- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HỒ NHĨ HẢI HỒI SINH - Một Thí điểm của Khoa học Môi trường - Một Thành công của Nền Văn minh Sinh thái

04 Tháng Bảy 202512:16 SA(Xem: 8551)

HỒ NHĨ HẢI HỒI SINH

Một Thí điểm của Khoa học Môi trường

Một Thành công của Nền Văn minh Sinh thái

 

NGÔ THẾ VINH  

 

FINAL CHINA BIEN DONG-2 (2)

Hình 1a: Bản đồ lưu vực hồ Nhĩ Hải

 

 

_ Tom Mollenkopf, Chủ tịch Hiệp hội Nước Quốc tế IWA (International Water Association) nhận định rằng: “Dự án đổi mới kiểm soát ô nhiễm hồ Nhĩ Hải và Phát triển Lưu vực đã cung cấp những hiểu biết quan trọng cho lĩnh vực môi trường nước toàn cầu”.  Dự án được đánh giá là xuất sắc và đã được trao tặng Huy chương Bạc tại Đại hội Triển lãm Nước Thế giới.  [Copenhagen 08.2022]


Phan
Nhạc, sinh năm 1960, là một thứ trưởng trẻ nhất trong chính phủ Trung Quốc, người đi đầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trước một nhóm sinh viên trẻ, ông đã thẳng thắn phê phán: "Mô hình phát triển kinh tế hiện tại của chúng ta là không bền vững. Ô nhiễm môi trường đã hạn chế nghiêm trọng tăng trưởng kinh tế, và bất công xã hội dẫn đến bất công môi trường, đến lượt nó lại làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tạo ra một vòng luẩn quẩn gây ra bất hòa xã hội”. [2007, Pan Yue 潘岳]

*

NTV -H1B

Hình 1b-  ảnh Hải Thái Hoa, một loài cây sống dưới nước rất đặc thù của vùng cao nguyên Vân Nam, hoa trắng tinh khôi với cánh trắng nhụy nở trên mặt nước, nhìn từ xa như những cánh sao rơi. Hải thái hoa rất kén nước, chỉ có thể sống được trong các hồ nước sạch, không bị ô nhiễm.


MỘT THOÁNG 23 NĂM:

CÙNG BẦY CHIM CỐC TRÊN HỒ NHĨ HẢI / ERHAI LAKE / 洱海

Một ngày của trung tuần tháng Chín năm 2002, sau khi thoát ra được vòng rào con Đập Mạn Loan, con đập lịch sử, con đập thủy điện đầu tiên trên sông Langcang-Mekong. Từ huyện Manwan bằng đường bộ, chúng tôi lên tới cổ thành Đại Lý (Dali) trời cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Kathmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch (Bai) với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu (Nanzhao) rất hùng mạnh từng đánh bại quân nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông (Mongol Yuan) thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam đã trực thuộc vào nước Trung Hoa.

 

 NTV -H2-Cổ thành Đại Lý với sắc dân Bạch

Hình 2: Cổ thành Đại Lý với sắc dân Bạch có lịch sử hơn 3 ngàn năm,
vẫn có đó một Chùa Ba Ngôi của nước Nam Chiếu đã có từ thế kỷ thứ IX.)

 

Vẫn còn đó những kiến trúc cổ xưa như Chùa Ba Ngôi được xây cất từ thế kỷ thứ 9, các ngôi nhà đá cổ với cả những con đường đá quanh co. Nhưng thực sự đã không còn nguyên vẹn một cổ thành Đại Lý, bức tường thành kiên cố bằng đá không còn nữa, các cổng thành gốc đã bị phá đi thì nay được mô phỏng xây dựng lại nhưng với bên trong là những gian hàng bán nữ trang và đồ lưu niệm cho du khách. Đi bộ từ Cửa Bắc tới Cửa Nam của Cổ Thành, qua những đường phố nhỏ với đường lát gạch, hai bên đường là những quán ăn, tiệm Café Internet và luôn luôn tấp nập với các đoàn du khách được hướng dẫn bởi những cô gái gốc Hán má phấn môi son nhưng lại với y phục rực rỡ của sắc dân Bạch.

Phía tây Đại Lý là trùng điệp núi non, phía đông là hồ Nhĩ Hải (Erhai Lake). Nhĩ Hải là hồ nước ngọt lớn thứ hai của Vân Nam (sau hồ Điền Trì) đổ vào sông Mekong qua một phụ lưu là con sông Xi’er. Hồ Nhĩ Hải được coi như một “tiên cảnh” của sắc tộc Bạch, là một hồ rất sâu đã từng có tới hơn 40 loại cá khác nhau nổi tiếng nhất là loại “cá quậy (bow fish) giống như cá chép có đặc tính ngậm đuôi vào miệng rồi bung ra nhảy cao trên mặt nước. Vân Nam rất xa biển nên người dân Vân Nam thích đặt tên biển cho những hồ lớn của họ. Đại Lý mưa tầm tã từ nửa đêm kéo dài tới sáng hôm sau. Nhưng rồi mặt trời cũng ló dạng. Khí hậu đủ tốt cho một nửa ngày đánh cá bằng chim cốc (cormorants) trên hồ Nhĩ Hải.

Chiếc xe phải len lách giữa những thửa ruộng trên một con đường đất đá để tới được làng đánh cá nhỏ bên bờ tây của hồ Nhĩ Hải, gặp bác ngư dân sắc tộc Bạch da sạm nắng tuổi cũng gần 60, bác sống với đàn chim cốc cũng phải tới hai chục con đã được thuần hóa. Có khách tới, bầy chim được tự do ra khỏi những chiếc lồng, tung tăng duỗi chân duỗi cánh hân hoan. Thay vì đeo vào cổ chim những chiếc vòng, rất nhanh và thành thạo người đàn ông dùng mớ lạt, buộc cổ từng con chỉ vừa đủ chặt để ngăn chúng nuốt xuống những con cá lớn bắt được, rồi ra lệnh cho đàn chim tung mình xuống nước và bơi theo ghe ra hồ.

