochine (1940-1945), in Paul Isoart (Ed), L’Indochine francaise (1940-1945) (Paris: Plon, 1982), pp. 215-41; và Ralph B. Smith, “The Japanese Period in Indochina and the Coup of 9 March 1945;” Journal of Southeast Asian Studies [JSEAS] (Sept 1978), IX, 2: 208-301. Luận án năm 1981 của Murakami Sachiko. “Japan's Thrust into French Indochina, 1940-1945.” Ph.D. Dissertation, tại New York University cũng cung cấp nhiều thông tin bổ ích. [sẽ dẫn Murakami, 1981]. Sau khi bản thảo “The Other Side” được tạp chí JAS nhận in, chúng tôi còn được tham khảo thêm Kiyoko Kurusu Nitz, “Japanese Military Policy Toward French Indochina During the Second World War: The Road to the Meigo Sakusen (9 March 1945). JSEAS (Sept 1983), XIV: 328-53; & Idem, “Independence Without Nationlists? The Japanese and Vietnamese Nationalism during the Japanese Period, 1940-1945.” JSEAS (Mar 1984), XV: 108-33.

3. David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley, CA: Berkeley Univ Press, 1995). Marr là tác giả nhiều nghiên cứu về Việt Nam, từ 1885 tới cận đại. Hai điểm tôi không đồng ý với Marr là trường hợp “Nguyễn Văn Xuân” trong chính phủ lâm thời ngày 28/8/1945 và Chỉ thị nổi dạy chống Pháp của Hội nghị 7 tại Đình Bảng, Bắc Ninh. Vũ Trọng Khánh nhắc đến tên Nguyễn Văn Xuân ở Hải Phòng, trong kế hoạch trục xuất tàu Pháp. Báo Độc lập ngày 4/9/1945 ghi Nguyễn Văn Xuân là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhưng trong danh mục đại biểu Quốc Hội khoá I tại TTLTQG 3 (Hà Nội) chỉ có Nguyễn Ngọc Xuân. Trong tấm hình chụp sau phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời cũng không có Nguyễn Văn Xuân. Nói cách khác, Nguyễn Văn Xuân cũng có thể đầy tưởng tượng như Đảng Quốc Gia của Hồ Chí Minh, Văn Hóa Cứu Quốc của Võ Giáp, v.. .. Về chỉ thị nổi dạy ngày 20/11/1940, báo cáo của quan lại Việt là một chứng cớ. Nên lưu ý đến thói quen sửa lại tài liệu của Đảng CSĐD để biện minh cho các mục tiêu giai đoạn, như trong Brisons nos fer năm 1949, guồng máy tuyên truyền Việt Minh liệt kê Trần Trung Lập như một cán bộ Việt Minh.

4. The Tokyo War Crimes Trial: The Complete Transcripts of the Proceedings of the International Military Tribunal for the Far East; Annotated, compiled and edited by R. John Pritchard and Sonia Magbanua Zaide, 22 vols (New York: Garland, 1981), và Donald S. Detwiler, Charles B. Burdick (Eds), War in Asia and the Pacific, 1937-1949, 15 vols ( New York: Garland, 1980). Sẽ dẫn IMTFE và JM. Tài liệu văn khố chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố trung ương Pháp và Bộ Ngoại Giao tại Paris, Bộ Pháp quốc Hải ngoại tại Aix en-Provence, tư liệu văn khố Bộ binh và Hải quân Pháp tại Vincennes, tư liệu văn khố Mỹ, đặc biệt là Thư viện Lyndon B. Johnson, và Richard M. Nixon, văn khố Việt Nam tại Sài Gòn và Hà Nội, cùng tư liệu QTCS tại Nga do thân hữu gửi tặng. Theo qui luật của Văn khố Bộ binh Pháp, chúng tôi không thể nêu danh số các tư liệu, chỉ ghi 10H xxx.

Hầu hết các tựa báo Pháp và Đông Dương lưu trữ tại Versailles đều đã chụp microfilm, hiện chuyển về Thư viện Quốc Gia, quận XIII (Paris). Những tựa báo chính chúng tôi tham khảo gần 30 năm trước gồm Cờ Giải Phóng, Cứu Quốc, Độc Lập, La République, L’ Entente, Dân Mới, Hải Phòng, Ngày Nay, Thanh Nghị, Bình Minh, Trẻ Em, Tin Mới, Lục Tỉnh Tân Văn, Dân Báo, Sài Gòn, Tin Điễn, Văn Lang, Tiếng Dân, Hưng Việt, Tiếng Súng Kháng Địch, L’Action, L’Opinion Impartial, L’Humanité, L’Indochine, v.. v..