*

 
NTV -H3

Hình 3: Trước buổi săn cá trên hồ Nhĩ Hải, một ngư ông sắc dân Bạch đang dùng dây lạt thắt vòng trên cổ mỗi con chim Cốc, ngăn không cho chim nuốt những con cá lớn để sau đó thu hoạch; (trái) đàn chim Cốc đã được thuần hóa, trở nên rất dạn dĩ và thân thiện với du khách, (phải) Ngô Thế Vinh chèo thuyền trên hồ Nhĩ Hải; [tường trình từ Vân Nam, Đại Lý 09.2002]

 

Gần bờ, nước hồ Nhĩ Hải ô nhiễm đặc sánh lại một màu xanh của tảo và rong rêu, cũng không ngạc nhiên khi thấy các rãnh nước thải từ thành phố chảy qua các ruộng lúa rồi đổ thẳng xuống hồ. Phải thật xa bờ, nước hồ mới một phần trở lại trong xanh.
Như những người bạn thân thiết, bầy chim cốc và ngư ông hoạt động nhịp nhàng. Cảnh tượng thật kỳ lạ chỉ bằng khẩu lệnh với những âm thanh sắc ngắn là cả một bầy chim từng đợt từng đợt vỗ cánh rồi cùng ngụp lặn sâu dưới mặt nước. Phải một lúc sau mới thấy từng con trồi lên, con chim nào với chiếc cổ phồng to phía trên nút lạt thắt là dấu hiệu bắt được cá lớn, ngư ông chỉ cần tới gỡ mỏ từng con chim cốc và thu hoạch. Mẻ cá đầu tiên của một chú chim cốc là hai con cá chép chỉ nhỏ hơn nửa bàn tay.

Bầy chim tỏ ra rất thân thiện, nhảy lên ghe, đậu trên mái chèo hay trên tay khách. Cảnh trí thiên nhiên hữu tình, chủ khách và bầy chim thực sự giao hòa. Tỏ tình thân, người đàn ông gốc Bạch mời tôi điếu thuốc hút. Cũng đã 30 năm rồi, lần đầu tiên tôi đã lại vui vẻ đón nhận và cả thưởng thức điếu thuốc thơm Vân Nam trên mặt hồ Nhĩ Hải.

Cách đây ngót 8 thế kỷ (1278), Marco Polo trên Con Đường Tơ Lụa Phương Nam (Southern Silk Route) đặt chân tới đây và ghi nhận cá ở hồ Nhĩ Hải là “nhất thế giới” sau đó Marco Polo đã vượt qua sông Mekong phía tây Vân Nam để ra khỏi Trung Hoa.

Sáu thế kỷ sau Marco Polo (1868), đoàn thám hiểm Pháp với Doudart de Lagrée & Francis Garnier khởi hành từ Sài Gòn bằng cuộc hành trình gian truân ngược dòng sông Mekong kéo dài hai năm. Cuối cùng Francis Garnier cũng tới được hồ Nhĩ Hải phía đông khu cổ thành Đại Lý, nhưng Francis Garnier đã bị vị Sultan, vua Hồi từ chối tiếp kiến và buộc đoàn phải rời Đại Lý ngay sau đó.

Hơn 130 năm sau Francis Garnier, chúng tôi đang trở lại với sinh cảnh đẹp đẽ nhưng đã quá mong manh và có lẽ là những năm tháng cuối cùng của hồ Nhĩ Hải với nước hồ ngày càng ô nhiễm, đổ thoát ra bằng một phụ lưu lớn là con sông Xi’er để rồi cuối cùng cũng đổ dồn vào dòng chính con sông Lancang-Mekong.


Sau hai điếu thuốc, chủ và khách đều hân hoan. Lão ngư ông cao hứng bảo sẽ hát cho chúng tôi nghe một bài tình ca có tự lâu đời của sắc dân Bạch. Tuy không hiểu được lời ca nhưng những nốt nhạc rất du dương trầm bổng. Theo Wu, là tài xế cũng là nhà giáo khi đưa chúng tôi tới đây, thì bài hát kể lại mối tình thơ mộng và say đắm của đôi trai gái sắc tộc Bạch, cùng chèo thuyền trên hồ Nhĩ Hải cảnh sắc hữu tình, dưới bầu trời xanh, bên dãy núi cao, trên biển nước mênh mông, mỗi nốt nhạc lời ca là tiếng lòng thổn thức của họ. Ở tuổi gần 60, da sạm nắng và gầy khắc khổ nhưng người đàn ông đã hát với tất cả vẻ đam mê như đang sống lại với mối tình đầu của tuổi thanh xuân ngày nào. Bầy chim cốc vẫn bơi sát theo thuyền, mấy con nhảy đỗ trên ghe thì nghển cổ như để lắng nghe chủ hát.

Tôi hỏi về mức thu hoạch cá với đàn chim cốc. Ông nói đã sống với nghề săn cá bằng chim cốc từ 40 năm và cách đây hơn 10 năm thôi, vẫn có được những mẻ cá lớn nhưng về sau này thì không, lượng cá không hiểu tại sao càng ngày càng ít hẳn đi, chỉ còn lại đàn chim cốc vẫn nuôi sống được gia đình ông chủ yếu bằng tiền của du khách.