5. Trong số những tư liệu mới có Nguyễn Xuân Chữ, Hồi ký (Houston: Văn Hoá, 1996), Vũ Đình Hoè, Hồi ký Vũ Đình Hoè (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 2004), tr. 176 [Dụ số 1 của Bảo Đại; và phê bình của Luật sư Bùi Tường Chiểu]; Lê Văn Hiến, Nhật Ký một Bộ trưởng, 2 tập (Đà Nẵng: 2004), và Văn Kiện Đảng Toàn Tập, do Bà Trần Thị Nga gửi tặng. Đa tạ Giáo sư Hoè đã dành cho chúng tôi những cuộc phỏng vấn bổ ích trong niên khoá 2004-2005 tại Thủ Đức (Q. 9, TP/HCM). [Xem Thư Mục Chọn Lọc]

6. SHAT [Vincennes], Indohine, 10H xxx; báo cáo của Pereyra trong CAOM (Aix), Indochine Noveaux Fonds [INF], hộp 133, hồ sơ 1107; báo cáo của Sabattier trong Ibid., Papiers d’Agent [PA] 14, hộp 1; IMTFE: Exhibits 661-63; Nghiên cứu Nhật [JM], Tập số 25, Detwiler và Burdick 1980: tập 6, tr. 16; L'Action, 18, 19 & 21/3/1945; Tin Mới, 11-19/3/1945; Jean Decoux, A la barre de l’Indohine (Paris: 1949), pp. 305-6; Nitz 1983. Xem thêm Claude de Boisanger, On pouvait éviter la guerre d'Indochine: Souvenirs 1941-1945 (Paris: Maisonneuve, 1977), và Georges Gautier, 9 mars 1945. Hanoi au soleil de sang. La fin de l'Indochine francaise (Paris: Société de production littéraire, 1978). Nên lưu ý, tôi viết tên các tác nhân Nhật và Việt theo trật tư văn phạm của hai quốc gia này, tức họ trước, tên sau, khác với Tây phương, tên trước, họ sau.

Trước Meigo, vùng biên giới Trung Hoa và Đông Dương chia làm 5 Quân Khu Quản Đạo [1, Móng Cái; 2, Cao Bằng; 3, Hà Giang; 4, Lai Châu; và, 5, Phong Saly (Bắc Lào)].

Theo tài liệu Pháp, có khoảng 90000 binh sĩ Pháp và bản xứ, gồm 40,000 chủ lực Pháp, mà khoảng 35,000 đồn trú tại Bắc Kỳ. “La resistance en Indochine apres le 9 mars 1945;” Ibid., 10 H xxx. Chia làm 3 đại đơn vị. Sư đoàn Bắc Kỳ của Sabattier gồm 3 trung đoàn: Âu châu [trắng], hỗn hợp và Trung đoàn bản xứ với cán bộ Pháp]. Lữ đoàn An Nam của Turquin gồm hai Trung đoàná: 10 RMIC tăng và thiết giáp ở phía bắc, và 16 RIC [bộ binh thuộc địa] ở phía nam (Rhadé, v.. v.. ) Sư đoàn Nam Kỳ-Căm bốt của Delsuc gồm Trung đoàn 11 RIC, trung đoàn khố đỏ [Tirailleurs annamites], 1 Trung đoàn khố đỏ Khmer [RTC] ở Nam Vang, Trung đoàn 5 RAC ở Sài Gòn, cộng 1 tiểu đoàn lính thượng. SHAT (Vincennes), 10H xxx.

7. Bao Dai, Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), tr. 101 [henceforth, Le Dragon]; Kurakami, “Japan's Thrust,” p. 517; Phạm Khắc Hòe, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc [From the Hue Court to the Resistance Zone in North Viet Nam] (Hanoi: 1983, Huế: 1987), tr. 14-9, [sẽ dẫn, Tu trieu dinh, 1987]; Idem, “Con Rồng An-Nam phun ra bản chất phản bội và tội ác tày trời của Bảo Đại [Le Dragon d’ Annam Lays Bare Bao Dai’s Traitorous Nature and Towering Crimes], Tap Chi Cong San [Review of Communism], vol. XXVII, No.11 (Nov 1982), pp. 59-61 [henceforth, “Bao Dai”]. Nhưng thái độ của Bảo Đại sau ngày từ chức khiến em cột chèo của vua–Pierre Didelot, chồng em gái Nam Phương–cho rằng Bảo Đại “hoàn toàn thiếu tư cách,” qua lời tuyên bố “Nhật “xạo” [blageurs], Mỹ chỉ biết đến mình, Bri-tên muốn thừa nước đục thả câu, và Trung Hoa không muốn giúp gì cả.” (CAOM (Aix), AP 365)

8. Nippon Times (Tokyo), 14 March 1945; Bao Dai, Le Dragon 1980 :101-5. Theo tư liệu Nhật, tác giả tuyên cáo này là Yokoyama; Nitz “Meigo Sakusen,” p 311-15. Điều này có lý vì các phóng viên chiến tranh Nhật gửi điện tín báo cáo vào ngày 11/3/1945. Nhưng theo Phãm Khắc Hoè, Quỳnh tự nhận đã thảo Tuyên ngôn này.

9. Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 3 tập (Houston: Văn Hoá, 1999-2002)

10. Ngày Nay (Hà Nội), 5/5/1945; Thanh Nghị (Hà Nội), 5/5/1945; trích dẫn Dụ số 1 ngày 17/3/1945 của Bảo Đại; và phê bình của Luật sư Bùi Tường Chiểu, trong Vũ Đình Hoè, Hồi ký, 2004, tr. 176-77. Tác giả thực sự của hồi ký Bảo Đại bằng Pháp ngữ có lẽ nhầm lẫn khi ghi Bảo Đại thông báo cho Quỳnh biết quyết định của mình sáng ngày 19/3; Bao Dai, Le Dragon, 1980:106. Triều đình cũ xin từ chức ngày 19/3/1945; Phạm Khắc Hoè, 1987:22; La Cloche Fêlée (Sài Gòn), 26/12/1925.

11. Đào Duy Anh, Nhớ Nghĩ Chiều Hôm (Hà Nội: NXB Trẻ, 1989), tr. 44; Văn Kiện Đảng Toàn Tập [VKĐTT], vol I: 1924-1930, (Hà Nội: 2002), tr. 333-80, 401-5 [CSLĐ]; David G. Marr, Vietnamese Tradition On Trial, 1925-1940 (Berkeley: Univ of California Press, 1981), tr. 41, 270n50; Chính Đạo, “Võ Nguyên Giáp (1912 [1911]-?): Nhìn Lại Lý Lịch Tự Khai;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 111, tháng 8-9/2010, tr. 111 [108-133]. Theo Đào Duy Anh, những thông tin trong tài liệu về Tân Việt của Louis Marty năm 1933, các lãnh tụ TVCMĐ đã ngầm bàn bạc để ngụy tạo chứng từ. Tháng 7/1929, do lời khai của Tú Đàn, Anh bị bắt ở Huế. Sau cái chết của Giải nguyên Lê Huân trong ngục Vinh, ngày 1/1/1930, TVCMĐ đổi tên thành Việt Nam Cộng Sản Liên Đoàn hay Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn [CSLĐ]. Trong Hồ Chí Minh: Con người & huyền thoại, tập II, 1993, tr. 89, chúng tôi ghi theo báo cáo của an ninh Pháp Lý Thụy gửi Hà Huy Tập (Năm Nhỏ), Tổng thư ký Đảng CSĐD từ 1936 tới 1938, sang Nga. Văn khố Nga tiết lộ Tập cùng Trần Ngọc Dân tự động tiếp xúc lãnh sự quán Nga ở Dairen [Quảng Châu]; Anatoli Sokolov, Quốc Tế Cộng Sản và Việt Nam, bản dịch Việt ngữ Đào Tuấn (Hà Nội:1999), tr: 275-77. Việc này, theo Tập, do quyết định của TVCMĐ, sau khi tách rời khỏi VNTNCMĐCH vào tháng 7/1928; “Một số tài liệu liên quan đến Tân Việt Cách Mệnh Đảng” (báo cáo của Hà Huy Tập ngày 4/10/1929, tại Mat-scơ-va; VKĐTT, vol I:1924-1930 (Hà Nội: 2002), tr. 439-40 [433-59]. Có lẽ vì kinh nghiệm 4 lần thất bại hợp nhất với nhóm Thanh Niên, Cinitchkin Tập ra mặt chống đối và phê bình Nguyễn Ái Quấc là “cải lương” và “quốc gia,” rồi năm 1934-1935 tiết lộ Cô Vải hay Fan Lan Nguyễn Thị Vịnh là vợ Quấc [Lin].)