HỒ ĐIỀN TRÌ / DIANCHI 滇池, VÀ CON SÔNG HỒNG.      
                                   
Điền Trì là một biển hồ lớn nhất phía nam thủ phủ Côn Minh, đã từng được Marco Polo tới thăm vào thế kỷ thứ 13 mô tả như “một hồ lớn cả trăm dặm và lưới được rất nhiều cá”. Hồ có chiều dài hơn 40 km, diện tích 300 km2 (gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singapore), phía tây là núi đồi, phía đông hồ, địa hình bằng phẳng, nguyên là khu chài lưới rất thịnh vượng nhưng rồi do ô nhiễm chất thải từ các khu kỹ nghệ bờ đông nam nên đã không còn cá và thực sự đã không còn một nền ngư nghiệp.

Wu đã cho biết chính quyền không  sao xử lý được hồ nước thải, không giải quyết được cả một khối lượng nước đã quá ô nhiễm trong hồ lớn Điền Trì – nên đã thuật cho chúng tôi nghe về một kế hoạch táo bạo của chính quyền Vân Nam: dự trù chi phí 2 tỉ yuan để khai thông một đường dẫn cho thoát nước hồ ra sông Hồng, chảy qua Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông, sau đó sẽ thay thế bằng nước con sông Dương Tử dẫn vào hồ. Tuy chưa thể kiểm chứng được là có bao nhiêu phần trăm sự thật trong kế hoạch đầy sáng tạo nhưng độc ác của các “công trình sư Đại Hán”, nhưng có thể chắc chắn một điều người giáo viên trung học này không đủ giàu tưởng tượng để bịa đặt ra câu chuyện ấy. Đổ tất cả ô nhiễm của hồ Điền Trì vào con sông Hồng như một đường cống rãnh thì hậu quả sẽ ra sao trên bao nhiêu triệu cư dân Việt Nam nơi đồng bằng châu thổ đang sống bằng nguồn nước con sông Hồng và đây là điều sẽ được ai quan tâm tới? Việt Nam được biết gì về một kế hoạch “giải quyết môi sinh” theo lối ném bùn sang ao của chánh quyền Vân Nam?  [hết trích dẫn Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch – Tường Trình từ Vân Nam 9.2002, Nxb Văn Nghệ]                                                                                                                                                                                                                                      
Trong chuyến đi Vân Nam 2002, người viết đã được tận mắt thấy một hồ Điền Trì lớn nhất Vân Nam gần như đã chết và một hồ Nhĩ Hải lớn thứ hai thì đang chết dần. Để rồi 23 năm sau được chứng kiến những “cái chết đi và sống lại” của các hồ nước ngọt Trung Quốc như một phép lạ không do Thượng Đế mà do chính con người đã tạo ra… 

CHÂU ĐẠI LÝ VÀ HỒ NHĨ HẢI NGÀY NAY

Hồ Nhĩ Hải trên cao nguyên Vân Nam, độ cao 1972 m trên mực nước biển, cách thủ phủ Côn Minh 265 km về phía tây bắc, là một trong số 16 hồ nay thuộc khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia của Trung Quốc. Hồ có chiều dài bắc nam 40 km, chiều rộng đông tây 8 km, diện tích 250 km2 với chu vi 116 km, có chiều sâu trung bình khoảng 11m. Dung tích hồ biến động theo mùa khoảng 2,5 tỉ m3 tới 2,8 tỉ m3.

Đây là một hồ nước ngọt lớn thứ hai của Vân Nam nổi tiếng về cảnh quan và hệ sinh thái phong phú. Vào những năm trước 1970, hồ Nhĩ Hải vẫn được coi như một “tiên cảnh hạ giới”  với nước hồ trong như ngọc và trên mặt hồ có điểm xuyết một loài hoa quý: hải thái hoa / 海菜花 / haicaihua, tên khoa học là Ottelia acuminata. Hoa có ba cánh trắng, nhị vàng. Hải thái hoa không chỉ nổi tiếng vì đẹp, chỉ có ở Vân Nam, vùng tây nam Trung Hoa. Những thân non và nụ hoa còn được sắc dân Bạch thu hoạch, chế biến thành các món ăn ngon truyền thống rất được ưa chuộng. Y học Trung Hoa còn ghi nhận hải thái hoa là một loại dược thảo trị được một số bệnh.

 

Vì loài hoa này rất dễ bị tổn thương, và không sống được trong môi trường ô nhiễm, nên sau này được các nhà khoa học môi sinh coi hải thái hoa như một “chỉ số sinh học” về phẩm chất nước (biological indicator of water quality). Bấy lâu, hồ Nhĩ Hải có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước, tưới tiêu nông nghiệp, và điều hòa khí hậu cho các khu vực xung quanh. Dân địa phương vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông, chăn nuôi, đánh bắt cá theo phương thức cổ truyền, vận chuyển và du lịch trên hồ.

 

Năm 1981, hồ Nhĩ Hải và núi Thương Sơn / 蒼山 / Cangshan đã được chính quyền tỉnh Vân Nam quy hoạch là Khu bảo tồn thiên nhiên và sau đó năm 1994 được nâng cấp thành khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, với mục tiêu bảo quản hồ nước ngọt cùng những cảnh quan với hệ động thực vật thủy sinh phong phú – được coi như một vùng chuyển tiếp nam-bắc của Trung Quốc với cả những di tích địa chất còn sót lại từ thời kỳ băng hà.