12. Charles de Gaulle, Memoires de guerre. 3 vols. (Paris: Plon, 1956-1959), vol 3, pp. 230-31; Alain de Boissieu, Pour combattre avec de Gaulle, 1940-1946 (Paris: Plon, 1981), pp. 308-11, 333-36; L’ Institut Charles de Gaulle, Le general de Gaulle et l'Indochine, 1940-1946 (Paris: Plon, 1982), pp. 174-80, 199-201; Vũ Ngự Chiêu, Lá bài bí mật của de Gaulle: Hoàng tử Vĩnh Sang (Houston: Văn Hóa, 1992); Idem., Vua Cuối Nhà Nguyễn 2002, tập III:ch. 12.

13. Tiểu Thuyết Thứ Bảy [TTTB] (Hà Nội), 5/5/1945.

14. CAOM (Aix), Affaires Politiques [AP], hộp 3448. Hà Đông là một tỉnh do Pháp đặt ra năm 1888; hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận đổi làm huyện Hoàn Long. Tỉnh lị Hà Đông đặt tại Cầu Đơ. Năm 1890, tách phủ Lí Nhân ra thành tỉnh Hà Nam. Năm 1909, tách châu Lục Thủy của Hoà Bình, đặt vào Hà Nam. Đại Nam Nhất Thống Chí [ĐNNTC], q. XIII, “Hà Nội,” bản dịch Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh, 5 tập (Thuận Hóa: 1997), 3:162n1. Hiện nay, lãnh thổ Hà Đông chia vào Hà Nội và Hà Tây.

15. “Những điều kiện để xây dựng nền độc lập;” Thanh Nghị, đặc san chính trị (Hà Nội), 5/5/1945; Vũ Đình Hoè, Hồi ký (Hà Nội: Hội nhà văn, 2004), tr. 173-76.

16. Tân Á [New Asia], số .53; dẫn trong Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua, tr. 4.

17. Dân Mới, 6/6/1945; TTTB, 12/5-23/6/1945; Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 2002-2004), I:58-63.

18. Mặc dù Hồ Chí Minh là trọng tâm của nhiều cung văn [hagiographies] và đào mộ, cho tới năm 2010 mới tương đối có một sơ lược tiểu sử chính xác từ khi được nhận vào trường Quốc Học Huế ngày 7/8/1908. Xem, chẳng hạn, Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change;” 1984, ch. 9; Idem., “Chuyến Cầu Viện Bí Mật 1950 của Hồ Chí Minh;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA, No. 109, Tháng 3-4/2010, tr. [5-25]; Việt Nam Thời Báo (San Jose, CA), số 5229, Thứ Ba, 12/1/2010, & 5230, Thứ Tư, 13/1/2010; websites Hợp Lưu [hopluu.net] và Việt Nam Văn Hiến [vietnamvanhien.net]; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 3 tập (1993-1997); William Duiker, Ho Chi Minh (2000); “Notice... 2/1940;” CAOM [Aix], 7F 27; Về nguồn gốc tên Mặt trận Việt Minh, xem Hoàng Văn Hoan, “Một bước ngoặt lịch sư quan trọng;” trong Nguyễn Lương Bằng, et al. Đầu Nguồn: Hồi ký về Bác Hồ [The Origin of the Streams: Memoirs on Uncle Ho] (Hanoi: Van Hoc, 1977), tr. 97, 109-10; Nguyễn Lương Bằng, Ibid., 1977:34; VKĐTT, 6, 2000:484-506;

19. Huỳnh Văn Tiểng, “Cổ vũ nhân dân và binh địch vận;” Huỳnh Văn Tiểng et al., Làm đẹp cuộc đời: Huỳnh Tấn Phát: con người và sự nghiệp (Hà Nội: XBCTQG, 1995), tr. 113-14 [111-14].

20. Charles Fenn, Ho Chi Minh: A Biographical Introduction (New York: 1973), 71-5, 76-7, 78, 81; Archimedes L. Patti, Why Viet-Nam? Prelude to America's Albatros (Berkeley, Cal.: Univ of California Press, 1980), tr. 29-30, 31, 46, 50, 51; Stein Tonnesson, Vietnamese Revolution, 238, 337 (quoted USNA ngày 19/3/1945); Chính Đạo, Hồ Chí Minh: 1993, II :356; Marr, Vietnam 1945, 1995: 227-29, 241, 282-85, 288-91, 304n33, 476-79, 482-90, 498-501, 538-39; Raymond P. Girard, “City Man Helped to Train Guerillas of Ho Chi Minh;” Evening Gazette (Worcester, MA), 14 & 15/5/1968; dẫn trong Marr, 1995:209n189; US Congress. Senate. Causes, Origins, and Lessons of the Vietnam War. Hearings before the Committee on Foreign Relations, 92nd Congress, 2nd Session, May 1972 (Washington: GPO, 1973), tr. 249; Phùng Thế Tài, Bác Hồ những kỷ niệm không quên (Hà Nội: QĐND, 2002), tr. 57-63, 82-7.

21. Lê Tùng Sơn, 1978:110-12 [Mỹ thả 2 đợt, gần 80,000 truyền đơn của Việt Minh xuống Hà Nội, Huế và Việt Bắc]; Đàm Quang Trung [Đàm Ngọc Lựu, 1921-1985], “Từng có một đội quân hỗn hợp Việt-Mỹ tiến vào Hà Nội;” [Once there was a mixed Vietnamese-American military unit marching into Ha Noi]. Tuoi Tre [Young Age] (Saigon), vol. 11, no. 34-93 (514), August 29, 1993, p. 5; René Defourneaux, “Secret Encounter with Ho Chi Minh;” Look (NY), 8/9/1966, tr. 32-33; Robert Shaplen, The Lost Revolution (NY: Harper & Row, 1965), tr. 30; Báo cáo ngày 22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; Bộ Quốc Phòng, US-Vietnam Relations, 1947-1967 (Washington, DC: GPO, 1971), Bk I, C 58-9, 67; The Pentagon Papers (Gravel), vol. I, pp. 17, 20, 50, 51; Lê Giản, “The Story of An Exile;” Vietnam Courrier, 1980:17-20;

22. Độc Lập, 4/9/1945; Vũ Đình Hoè, 2004:718, 795, 797-98. Đầu năm 1946, Long bị Việt Cách giết; Lê Tùng Sơn, 1978:186; Sokolov, Quốc Tế Cộng Sản, 1999:269-70).

23. SHAT [Vincennes], Indochine, 10H xxx; CAOM (Aix), INF, hộp 133, hồ sơ 1120. Năm 1949, tài liệu tuyên truyền của Đảng CSĐD hàm ý rằng Trần Trung Lập có liên hệ với Việt Minh.

24. CAOM (Aix), INF, hộp 133, hồ sơ 1210; GOUGAL, 7F 29 và 63, và HCFI, CP, hộp 161. Nên lưu ý là có nhiều nhóm Trốt-kít. Nhóm được biết nhiều nhất là Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Phan Văn Hùm, và Trần Văn Thạch, thực ra chỉ tả khuynh. thời gian này đã bị Pháp tập trung cải tạo. Đầu năm 1941, do sự tố cáo của nhóm Stalinist, Pháp bắt giữ nhóm Trốt-kít mới thuộc Việt Nam Nhơn Dân Cách mạng Đảng, gồm nhiều trí thức miền nam như Võ Oanh, Phan Khắc Sửu, Dương Văn Giáo, Nguyễn Văn Nhã, Trần Văn Ân, Trần Quốc Bửu, v.. v.. Sau khi được phóng thích vào tháng 7/1941, một số tìm sự che chở của Nhật. Xem CAOM (Aix), 7F 27, và CP 161. Đa tạ Y sĩ/Giáo sư Trần Nguơn Phiêu đã tặng tác phẩm về Phan Văn Hùm, và hồi ký/ biên khảo của Ngô Văn về các nhóm Trốt kít. Theo Ngô Văn, ông ta từng gặp Trần Văn Giàu năm 1936 tại Khám Lớn Sài Gòn. Nhưng theo tài liệu Mật thám Pháp, Giàu bi kết án đầy Côn Đảo từ năm 1935, và năm 1940, sau khi mãn hạn tù, bị đưa thẳng vào trại Tà Lài (Biên Hòa).

25. CAOM (Aix), INF, hộp 133, hồ sơ 1199.

26. CAOM (Aix), PA 14, hộp I; Nguyễn Xuân Chữ, Hồi ký, (Houston: Văn Hoá, 1996), tr 243-49; Shiraishi 1982: 226-27.

27. Sachiko Murakami, “Japan's Thrust into French Indochina, 1940-1945.” Unpublished Ph.D. Dissertation, New York University (1981), p. 511.