 

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA PHÁT TRIỂN

Vào cuối thập niên 1970s và 1980s, khi một Trung Quốc bắt đầu mở cửa và đổi mới – tạo được những bước phát triển kinh tế nhảy vọt – khởi đầu từ các tỉnh miền đông và đông nam. Riêng vùng tây nam – như cao nguyên Vân Nam trong đó có Châu Tự Trị Đại Lý thì vẫn chìm trong cảnh nghèo khó. Nhưng rồi, tuy muộn màng, cuối cùng Vân Nam cũng được thụ hưởng ánh sáng tăng trưởng kinh tế của cả nước. Với chiến dịch “xóa đói giảm nghèo”, được phát động từ năm 2013 đến năm 2020, tỉnh Vân Nam – trong đó có Châu Đại Lý với ngót nửa triệu cư dân được coi như đã thoát khỏi mức nghèo khó, họ đạt được mức sống cao hơn (i) với thu nhập trên mức tối thiểu; (ii) được đảm bảo thức ăn và quần áo; và (iii) được đảm bảo các dịch vụ y tế cơ bản, nhà ở có điện nước, và giáo dục miễn phí.

 

Các bước phát triển của Trung Quốc với mở mang các khu kỹ nghệ mới, phải kể tới kỹ nghệ hóa chất với phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, ban đầu đã tạo được những cải tiến trong sản xuất nông nghiệp. Kinh tế phát triển đưa tới sự bùng phát của du lịch nội địa và quốc tế.

 

Hệ quả đưa tới là tình trạng đô thị hóa, với chuyển dịch dân cư, làm gia tăng dân số trong vùng – cùng với cái giá phải trả về môi trường – khiến chất lượng nước trong hồ Nhĩ Hải ngày càng xấu đi và chủng loại hải thái hoa / haicaihua dần dần biến mất. Người ta đã phải chứng kiến sau đó một hồ Nhĩ Hải trải qua những đợt bùng phát tảo xanh (blue-green algae), không những thế nước hồ còn phát ra mùi hôi thối và chất lượng nước được coi là không phù hợp để tiếp cận với con người.

 

NGUỒN Ô NHIỄM HỒ NHĨ HẢI ĐẾN TỪ ĐÂU?

_ Từ các điểm nguồn (point source): các con sông. Từ năm 2013, các nhà khoa học tỉnh Vân Nam phát hiện ra rằng những con sông bấy lâu chảy vào hồ Nhĩ Hải có chất lượng nước được đánh giá là rất ô nhiễm; các chất gây ô nhiễm chính là nitrogen và phốt pho có nguồn gốc từ phân bón nông nghiệp. Tất cả nước sông ô nhiễm này chảy vào hồ, gây ra hiện tượng phú dưỡng / eutrofication*.

 [*phú dưỡng / eutrofication là tình trạng nước chứa quá nhiều chất dinh dưỡng từ phân bón, nước thải đưa tới tình trạng bội phát các loại rong rêu /algae, phiêu sinh vật/ plankton, làm cạn kiệt nguồn oxy trong nước, tạo ra các vùng chết trong hồ].  

Ba con sông chính gây ô nhiễm hồ Nhĩ Hải là (1) Vĩnh An Giang / Yong'anjiang, (2) La Thập Giang / Luoshijiang, và (3) Bạch Hạc Khê / Baihexi. Chỉ riêng con sông Vĩnh An Giang đã đổ vào hồ Nhĩ Hải 20% tổng số chất thải.

GIẢI PHÁP: Nhóm dự án đặc biệt nghiên cứu các phân đoạn con sông chảy vào hồ Nhĩ Hải, từ thượng nguồn xuống tới cửa sông, để xây dựng một kế hoạch quản lý hệ sinh thái sông toàn diện. Chỉ riêng nguồn nước từ con sông La Thập Giang, đã đổ 40 triệu tấn nước thải vào hồ Nhĩ Hải hàng năm. Nhóm nghiên cứu đã thảo một kế hoạch với chi phí thấp để làm sạch nguồn nước của sông La Thập Giang. Ở khu vực thượng nguồn, kế hoạch tập trung vào các biện pháp 'bảo tồn sinh thái'; ở các vùng trung lưu chủ yếu là đất nông nghiệp và làng mạc, kế hoạch tập trung vào 'phục hồi sinh thái và tái cấu trúc kinh tế', hướng dẫn nông dân xung quanh trồng các loại cây trồng thương mại ít ô nhiễm, năng suất cao và xây dựng các mương lọc dọc theo bờ sông để làm sạch sơ bộ nước ruộng và nước thải của làng; ở các khu vực hạ lưu đông dân, kế hoạch tập trung vào 'kiểm soát ô nhiễm và quản lý kỹ thuật sinh thái', xây dựng 1.500 mẫu Anh một vùng đất ngập (wetlands) nhân tạo trước khi sông chảy vào hồ. Các vùng đất ngập này được phủ dày với vật liệu lọc phốt pho, với các bức tường thực vật thủy sinh để làm lắng các chất ô nhiễm và làm sạch nước trước khi chảy vào hồ.

Đến tháng 6 năm 2011, sau 5 năm thực hiện, chất lượng nước tại cửa sông La Thập Giang chảy vào hồ đã được cải thiện đáng kể, chất lượng nước phù hợp để con người sử dụng, và cây hải thái hoa / Ottelia acuminata được trồng nhân tạo đã sống lại sau nhiều năm vắng bóng. Nhờ bước thành công này, trong giai đoạn Kế hoạch 5 năm tiếp theo (2011–2015), mô hình hiệu quả từ sông La Thập Giang đã được mở rộng sang các con sông khác chảy vào hồ Nhĩ Hải.

_ Từ các diện nguồn (area source): vùng canh tác, chăn nuôi, khu gia cư. Với cải cách kinh tế, cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp hóa chất đã dẫn đến gia tăng sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp ở Châu Đại Lý. Tuy có hiệu quả ngắn hạn gia tăng năng suất, nhưng đồng thời với hậu quả lâu dài là gây ô nhiễm nghiêm trọng chất lượng nước trong lưu vực. Nghiên cứu của Tiến sĩ Chen Xiaohua và các đồng sự từ Viện Khoa học Môi trường Thượng Hải phát hiện ra rằng từ năm 1988 đến năm 2013, khi sự phát triển kinh tế xã hội ở lưu vực Nhĩ Hải được cải thiện, thì chất lượng nước trong khu vực cũng đã xấu đi theo cùng tỷ lệ.

1/ Vùng trồng tỏi một củ: từ những năm 1990, nông dân ở vùng Đại Lý đã bắt đầu trồng loại tỏi một củ hay còn được gọi là tỏi đơn với hương vị thơm ngon rất được ưa chuộng. Đến năm 2010, diện tích trồng tỏi đơn ở Đại Lý đã lên tới 13.300 ha, với thu nhập cao hơn nhiều so với việc trồng ngũ cốc. Tuy nhiên, việc trồng tỏi đòi hỏi một lượng lớn nước và phân bón, chỉ một nửa trong số phân bón đó được tỏi hấp thụ và một nửa còn lại vẫn nằm trong đất. Vào mùa mưa, dòng chảy phân bón và thuốc trừ sâu đổ vào hồ Nhĩ Hải đã dẫn đến tình trạng dư thừa nghiêm trọng nitrogen và phốt pho trong hồ, dẫn đến tình trạng phú dưỡng và phát triển tảo xanh.

GIẢI PHÁP:
Các chuyên gia từ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc đã khuyến nghị cấm trồng tỏi trong phạm vi 200 mét tính từ bờ hồ Nhĩ Hải, hạn chế trồng loại cây này ở những khu vực cách bờ hồ từ 200 đến 2000 mét và khuyến khích cư dân trồng các loại cây khác sử dụng ít nước và phân bón hơn trên khắp lưu vực. Để kêu gọi nông dân ngừng trồng tỏi, không phải là điều dễ dàng nhưng rồi với quyết tâm và kiên nhẫn thuyết phục của chính quyền, người dân sống gần hồ Nhĩ Hải cũng đã ngừng trồng tỏi và được giúp đỡ chuyển sang trồng các loại cây trái như lựu, đào và quất và tham gia vào hoạt động du lịch.

2/ Vùng chăn nuôi gia súc: vốn là hoạt động có truyền thống lâu đời ở Châu Đại Lý do khí hậu và thổ ngơi thuận lợi của khu vực. Gia súc được chăn thả gần hồ, khiến phân bò trôi vào hồ và làm trầm trọng thêm tình trạng phú dưỡng. Chỉ riêng năm 2007, ước tính có 140.000 con bò sữa được nuôi ở lưu vực Nhĩ Hải, với tải trọng môi trường (environmental load) của mỗi con bò tương đương với 23 người. Nói cách khác, ngành chăn nuôi bò sữa vào thời điểm đó đã đóng góp một tải trọng môi trường tương đương với hơn ba triệu người sống trong lưu vực, trên thực tế đã nhân đôi dấu chân môi trường của dân số toàn bộ châu Đại Lý.

GIẢI PHÁP:
Để giải quyết tình trạng ô nhiễm do chăn nuôi bò sữa, sau nhiều năm điều tra và nghiên cứu thực địa, các chuyên gia từ Đại học Khoa học và Công nghệ Côn Minh đã đề xuất hai giải pháp chính: thứ nhất, hạn chế khoảng cách đàn bò sữa và ngăn không cho chúng gặm cỏ quá gần hồ; và thứ hai, thành lập các nhà máy phân bón tập trung để chế biến phân bò. Hợp tác với Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, các chuyên gia đã thiết kế một nhà máy thu gom phân bò để sản xuất phân bón hữu cơ, giúp doanh nhân địa phương xây dựng bốn nhà máy như vậy và thiết lập 25 trạm thu gom phân bò tại các ngôi làng xung quanh lưu vực Nhĩ Hải. Các nhà máy này đã thu gom hơn 1.300 tấn phân bò mỗi ngày và hơn 400.000 tấn phân bò, phân lợn và phân gia cầm mỗi năm. Châu Đại Lý được trợ cấp hàng năm hơn 10 triệu nhân dân tệ cho các nhà máy phân bón để mua phân bò từ nông dân. Loại phân hữu cơ này có hiệu quả là thân thiện với môi trường; chúng không chỉ được sử dụng để kiểm soát nồng độ phốt pho và nitrogen trong hơn hai triệu mẫu đất nông nghiệp ở Châu Đại Lý mà còn được bán trên toàn quốc và cả Đông Nam Á.

3/ Di cư kỹ thuật số và Du lịch: Châu Đại Lý đã có một thời kỳ thu hút giới trẻ từ các thành phố lớn tìm kiếm nơi thoát khỏi lối sống đô thị đầy khói bụi và tắc nghẽn giao thông. Nhiều người đã bán nhà ở thành phố và chuyển đến Đại Lý cùng gia đình để xây dựng nhà trọ sống cùng với cư dân địa phương dọc theo Hồ Nhĩ Hải. Trong lối sống “như cảnh thiên đường”, một số người trẻ trong ngành kỹ thuật cao – do họ có thể làm việc từ xa và được gọi là “người di cư kỹ thuật số / digital migrants”. Từ năm 2014 đến năm 2016, số lượng “người di cư mới” đến Nhĩ Hải từ các vùng khác của Trung Quốc đã tăng từ 30.000 lên gần 100.000, chiếm gần 10% cư dân quanh hồ. Cũng vào năm 2014, Châu Đại Lý đã đón 808.300 khách du lịch nước ngoài25,67 triệu khách du lịch trong nước. Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch tuy có làm tăng thu nhập của người dân địa phương nhưng các biện pháp bảo vệ môi trường lại tụt hậu. Các nhà trọ, chuỗi nhà hàng đã tạo ra một lượng nước thải sinh hoạt rất lớn. Lượng chất thải dân dụng và liên quan đến du lịch đổ vào hồ đã lên tới hơn 600 tấn mỗi ngày.

GIẢI PHÁP:
Chính quyền Châu Đại Lý đã yêu cầu 2.498 nhà hàng, nhà trọ và nhà dân xả nước thải sinh hoạt vào hồ Nhĩ Hải dừng hoạt động. Ban đầu, họ đã phản đối kịch liệt. Nhóm dự án đặc biệt của Nhĩ Hải, đã phải đích thân tiếp xúc với từng chủ nhà trọ và cùng đi với các phóng viên báo chí và truyền hình. Các giới chức đã phải đến các nhà hàng và nhà dân nhiều lần để giải thích cho họ về các mối đe dọa ô nhiễm mà hồ Nhĩ Hải đang phải đối mặt. Quá trình thuyết phục người dân địa phương và các chủ doanh nghiệp rất khó khăn, nhưng rồi cuối cùng, cũng đã đạt được sự đồng thuận với quan điểm rằng chỉ tập trung vào lợi ích kinh tế ngắn hạn cũng giống như 'giết chết con ngỗng đẻ trứng vàng', phá hủy tương lai của toàn bộ cộng đồng. Cuối cùng, tất cả các chủ nhà trọ và nhà dân ở quanh hồ Nhĩ Hải đã chấp nhận quyết định của chính phủ, tạm dừng hoạt động trong 18 tháng để tiến hành các biện pháp di dời và cải tạo. Năm 2018, đã có 1.806 gia đình (thuộc 23 ngôi làng) trong phạm vi 15 mét tính từ hồ bị phá dỡ với sự đồng ý của chủ sở hữu, các địa điểm đã được khôi phục thành không gian công cộng và 7.270 người đã chuyển đến các khu dân cư mới xây dựng và được chính phủ đền bù. Để ghi nhận những hy sinh của 1.806 hộ gia đình vì sự bảo vệ môi trường của Nhĩ Hải, khu dân cư mới được đặt tên là 'Thị trấn 1806'. Và cuối cùng, các nhà hàng, nhà trọ và các ngôi làng nằm ngoài ranh giới 15 mét cũng đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống thoát nước thải.

Ngoài ra các ngành công nghiệp không cần phát triển ở gần hồ Nhĩ Hải cũng đã được chuyển ra ngoài. Những thay đổi ở thành phố Đại Lý phù hợp với xu hướng rộng hơn trong cả nước nhằm giảm bớt áp lực cho các khu vực đô thị trung tâm.

 

• Tiếp theo là khoản đầu tư trị giá hàng tỷ nhân dân tệ để xây ba nhà máy xử lý nước thải, 4.660 km đường ống nước thải và 99.000 hệ thống tự hoại được nâng cấp đã được lắp đặt trên toàn lưu vực.

 

• Sinh viên từ các Đại học Nông nghiệp Trung Quốc đã thành lập “sân khoa học và công nghệ” tại các ngôi làng để giới thiệu các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường và giám sát ô nhiễm không phải nguồn điểm — giảm lượng nước chảy tràn khoảng 10%.

 

• Người dân địa phương và “nhóm bảo vệ hồ” cùng tham gia vào các hoạt động dọn dẹp, duy trì thảm thực vật ven bờ và trồng lại loài hải thái hoa (Ottelia acuminata) rất nhạy cảm— như một chỉ số sinh học quan trọng về chất lượng nước, với kết quả tích cực và lâu dài

 

Phục hồi toàn hệ sinh thái của hồ Nhĩ Hải ở Đại Lý, Vân Nam là những câu chuyện truyền cảm hứng trên toàn quốc:

 

_ Chính quyền giải tỏa và cải tạo cơ sở hạ tầng thành công

 

• Đến năm 2019–2020, chất lượng nước đã liên tục đạt tiêu chuẩn Loại II–III—tươi mát và phù hợp môi trường cho sinh vật sống dưới nước

• Quần thể chim muông quay trở lại mạnh mẽ và các loài thực vật nhạy cảm như hải thái hoa (Ottelia acuminata) nở hoa trở lại, báo hiệu sự phục hồi sinh thái.

 

• Du lịch phục hồi: Nhĩ Hải lấy lại biệt danh là "hồ mẹ" của khu vực, làn nước trong vắt của nó một lần nữa thu hút các cặp đôi, người yêu thiên nhiên và các loài chim di cư.

 

Kết quả tốt đẹp, hồ Nhĩ Hải đã chuyển đổi từ tình trạng dày đặc ô nhiễm với rong tảo xanh độc để trở lại một môi trường sôi động — tràn đầy sức sống, vẻ đẹp nên thơ và cân bằng sinh thái.

  

NTV -H4


Hình 4:
Cảnh quan ngày nay của hồ Nhĩ Hải, Vân Nam (2025), cho thấy cả một hệ sinh thái đang hồi sinh: độ trong của nước hồ đã được cải thiện đáng kể, phản ánh trạng thái khỏe mạnh của hồ. Đây chính là kết quả kỳ diệu và mẫu mực của nhiều năm nỗ lực làm sống lại một hồ nước đang chết dần. 

 

NHỮNG ỨNG DỤNG SAU HỒ NHĨ HẢI

Những thách thức về môi trường mà Châu Đại Lý phải đối mặt và những nỗ lực phục hồi của chính quyền từ trung ương tới địa phương  đã cung cấp một số bài học vượt ra ngoài khu vực. Ví dụ, trong quá trình phục hồi hồ Nhĩ Hải, Tập đoàn Môi trường Nước Trung Quốc đã phát triển 'hệ thống nhà máy công nghệ sinh thái khôi phục nước xây ngầm dưới mặt đất’ (the distributed subsurface water reclamation ecosystem technology system), là phương pháp quản lý dành cho các hồ lớn có diện tích trên 200 km2 chưa từng được sử dụng ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Theo Tiến sĩ Feng Hou, chủ tịch của Tập đoàn Môi trường Nước Trung Quốc, thì đây là một phương pháp tiếp cận mới mang tính đột phá, làm thay đổi mô hình quản lý nước đã tồn tại hàng bao thế kỷ trên toàn thế giới.

 

MỘT HUY CHƯƠNG BẠC TỪ IWA CHO HỒ NHĨ HẢI

Vào tháng 9 năm 2022, “Dự án Đổi mới Kiểm soát Ô nhiễm Lưu vực hồ Nhĩ Hải và Phát triển Khu vực” đã giành huy chương bạc ở hạng mục “Thực hiện và Triển khai Dự án Xuất sắc” tại Đại hội Triển lãm Nước Thế giới của Hiệp hội Nước Quốc tế (IWA/ International Water Association) tại Copenhagen, Đan Mạch. Hội đồng chuyên gia của IWA đã đánh giá dự án do Tập đoàn Môi trường Nước Trung Quốc, Đại học Giao thông Thượng Hải và chính quyền huyện Đại Lý cùng đệ trình: về các khía cạnh đổi mới, những thành tựu, thiết kế dự án và tiềm năng tác động rộng rãi hơn. Chủ tịch IWA Tom Mollenkopf tuyên bố rằng: “Việc quản lý toàn diện Hồ Nhĩ Hải, kết hợp cải thiện môi trường sinh thái nước với mô hình phát triển kinh tế xã hội của lưu vực, cung cấp những hiểu biết quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực môi trường nước toàn cầu”.

 

NHỮNG KỲ QUAN MÔI SINH CỦA TRUNG QUỐC

Sau thành công với hồ Nhĩ Hải, với chiến lược đa khía cạnh bao gồm: (1) kiểm soát nguồn nước thải, (2) xây dựng hệ thống xử lý nước thải, (3) phục hồi vùng đệm sinh thái và (4) tái định cư dân cư. Cho đến nay, ít nhất đã có 8 hồ nước ngọt lớn của Trung Quốc được phục hồi – với chất lượng nước từ xấu - cấp IV và rất xấu - cấp V, nay đạt được cấp I tới III - từ rất tốt tới tốt.  

1. Hồ Nhĩ Hải / Erhai / 洱海, Vân Nam: Là hồ đầu tiên của Trung Quốc được phục hồi toàn hệ sinh thái với chiến lược đa khía cạnh, và là mẫu mực cho tất cả cả các hồ nước ngọt khác sau này của Trung Quốc.

2. Hồ Điền Trì / Dianchi – 滇池, Vân Nam: Từng là một hồ được coi là ô nhiễm nhất Trung Quốc, phẩm chất nước dưới cấp V, cá chết hàng loạt do nước thải đô thị và chất thải từ các khu kỹ nghệ quanh hồ. Với xây dựng 29 nhà máy xử lý nước thải, dẫn nước và xây dựng vùng đất ngập nhân tạo, lấy nước từ sông Dương Tử hoàn nguyên toàn bộ dung tích hồ, cùng với các sáng kiến ​​tăng cường đa dạng sinh học. Chất lượng nước của hồ đã được cải thiện, với phục hồi thảm thực vật, với sự trở lại của các loài cá và chim, và ngành du lịch sinh thái đang hồi sinh.

3.  Dương Hồ & Động Đình Hồ / Poyang & Dongting Lake – 鄱阳湖 &– 洞庭湖, Giang Tây: Hồ Poyang và hồ Dongting là hai hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc, cả hai đều có liên kết với sông Dương Tử. Hồ Poyang, hồ lớn hơn, nằm ở tỉnh Giang Tây và hồ Dongting, nằm ở tỉnh Hồ Nam, cùng điều hòa lũ và nối kết với sông Dương Tử qua nhiều kênh. Cả hai hồ đều đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của sông Dương Tử và trong việc điều hòa lũ lụt trong khu vựcThực thi các chiến dịch cải thiện chất lượng nước, tăng giám sát, kiểm soát nguồn thải.

4. Thái Hồ / Taihu Lake – 太湖, Giang Tô: Một trong ba hồ lớn nhất ở Trung Quốc, đã bị ô nhiễm trầm trọng, tảo xanh năm 2007, nước dưới cấp V là mức thấp nhất. Với giải pháp: đóng cửa hàng ngàn nhà máy gây ô nhiễm, xây hệ thống đường ống  dẫn nước, gom tảo, kiểm soát nguồn nước thải, khôi phục vùng đệm nước ngập để giảm ô nhiễm. Đến năm 2024, phẩm chất nước đạt cấp III đủ tốt cho các sinh vật sống và phát triển.


5. Phủ Tiên Hồ / Fuxian Lake – 抚仙湖, Vân Nam: Hồ bị ô nhiễm nặng từ phân bón thuốc trừ sâu từ nông nghiệp và lượng rác phế thải từ khu dân cư và sự bùng phát du lịch. Với giải pháp: qua nạo vét bùn, lập khu sinh vật lọc và chuyển hướng dòng nước, hồ đã trả về chất lượng “cấp I” năm 2004.

 

6. Lô Cô Hồ / Lugu Lake – 泸沽湖, Tứ Xuyên: Bị ô nhiễm do du lịch bùng phát, các công trình xây dựng xâm lấn hồ, lượng nước thải không được xử lý. Giải pháp: từ 1992, xây hệ thống ống thu hồi nước thải, hạn chế sử dụng phân bón hóa chất, thuốc trừ sâu, cấm thuyền máy; các biện pháp đa khía cạnh này từng được đánh giá là mô hình "tiêu chuẩn".


7. Ô Luân Cổ Hồ / Ulungur Lake – 乌伦古湖, Tân Cương: Ở Tân Cương, từng bị ảnh hưởng từ nước sinh hoạt và kỹ nghệ thủy sản. Giải pháp: Từ 2005 đến 2018, xây dựng công viên đất ngập nước, xử lý nước thải, trồng lại khôi phục hệ sinh thái – hiện là công viên đất ngập quốc gia.

8. Bạch Dương Hà Thuỷ Khố / Urumqi's Baiyangdian (Baiho) Lake – 河水Tân Cương: Được phục hồi thành đầm sinh thái gần Urumqi giữa 2016–2019

Cho tới nay Trung Quốc đã giải quyết được ô nhiễm thành công, với quy mô lớn và độ sâu ô nhiễm cao, với áp dụng mô hình Khoa học Môi trường của hồ Nhĩ Hải. Chính sách đồng bộ – từ ngăn xả thải, xử lý nước thải đến bảo tồn vùng ven hồ – được ứng dụng nhân rộng ở nhiều khu vực khác trên cả nước.

BÍ QUYẾT VÀ GIẢI PHÁP:

 Việc Trung Quốc phục hồi thành công các hồ nước ngọt từng bị ô nhiễm nghiêm trọng là một phần trong “quốc sách” cải thiện môi trường và phát triển bền vững trong những năm gần đây. Một số bí quyết và giải pháp chính giúp Trung Quốc thành công trong việc “làm sống lại” các hồ nước ngọt bao gồm:

1. Kiểm soát nghiêm ngặt nguồn ô nhiễm. Đóng cửa hoặc di dời các nhà máy gây ô nhiễm: Chính phủ yêu cầu các khu công nghiệp ven hồ phải di dời, chuyển đổi công nghệ hoặc đóng cửa nếu không đạt tiêu chuẩn môi trường. Quản lý nước thải đô thị: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, yêu cầu tất cả nước thải phải được xử lý trước khi xả ra hồ.

2. Khôi phục hệ sinh thái tự nhiên. Tái tạo vùng đệm sinh thái ven hồ.Trồng cây thủy sinh (sen, súng, lau sậy), tạo vùng đệm lọc nước tự nhiên. Thả các loài cá lọc nước: Như cá trắm cỏ, cá mè trắng... để kiểm soát tảo và chất hữu cơ. Hạn chế việc nuôi trồng thủy sản theo hình thức công nghiệp, chuyển sang nuôi sinh thái thân thiện hơn.

3. Ứng dụng công nghệ mới: Công nghệ sinh học. Dùng vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ trong nước. Hệ thống giám sát thông minh: Lắp cảm biến và hệ thống AI giám sát chất lượng nước theo thời gian thực. Kỹ thuật "nạo vét sinh thái" (ecological dredging) là nạo vét bùn đáy ô nhiễm mà không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

4. Huy động nguồn lực và quyết tâm chính trị: Đầu tư mạnh mẽ của chính phủ trung ương và địa phương, với hàng tỷ USD cho các dự án phục hồi hồ. Áp dụng chính sách nghiêm minh: Cán bộ địa phương chịu trách nhiệm nếu chất lượng nước không đạt. Thực hiện theo kế hoạch dài hạn (thường là từ 5 – 10 năm hoặc lâu hơn), kết hợp giữa môi trường – phát triển đô thị – du lịch.

 

KẾT LUẬN VỚI BÀI HỌC RÚT RA TỪ HỒ NHĨ HẢI:

Phục hồi các hồ nước ngọt -- không chỉ là ứng dụng triệt để những kiến thức về Khoa Học Môi Trường, và cũng để thấy rằng không thể làm trong một thời gian ngắn – theo kiểu tư duy nhiệm kỳ – mà cần sự kiên trì có thể từ hơn 2,3 kế hoạch ngũ niên, với đầu tư đồng bộ và sự hợp tác giữa nhà nước – doanh nghiệp – người dân. Với một chiến lược rõ ràng, một nhà nước có tinh thần trách nhiệm với lòng yêu nước yêu dân và có quyết tâm chính trị cao, hoàn toàn có thể cứu sống và phục hồi các hồ nước ngọt khỏi tình trạng "chết dần".

 

 

NGÔ THẾ VINH

Erhai & Dianchi Lakes Visited September 2002

GWRS Visited 2017 & Revisited June 13, 2025

Long Beach July 4, 2025

 
_________

 

Tham Khảo:

1/ Tường Trình Từ Vân Nam_ Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Ngô Thế Vinh 09.2002

Nxb Văn Nghệ 2007

https://online.fliphtml5.com/msgrj/wcst/#p=1

 

2/ Reviving Erhai Lake: A Socialist Approach to Balancing Human and Ecological Development. Xiong Jie & Tings Chak 2024

https://thetricontinental.org/wenhua-zongheng-2024-2-reviving-erhai-lake/

 

3/ Yunnan's largest freshwater lake (Dianchi Lake) comes back to life. Zheng Jinran, Peng Chao & Dang He. China Daily 24.08.2024

https://global.chinadaily.com.cn/a/202408/31/WS66d2f89ea3108f29c1fc96a6.html 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1387)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1235)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1198)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1698)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2221)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1941)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2108)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2092)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1313)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2201)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7622)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14693)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13512)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14057)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1697)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1939)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2107)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2092)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1235)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2221)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1560)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2046)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1387)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2187)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2777)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4371)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1196)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1312)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1783)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2345)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10196)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26691)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33294)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33310)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7998)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10375)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1697)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3333)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3293)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3162)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3508)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4955)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4506)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5845)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.