28. Bảo Đại, Le Dragon, 1980:106. Xem thêm Nguyễn Xuân Chữ, Hồi Ký, 1996: 249-56.

29. [9] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi (Sài Gòn: Vinh Sơn, 1969), tr. 7. Tư liệu văn khố ghi Kim sinh năm 1887. Những chi tiết dưới đây rút từ hồi ký dẫn trên và tài liệu trường Thuộc Địa Pháp; CAOM (Aix), ECOLE COLONIALE, Registres 5 và 41, Cartons 27 và 30; AMIRAUX, d. 2578.

30. Kim không được tiếp đón với thảm đỏ như một số tác giả hoang tưởng. Không được bay qua Singapore vào mùa Thu 1943, hay được Tướng Kawamura thông báo tại phi trường Sài Gòn là được cử làm Thủ tướng. Xem tiểu sử Hãn trong GGI, Souverains, p. 28. Giáo sư Hãn đã dành cho tôi một số cuộc phỏng vấn trong thập niên 1980. Tuy nhiên, tôi không đồng ý lời yêu cầu của ông là đừng công bố tài liệu Nguyễn Tất Thành (Sinh Côn) xin nhập học trường Thuộc Địa.

31. Imperial Order [Du] No.5 (17 April 1945); L’Action, 19/4/1945, 2 & 3/5/1945. (xem thêm Phụ bản II)

32. [11] Dụ số 16, 24/4/1945; L’Action (Hanoi),, 27/4/1945, 28/5/1945. Xem tiểu sử Chương trong GGI, Souverains, p. 14. Xem thêm Chinh Tri tuan bao [Political Weekly Magazine] (Hanoi), No.2 (30 March 1939);

33. Dụ số 11; L'Action, 3/5 & 5/5/1945.

34. Ibid, 19 June 1945. Ít lâu sau, Bảo Đại đưa Nguyễn Duy Quang, Tuần vũ Khánh Hoà, về làm phụ tá cho Phạm Khắc Hoè; Tôn Thất Toại, con Tôn Thất Hân, làm Bộ trưởng Nghi Lễ; Ibid, 19/6/1945; GGI, Souverains, p. 93.

35. [11] báo cáo của Tướng Georges Aymé ngày 4/19/1945; SHAT (Vincennes), 10H xxx.

36. Trần Đình Phiên, thương gia ở Phan Thiết, anh Nam, quản trị Tieng Dan.

37. [12] Xem Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: Văn Hoá, 1983).

38. “L’Association unique de tous les Indochinois en France;” CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, carton 1; trích dịch trong Nguyên Vũ, Paris, Xuân 96 (Houston: Văn Hoá, 1997), tr. 108-10; Ibid., HCFI, CP, Carton 161; PA 14, Carton 2 and GOUGAL 7F 29; Van Lang (Saigon), No.2 (5 Aug 1939), pp. 4-5.

39. Trinh Dinh Thao (1901-1986), sinh ngày 20/7/1901 tại Hà Nội. 1929: Tiến sĩ Luật; Luật sư tại Marseille. Về nước trong năm này. Hành nghề tại Sài Gòn (CMBC, 1993:928). 22/2/1937: Tham gia Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thinh; nhưng sau bị áp lực phải rút ra. 9/1938: Từ chối tham gia nhóm “hợp pháp” của Đảng CSĐD (CP 191). 4-8/1945: Bộ trưởng Tư pháp (trong chính phủ Trần Trọng Kim). Sau tháng 8/1945, về Sài Gòn, không hoạt động gì. Tháng 2/1947, khi Kim từ Hong Kong về Sài Gòn, ở lại nhà Thảo, trước khi tới nhà anh vợ là Bùi Khải. 1954: Tham gia Phong Trào Bảo Vệ Hoà Bình tại Sài Gòn. 1966-1967: Ngả theo Bắc Việt. Thứ Bảy, 20/4/1968, Chủ tịch Ủy Ban Trung Ương Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Miền Nam Việt Nam, tức Mặt Trận II [cho tới ngày 21/4/1968]. 6/1969: Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn CPLT/CHMNVN (Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch).

40. Từ tháng 4-5/1945, nhóm Trần Văn Di [Vi] (mới ở Bà Rá trốn về) và Nguyễn Thị Thập (1908-1996) lập xứ ủy riêng, biệt lập với Trần Văn Giàu (260). Giàu: Đông Dương Cộng Sản Đảng, cờ vàng sao đỏ; Di-Thập: Đảng CSĐD, cờ đỏ sao vàng (265-66). Nhóm Giàu: Bùi Công Trừng, Hoành, Lý Chính Thắng, Còn, v... v... có báo Tiền Phong. Nhóm Thập: Trần Văn Di [Vi] (Bí thư), Nhạc (Cao Lãnh), và Thập, có báo Giải Phóng. [Từ trong tù, Di và Giàu không ưa nhau]. Cuối tháng 3 Ất Dậu [thượng tuần tháng 5/1945], sau khi Lý Chính Thắng ra bắc, gặp Trương Chinh trở về, họp thống nhất hành động (266-67). (Nguyễn Thị Thập. Từ đất Tiền Giang. (Sài Gòn: Văn Nghệ, 1986), tr. 260-67 [284-312]).

41. Thanh Nghị, số 107, 5/5/1945; L'Action, 9/6/1945; Sài Gòn, 12/6/1945; Lieu, Bich and Dam (eds), Xa hoi, vol II. pp.174-75; Vu Dinh Hoe, Hoi Ky, 2004, tr. 171.

42. [14] Chính Đạo, “Jean-Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963): Thời Kỳ chưa nắm quyền;” Cuộc thánh chiến chống Cộng (Houston: Văn Hoá: 2004), tr. Kim, Gio bui, pp. 64-5.

43 [15]. Trước ngày 19/8/1945, Kha Vạng Cân là Chủ tịch. Xem Sài Gòn, 25, 26/5/1945; Hưng Việt (Sài Gòn), 17, 20 và 22/8/1945; CAOM (Aix), HCIF, CP 161.

44. [16] Theo số liệu thống kê của Đông Dương, từ 1942 tới 1945, ngân quĩ cho thực phẩm tăng 900% trong một gia đình trung lưu, và 1920% trong một gia đình lao động; ASI, 1943-1946, pp. 204-6.

45. Tinh Tien (Hanoi),14 (5/7/1945); L'Action (Hanoi), 4 & 13/7/ 1945 [declaration of  8 June 1945 & Imperial Order [Du] No.71 (11 July 1945)]

46. Kim 1969:81-8; L'Action, 30/7/1945; AOM INF G4; dẫn trong Marr, 1995:133n251, và 133n253. Xem thêm Vũ Trọng Khánh, “Tôi làm thị trưởng Hải Phòng (1994);” Phụ lục 9; Vũ Hoè, 2004:460-67.

47. L'Action, 18/8/1945; Hưng Việt, 2/8/1945; Kim 1969:91. Theo Y sĩ Chữ, chức vụ này do Hãn đề nghị; Hồi ký, 1996:279-80.

48. Sài Gòn, 15/8/1945; L'Action, 18/8/1945.

49. Tài liệu số 1, “Extract from the Report to the Combined Chiefs of Staff by the Supreme Allied Commander, South-East Asia, 30 June, 1947;” Great Britain, Parliamentary Debates, 1945-1946; Jordan J. Paust, et al., International Criminal Law: Cases and Materials (Durham, N. Carolina: Carolina Academic Press, 1996), pp. 967-68. Xem thêm List of War Crimes prepared by the Responsibilities of the Paris Conference in 1919 (members USA, British Empire, France, Italy, Japan, Belgium, Greece, Poland, Roumania, Serbia); Ibid., pp. 24-5, 1017-20.

50. Xem những thư từ và khiếu nại của Hồ gửi tứ cường trong US-Vietnam Relations, 1945-1967, Book 1, tr. C 66-100. Xem thêm báo cáo của Abbot Moffat, trong Leon B. Blum, The United States and Vietnam, 1944-1947, (Washington: GPO, 1972).

51. Vũ Ngự Chiêu, “Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 88, 4-5/2006, tr. 95-148.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 122479)
C ái Tôi nội cảm cộng hưởng với cảnh đời riêng, tâm thế sáng tạo riêng đã hình thành kiểu tư duy kỳ lạ của thơ Loạn. Thơ Loạn ra đời dựa trên sự thăng hoa nghệ thuật của những nỗi đau, sự bung phá những giới hạn, sự phân ly và hòa hợp những đối cực, sự hợp lưu của nghệ thuật, tôn giáo và cuộc đời. Thế giới nghệ thuật trường thơ Loạn là ánh xạ đầy biến ảo của những cái Tôi trữ tình đau thương và khát vọng.
17 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 151149)
X a không chỉ từ thân xác Cái tổ nhỏ nhoi kết bằng ý nghĩ về nhau cũng quá đỗi xa xôi Dải sương mù cuối năm kéo ngôi đền lùi lại Nấp sau bao lí lẽ tỏ mờ
09 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 119882)
K hi ta nói chuyện một con sông, thì chủ yếu là nói đến một khúc sông, như khúc sông Hương chảy qua thành phố Huế. Nói về một tác giả cũng vậy, thường ưu đãi ấn tượng về một tác phẩm nào đó. Với một sự nghiệp văn học đã trải qua nhiều ghềnh nhiều thác như của Thảo Trường, đánh giá toàn bộ là một việc khó.
28 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 117608)
Đ êm qua tôi thấy Mèo con trong giấc mơ. Vẫn nét mặt bầu bầu, vành môi cong lên cười tươi thắm. Trong mơ tôi thấy 2 đứa vẫn trẻ như một ngày năm cũ, nhưng lại có một thoáng ngại ngần, rồi Mèo con lên tiếng như giữa chúng tôi chưa hề có khoảng cách 15 năm. Mười lăm năm, mười lăm năm ấy biết bao tình[...]Chả biết là phòng hội hay phòng ăn, tôi vào lấy thức ăn như khi xưa từng lấy cho nhau.
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 109941)
B ao nhiêu năm qua ở xứ ngưới, anh vẫn còn nhớ lại có những chiều trên đảo, anh đứng một mình trên đồi, nhìn biển rộng mênh mông, nhìn những đám mây bay lang thang trên nền trời xanh, nhìn những đám cỏ may theo gió thổi chạy vờn về cuối đảo, tự nhiên làm cho anh thấy mong nhớ một cái gì xa xôi. Mây và cỏ may thường làm gợi nhớ đến dĩ vãng...
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 117362)
C huyện này chắc ít ai biết. Nhạc sĩ Thu Hồ ngày xưa vốn là ca sĩ. Lần đầu tiên ông xuất hiện hát ở Huế vào năm 1936, ông đã trình bày bài “La Chanson du Gondolier” và được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Lúc đó tôi chưa ra đời. Nhưng bài hát anh chèo thuyền gondola thì chúng ta hầu như ai cũng biết.
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 123382)
S huhun mang ánh mắt của một lời nguyền, thứ ánh mắt in trên một thỏi sắt. Nhìn hắn như một lưỡi kiếm bén mang linh hồn của Musashi Miyamoto. Tôi biết đến Musashi khi nào tôi không thể xác định, tên của võ sĩ vang danh trên khắp lục địa Bắc Á. Musashi trao cho Nhật Bản sức mạnh của kẻ yếm thế: Go rin no sho. Thuật xâm chiếm của vũ trụ như hai giải ngân hà nhập một, như hai lưỡi kiếm của hai mắt phải nhập một.
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 121878)
H ằng đêm tôi sống trong lo sợ. Chung quanh tĩnh lặng, tối ám đến hoang mang. Gió lộng đánh phần phật trên các cánh cửa. Cứ độ giữa đêm, tiếng chân thình thịch đến từ xa, từng bước dẫm nặng nề. Tôi thu mình, rúc sát vào vách. Tôi trong suốt trong màu mực của đêm, không nhìn thấy cả chính mình...
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 150397)
t a đã nhiều năm xa tổ quốc nhưng nào tổ quốc có xa ta sờ tay lên ngực nghe còn ấm hơi thở cỏ cây ở quê nhà
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 123588)
P hật giáo đã đồng hành cùng dân tộc gần hai nghìn năm qua, có những đóng góp quan trọng không chỉ trong sự phát triển văn hóa dân tộc, mà còn trong công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước thời kỳ đầu quốc gia tự chủ vô vàn gian khó... nhận thức rõ hơn cái “nhiệm trọng đạo viễn” của mình trước đất nước và dân tộc, chứ không phải chỉ biết chăm chú xây chùa đúc tượng...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3887)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19671)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18653)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1664)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1827)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2383)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2450)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1495)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2238)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1967)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1400)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2452)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2653)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2393)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 274)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 826)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1068)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1147)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6442)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15909)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32168)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38882)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1507)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13906)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6926)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10745)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9987)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10058)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10856)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3478)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11167)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10381)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi