- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHUYỆN 30 THÁNG 4: MỘT MẢNH ĐỜI TỴ NẠN

16 Tháng Tư 20255:33 CH(Xem: 13846)

BIỂN ĐÔNG - photo by Nguyen Ngoc Tien
Biển Đông - Ảnh Nguyễn Ngọc Tiến






CHUYỆN 30 THÁNG 4: MỘT  MẢNH ĐỜI TỴ NẠN

 Minh Đạo  Nguyễn Thạch Hãn

 

1.Chuyện 30 Tháng Tư


Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ Binh. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.


Ngày 29 tháng 4, tôi nhờ chú em con bà cô chở ra bến Bạch Đằng, Saigon xem tình hình và thấy rất nhiều tàu kể cả chiếc Việt Nam Thương Tín, Trường Xuân, Tàu Hải Quân, trong số này có một số tàu đánh cá của một công ty Đức, to rộng rãi và bằng sắt đàng hoàng. Trở về nhà, tôi hối Ba đi trước với chú em. Hai chú cháu lọt được vào căn cứ Hải Quân và đi theo họ. Riêng tôi còn lần khân ở lại, hy vọng đến phút chót có thể gặp lại được Quỳnh Hoa, người yêu đầu đời của mình, nhưng phép lạ không xẩy ra.


Sáng ngày 30 tháng Tư, tôi trở lại bến Bạch Đằng, Chiếc tàu Trường Xuân vẫn còn đó, đầy nhóc người lên xuống tấp nập. Từ giữa sông chiếc VN Thương Tín bắt đầu di chuyển về phía kho 5. Tôi đạp xe lần theo, nhưng không vào được cổng. Lính gác cổng không cho vào, phải chi tiền, mà tôi thì chỉ còn hai tờ Đức Thánh Trần thôi. Người ta đang phá các kho thực phẩm để khuân vác về nhà. Tôi ghé quán chú Ba ăn no bụng và mua một mớ mì gói mang theo rồi đi ngược về phía Saigon. Dân Saigon ào vào mấy chung cư Mỹ khuân ra nào TV tủ lạnh, giường nệm. Ngang qua tòa Đại sứ Mỹ, còn vài người lảng vảng ở đó, cửa đóng, bên trong im lìm. Tôi lại trở ra bến Bạch Đằng, nhảy qua mấy chiếc tàu đánh cá của Đức, leo lên chiếc đậu ngoài cùng.


Chừng nửa giờ sau, một đám quân nhân súng ống đàng hoàng từ trên 2 xe jeep nhảy xuống, hộ tống một ông mặc đồ vest mang theo chiếc samsonite căng phồng. Họ nhảy xuống mấy chiếc tàu đánh cá, rồi thử nổ máy từng chiếc. Cuối cùng nhảy lên tàu tôi đang đứng, Lính tráng dàn hàng ngang bên thành tàu, súng chĩa vào bờ, không cho ai lên nữa. Khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chiếc VN Thương Tín bò ra giữa sông hướng về Vũng Tàu. Thuyền của tôi theo sau một quãng. Tàu Việt Nam Thương Tín đi được một đỗi thì bên kia Thủ Thiêm các đồng chí tương cho 3 quả đạn. Tôi thực sự chẳng biết là đạn gì, có thể là đạn súng cối.  Con tàu Việt Nam Thương Tín bèn quay đầu lại 180 độ đi ngược lại một chút, rồi lại quay đầu một lần nữa 180 độ đi thẳng về hướng Vũng Tàu.


Khi tàu chúng tôi đến tầm súng của các “đồng chí”, mấy Xếp lớn rút vào phòng lái, còn các người khác nằm rạp trên sàn tàu phó mặc cho định mệnh. Tôi và một ông Thiếu Tá cảnh sát, nằm bên cạnh cửa phòng lái hướng về Saigon. Nín thở qua sông! Ông già cảnh sát đang lâm râm cầu nguyện, còn tôi cũng xin Đức Thánh Trần phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Đúng lúc ấy thì nghe một tiếng “bụp” từ phía bên kia Thủ Thiêm dội qua, sèo sèo qua đầu rồi nổ ầm một cái dưới nước, hơi dài! Một phút sau lại một tiếng nổ nữa dưới nước, hơi ngắn! Tôi nghĩ bụng:

 

”Các đồng chí ấy đang điều chỉnh đây, một quả dài, một quả ngắn, quả thứ ba thế nào cũng trúng. Ác thật, ai mà nhẫn tâm bắn vào kẻ đã buông súng đầu hàng!”

 

Một tiếng ầm vang lên, cánh cửa phòng lái bung ra, lỗ tai tôi lùng bùng, đầu kêu o o như có con ve sầu đang ca hát trong đó. Tôi nhủ thầm, đạn trúng phòng lái rồi. Con tàu vẫn chầm chậm trôi đi như không có chuyện gì xảy ra. Có ai đó đóng cửa phòng lái lại. Tôi đoán chắc có người bị thương nhưng tuyệt nhiên không nghe tiếng la khóc gì cả. Một đỗi sau, dìu ông già đứng dậy. Ông ta chỉ bị thương nhẹ trên môi, còn cẳng chân tôi máu chảy ra xối xả. Tôi vội xé chiếc áo thun đang mặc và cột chặt phía trên chỗ bị thương. Một lúc sau vết thương ngừng chảy máu, coi lại, thấy chỉ bị một mảnh nhỏ ghim vào chân. Ông Thiếu Tá Cảnh Sát, sau này theo con tàu Việt Nam Thương Tín về lại Saigon với một đám sỹ quan cảnh sát khác người miền Trung, dù tôi đã can ngăn  hết lời. Đời ông chắc là thê thảm lắm, khi hoang tưởng rằng phía “người anh em” bên kia sẽ dung thứ cho ông!

 

“Họ cũng là người Việt như mình cả mà”, ông nói với tôi như vậy, bây giờ chắc ông đã hiểu họ là người gì rồi!

Chiếc tàu đánh cá chạy cà rịch cà tang sang Singapore. Mỗi ngày được ăn một lần. Nhà bếp nấu một nồi cơm nhỏ, phát cho mỗi người một muỗng cơm. Cứ chìa tay ra, họ đổ muỗng cơm vào bàn tay, mình hất vào miệng thế là xong.

Đến Singapore, có cả ngàn chiếc tàu lớn nhỏ đậu trong vịnh, nhưng không ai được lên bờ. Họ cho thực phẩm, nước, và xăng dầu rồi đuổi cả đám qua Subic Bay bên Phi Luật Tân. Chúng tôi được dồn vào trại nghỉ mát của quân đội Mỹ, ngủ trong mấy phòng mát mẻ có máy điều hòa không khí, ngày ngày đi lãnh đồ ăn và tắm hồ bơi. Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà hưởng những tiện nghi của họ. Nỗi cô đơn và buồn tủi luôn đeo đẳng, nước mất nhà tan, tương lai vô định, còn gì nữa để vui chơi.

 

Ở Subic Bay đâu được một tháng, chúng tôi được chuyển từ từ qua đảo Guam. Tôi gặp lại Ba tôi và chú em ở đó, rồi cùng nhau qua Mỹ.



2. Một mảnh đời tị nạn


Định cư ở Mỹ, tôi làm lại cuộc đời từ con số không. Làm đủ thứ nghề lao động.

Những ngày đầu định cư ở Oklahoma lạnh giá, mỗi sáng hai cha con đạp xe đi làm trong trại ương cây. Chiếc xe tải mui trần chở một đám nhân công ra cánh đồng để đào cây, bó chặt gốc bằng bao bố rồi quăng lên xe tải. Cánh đồng mùa đông đầy tuyết, cứng như đá, những nhát cuốc bổ xuống dội lên tê rần cánh tay. Chỉ đào mươi phút, thân thể nóng ran phải cởi bỏ lớp áo lạnh dầy cộm. Một ngày chỉ đào được 3 cây là cùng, trong khi đó mấy ông Mễ cùng toán đào được it nhất 10 cây. Tuy vậy đào cây cũng không cực nhọc bằng khiêng một đống cây mới đào quăng lên xe tải. Những gốc cây đầy đất và rễ, nhiều khi còn nặng hơn cả thân mình, làm sao khiêng nổi?  Mùa đông ở Oklahoma lạnh đến nỗi nước hồ đóng thành băng thường xuyên. Những lúc buồn nhớ nhà, tôi ra ngồi bên bờ hồ, nhìn đàn vịt trượt tuyết trên mặt hồ làm vui, nước mắt lại ứa ra, nghĩ thân phận mình không bằng những con vịt đang vui chơi hồn nhiên ngoài kia.

 

Làm cho hãng trồng cây được vài tháng, có người bạn giới thiệu làm lau chùi quét dọn trong nhà thương. Tôi nhận ngay, ít ra cũng được làm trong nhà ấm cúng. Tuần đầu Xếp giao đánh bóng sàn nhà cả một tầng lầu. Qua tuần thứ hai Xếp giao thêm một tầng nữa, tuần thứ ba giao thêm một tầng nữa, như vậy cả thảy là 3 tầng phải làm xong trong một đêm.

Một ngày nọ đi chợ, có anh chàng cao bồi da trắng cao nhòng, đứng cạnh hỏi:

- Hi young man, are you Vietnamese?
- Đúng rồi, tỵ nạn mới tới đây!
- Tôi tên Joe, hân hạnh được biết anh.
- Tôi tên Lập.
- Láp, Láp hả. Tôi phát âm như vậy có đúng không?
- Không đúng lắm, nhưng cũng tạm được.

Từ đó tôi đươc gọi là Láp, giống như “bá láp” vậy.

Chàng cao bồi nói huyên thiên như vớ được một người thân vắng mặt lâu ngày. Tiếng Mỹ ăn đong của tôi cũng lõm bõm hiểu rằng, chàng là đầu bếp trong một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ở Chu Lai. Về lại cố hương, mở tiệm ăn nho nhỏ, hỏi tôi có muốn làm cho chàng ta không. Công việc là phụ nấu bếp và rửa chén. Dĩ nhiên tôi nhận lời ngay, nếu tiếp tục làm nhà thương chắc có ngày Xếp sẽ giao đánh bóng cả 20 tầng lầu.


Anh chàng “Cao Bồi” cũng tử tế, mướn giúp một căn nhà nhỏ, tặng cho một tủ lạnh cũ. Chàng ta bán lại cho tôi chiếc xe hơi to cồng kềnh với giá 100 đô, trả góp 10 đô một tháng. Xăng lúc bấy giờ chỉ 32 xu một galon (4 lít). Thuốc lá vài đô la mỹ một cây 10 gói, hút chết bỏ. Từ đó tôi cai thuốc lá luôn sợ ghiền thuốc chắc phải bán phổi cho mấy bà nấu cháo lòng. Đi chợ chỉ 20 đô 2 người ăn 1 tuần rộng rãi.

Tiệm ăn nhỏ, Joe và tôi làm trong bếp. Bà xã tên Nancy và cô con gái tên Kim làm tiếp viên. Kim còn rất trẻ, mới vào đại học.

Buổi trưa, khách chỉ lai rai, nhưng buổi tối và cuối tuần rất bận rộn. Chẳng bao lâu, Joe mướn thêm người phụ bếp. Tôi được làm tiếp viên và dọn bàn. Joe muốn tôi có cơ hội học thêm anh văn và có thêm tiền “tip”. Lúc rảnh rỗi, hai chúng tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm lúc còn ở Việt Nam. Kim cũng lắng nghe và góp ý kiến hoặc đặt câu hỏi với tôi, Kim còn trẻ nên không hiểu mấy về cuộc chiến VN như hầu hết sinh viên phản chiến lúc bấy giờ. Nàng cho rằng, tại sao người Mỹ lại phải đổ biết bao tiền bạc và xương máu ở một xứ sở xa lắc xa lơ chẳng ăn nhập gì với đất nước này. Người Mỹ lúc này chỉ muốn quên đi chiến tranh VN. Những chàng chiến binh trở về từ chiến trường VN không được đối đãi nồng hậu như thời Đệ nhất, Đệ nhị thế chiến. Họ luôn mang mặc cảm, thứ mặc cảm mà giới truyền thông Mỹ đã “brainwash” (tẩy não) dân chúng thời đó điển hình là nữ tài tử điện ảnh Jane Fonda đã sang tận Hà Nội để ca tụng người Cộng Sản chiến đấu anh dũng.


Tôi sắp xếp với Joe để chỉ làm việc từ 4 giờ chiều tới 12 giờ đêm, công việc vẫn vậy, tiếp viên, phụ bếp, dọn bàn, lau chùi quét dọn trước khi đóng cửa. Thật vất vả cực nhọc, nhưng tôi có cả ngày để đi học. Kim giúp đỡ tôi rất nhiều trong những ngày đầu còn bỡ ngỡ, ghi danh chọn môn học, xin tiền học bổng và trợ cấp của chính phủ, lựa chọn thời khóa biểu, và nhiều thứ linh tinh khác.

Tôi không có bằng trung hoc của Mỹ nên phải thi bằng tương đương. Cũng chẳng khó khăn gì chỉ là trình độ trung học đệ nhất cấp của VN. Lúc đó ngành điện toán mới bắt đầu phát triển vả lại học điện toán chẳng đòi hỏi nhiều chữ nghĩa như các ngành khác. Tôi có thể bắt kịp dễ dàng.

Ngày đầu đi học, tôi vừa vui mừng vừa e dè như cậu bé nép vào áo mẹ đến trường mà Thanh Tịnh đã tả trong bài “Hôm nay tôi đi học”. Tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:

“Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”


Ngày xưa, trong thời chiến tranh tôi vẫn ước mơ như trong bài hát “Qua Cơn Mê” của Nhật Ngân:

“Một mai qua cơn mê, qua cuộc đời bềnh bồng, anh lại về bên em …Cùng theo lũ em học hành như xưa”.

Tôi đã qua cơn mê chưa nhỉ? Không theo lũ em học hành như xưa bên quê nhà  nhưng là đi một mình, trên mảnh đất tạm dung, xa lạ. Tôi đã già đi rất nhiều vì chiến tranh. Năm 1976, 31 tuổi đầu 7 năm tuổi lính. Không một mảnh bằng, không nghề ngỗng, chữ nghĩa ăn đong. Tôi đi làm lại cuộc đời đánh mất!

Kim giúp tôi làm luận văn, đọc Hamlet của Shakespeare: “To be, or not to be, that is the question”. Tôi chỉ nàng giải toán, sửa program, môn toán “Math for Engineer” làm cho nàng nhức đầu còn với tôi chỉ là dĩa cơm tấm sườn bì tàu hũ ky!


Thời đó chưa có PC. Tất cả program phải dùng key punch (đục lỗ trên tấm thẻ) rồi nạp cho computer operator đọc vào máy. Một program ngắn cũng cần một số thẻ dầy cỡ một gang tay. Một lần, Kim cầm sấp “thẻ” program của nàng để nạp cho operator chẳng may ai đó đụng vào cánh tay, cả xấp thẻ rớt xuống đất. Phải mất rất lâu để gom lại và xếp theo thứ tự. Giờ thi và nạp bài cuối khóa đã gần đến, nàng ngồi bệt xuống đất thu lượm thẻ mà nươc mắt chạy quanh. Tôi đi ngang, hối nàng vào phòng thi, để xấp program đó tôi lo cho. Thi cuối khóa nàng được điểm “A”, tôi được nàng tặng cho một nụ hôn nồng cháy nhớ đời!


Thường thì viết program rồi cho vào máy computer chạy thử, nếu sai, sửa lại, chạy lại. Cứ như thế cho đến khi hết lỗi, rồi kiểm soát lại kết quả mà program đưa ra xem có đúng như đòi hỏi không? Kim rất thông minh, những bài program khó đến đâu, chỉ nói sơ qua là nàng hiểu ngay. Chạy program hai, ba lần là sạch lỗi. Tôi cố gắng học tất cả các khóa hè, cho nên cũng bắt kịp Kim. Chúng tôi ra trường cùng một lượt. Ngày ra trường, Joe và Nancy được chúng tôi mời đi dự, có cả Ông Bà nội của Kim nữa, hai ông bà là chủ một nông trại gần Kansas City. Joe giới thiệu tôi là người VN, một cựu chiến binh. Hai ông bà rất ngạc nhiên, chưa từng thấy người VN bao giờ, chỉ nghe nói trên TV. Ông cũng từng là cựu chiến binh thời đệ nhị thế chiến, và rất hãnh diện. Ông Bob (ba của Joe) tiết lộ rằng ở tỉnh nhỏ, đám thanh niên chỉ học cho lấy lệ, phần lớn giúp cha mẹ trông lo nông trại, lớn lên nhập ngũ để thỏa mãn chí giang hồ vì cả đời không có dịp đi xa hơn tỉnh nhỏ của mình!

Joe cám ơn tôi đã giúp Kim học hành, còn tôi cám ơn ông đã cho tôi cơ hội. Nancy rất cảm động nói với tôi:  “Kim là người duy nhất trong gia đình tốt nghiệp Đại Học”.

Chúng tôi may mắn, kiếm được việc ngay sau khi tốt nghiệp trong một hãng lớn đang có hợp đồng với Trung Tâm Không Gian tại Houston. Tôi tiếp tục học thêm vào buổi tối, chẳng bao lâu lấy thêm bằng cao học. Một lần nữa tôi mời Nancy, Joe và Kim đi dự lễ ra trường của tôi. Joe đã đóng cửa tiệm ăn mấy ngày và bay qua Houston. Tôi cảm ơn Joe và nước Mỹ đã cưu mang tôi và cho tôi cơ hội như ngày hôm nay. Ông ôm lấy tôi và nói trong nghẹn ngào:

- Tôi thành thực xin lỗi những người tỵ nạn VN, chúng tôi đã bỏ rơi chiến hữu VN nhưng các bạn không hề oán hận. Tôi giúp cho Láp có giờ đi học chẳng qua là muốn bạn đạt được những ước vọng mà tôi hằng mong muốn.

Tôi cũng đáp lại bằng lời cám ơn vụng về:

- Cám ơn Joe, tôi chỉ cố gắng hết mình và Trời cũng giúp tôi nữa.

Joe an ủi tôi bằng những lời rất chân tình:

- Những người chiến binh như tôi, khi nhập ngũ, ai cũng hy vọng đăng lính vài năm rồi giải ngũ, quân đội sẽ giúp học bổng để tiếp tục đại học. Nhưng thực tế số thành tựu không nhiều. Từ chiến trường VN trở về chúng tôi với thân xác mệt mỏi, nghiện ngập, chán nản không mấy ai nghĩ đến chuyện cắp sách đến trường nữa.


Tôi và Kim yêu nhau, lấy nhau. Joe trở nên cha vợ của tôi. Ở với nhau một thời gian, những di biệt về văn hóa, tuổi tác, nếp sống càng ngày càng lớn. Nàng luôn luôn tranh cãi với ba tôi. Những buổi họp mặt bạn bè hay gia đình của tôi, mới đầu nàng cũng tham gia nhưng dần dà càng thưa thớt hơn. Nàng không thể thưởng thức được món ăn VN. Chúng tôi chẳng có con cái nên việc phải đến đã đến: ly dị.


3. Họp bạn Thanksgiving 1990.


Buổi tiệc họp mặt thân hữu cựu sinh viên trường Đại Học CTKD được tổ chức trong phòng Ball Room của Hilton Hotel trên lầu ba. Khách sạn gồm 22 tầng lầu sát bên hồ Clear Lake, ngoại ô thành phố Houston.

Clear Lake cũng là tên của thành phố nhỏ rất thơ mộng này. Khách đến đã đông, nhưng còn hơn một giờ nữa mới khai mạc. Bạn hữu lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng, hỏi thăm nhau kẻ mất nguời còn, ai đã vượt biên, ai còn kẹt lại, tiếng cười ròn rã, xen lẫn tiếng gọi nhau ơi ới. Ai đó khoe làm ăn phát tài, kẻ khoe mới bắt được job thơm, người khoe con cái đỗ đạt thanh tài, ôi thôi đủ thứ chuyện trời ơi đất hỡi.


Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn mông ra ngoài. Mặt hồ phẳng lặng, vài chiếc du thuyền với những cánh buồm đủ màu sắc còn lưu luyến một ngày sắp tàn. Bên kia bờ hồ, xe cộ nối đuôi nhau trên chiếc cầu cao lêu nghêu in mình trên nền trời, đèn xe sáng chói đan vào nhau dài bất tận trông như một con trăn khổng lồ màu bạc. Đó là chiếc cầu bắc ngang qua Water Way nối liền Hồ Clear Lake và Gaveston Bay, đủ cao cho du thuyền qua lại.

Khu giải trí Kemah bên bờ vịnh với hàng chục nhà hàng sang trọng, đã lên đèn sáng chưng. Chiếc đèn hải đăng bên phải hồ, gần mấy biệt thự lợp ngói đỏ, thỉnh thoảng lại quét một vạch sáng trên nền trời như muốn nhắc nhở ai đó, trên mấy chiếc du thuyền, hãy mau mau cập bến. Ngoài xa tít kia là vịnh Gaveston, một vài tầu chở dầu đang nối đuôi nhau đi vào Ship Chanel của hải cảng Houston. Những chiếc tàu dài gấp hai ba lần sân đá banh, và cao hơn một cao ốc 20 tầng, nổi lềnh bềnh trên mặt nước, từ xa trông chẳng khác gì mấy chiếc thuyền ba lá bên quê nhà. Vài đàn ngỗng trời bay về phương nam trốn lạnh, từng hàng cánh trắng lấp lánh, phản chiếu chút ánh nắng yếu ớt còn sót lại. Trời vào thu đã lâu, gần tới ngày lễ Thanksgiving rồi. Tôi cảm thấy se lạnh và cô đơn giữa đám đông người.


Có ai đó đập khẽ trên vai tôi:

-Anh Lập ơi, có ai hỏi thăm anh nè, gớm tìm anh mãi mới ra, sao lại đứng đây một mình vậy. Chắc đang mơ mộng người đẹp nào phải không?
Tôi quay lại, đó là Đạt, người bạn học cùng lớp khi còn ở Đại Học, chúng tôi đã từng gặp nhau trong những lần họp mặt trước đây nên nhận ra anh ngay.

Tôi giật mình, nhìn người đàn bà trung niên, đứng bên cạnh hỏi:

-Có phải Quỳnh-Hoa đây không? Ôi! Thật là bất ngờ. Anh tìm em khắp chân trời góc biển không ra. Ngọn gió nào thổi em tới đây?

Quỳnh Hoa là người yêu đầu đời của tôi, lúc còn lang thang trên vùng cao nguyên. Nàng bối rối trả lời:

-Ngọn gió Bấc đấy, bởi em ở gần Bắc Cực, anh có biết không?

Nàng chỉ nói được có bấy nhiêu rồi nước mắt vòng quanh. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Đạt đã kiếm cớ lỉnh đi. Quỳnh-Hoa nói trong tiếng nghẹn ngào:

-Em đã chịu bao nhiêu đắng cay cực khổ để chờ đợi anh trên xó rừng cao nguyên đó, nhưng anh chẳng bao giờ trở lại. Em đã tưởng anh chết mất xác đâu đó rồi. Không ngờ Trời Phật run rủi lại gặp anh ở đây.

Tôi cứ để nàng khóc và kể lể như vậy một lúc lâu cho vơi đi bao nhiêu uất ức, sầu hận. Một vài người tò mò đi ngang nhìn chúng tôi rồi bỏ đi. Cũng may, phòng hội rộng thênh thang, chỗ tôi đứng ở cuối phòng xa hẳn đám đông nên ít người để ý. Hôm nay chắc cũng nhiều người, gặp nhau lần đầu, phải đổ nhiều nước mắt. Tôi cuống quit dỗ dành nàng:

-Anh xin lỗi em, lúc mất Quảng Trị, đơn vị anh từ vùng giới tuyến rút về Saigon, anh đã tìm em ở tất cả những nơi có người tị nạn từ miền trung hay cao nguyên chạy về, có lần ra tận Tuy Hòa nữa nhưng chẳng biết nhà mẹ em ở đâu. Anh chỉ sợ em lạc loài đâu đó trong đám người rút theo tỉnh lộ số bảy từ cao nguyên về Tuy Hòa.

Nàng hờn dỗi;
-Anh chỉ mong em chết đi phải không?

Tôi biết nàng bao giờ cũng yêu tôi hết lòng và hiểu rõ lòng tôi cũng vậy, đó chỉ là lời trách móc nhẹ nhàng mà thôi.


Nhạc trổi lên, ban tổ chức yêu cầu mọi người vào chỗ ngồi để buổi tiệc được bắt đầu đúng giờ. Nàng chẳng quen ai ngoại trừ vợ chồng Đạt nên tôi quyết định nhập chung với đám Đạt cho vui, toàn là bạn cùng khóa thời sinh viên. Ban tổ chức không xếp chỗ, ai ngồi đâu cũng được miễn là đủ 10 người một bàn. Tôi giới thiệu nàng với mọi người cùng bàn:

-Thưa các anh các chị, đây là Quỳnh-Hoa, người bạn rất thân, quen nhau từ thời tôi còn trong quân đội, chúng tôi đã suýt lấy nhau, nếu không có vụ tan hàng hồi 30 Tháng Tư.

Có nhiều tiếng lao xao chọc ghẹo nàng:

-Tên đẹp như người, anh Lập thật là có mắt.

- May quá không có vụ “30 Tháng Tư”, anh Lập không bị đi tù cải tạo cũng bị tù chung thân.

- Ê, có bao nhiêu người biết bị tù chung thân mà vẫn chui vào đó thôi.

- Chắc chúng mình sắp được uống rượu nữa rồi.

Nàng cười bẽn lẽn, hai má đỏ hồng, lúm đồng tiền vẫn còn đó, bây giờ đã là thiếu phụ trung niên, vẻ ngây thơ hồn nhiên không còn nữa, có mập ra một chút, hai bên khóe mắt đã xuất hiện “dấu chân chim” nhưng thân hình vẫn cân đối trong chiếc áo dài màu tím. Nước da trắng bóc, có lẽ ít khi ra nắng.

Chương trình văn nghệ bắt đầu với giọng ca quyến rũ của Nguyên Khang, bài “Tinh Tự Mùa Xuân” của nhạc sĩ họ Từ:

“Em, lại đây với anh, ngồi đây với anh, trong cuộc đời này”
“Nghe, thời gian lướt qua, mùa xuân khẽ sang”
“Chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng”
….

Tiếng hát vẫn vang vang, nhưng tôi không còn nghe được lời nào, lỗ tai lùng bùng, đoạn phim dĩ vãng lại trở về trong đầu tôi.

Ngày ấy, xa lắm rồi. Quỳnh Hoa tuổi đôi mươi, là cô giáo dạy ở trường tiểu học Phú Nhơn, quận Cheo Reo. Tôi mới đến vùng này, là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập.

Chúng tôi quen nhau và yêu nhau tự nhiên như cây mọc trên núi rừng. Hai năm sau tôi phải đổi ra Quảng Trị. Thỉnh thoảng tôi bay về Pleiku trong những ngày phép ngắn ngủi để thăm nàng.

Nhưng rồi, cuộc triệt thoái cao nguyên quá đột ngột, rồi nước mất nhà tan! Trôi dạt qua tới Mỹ, tôi chẳng hy vọng có ngày gặp lại nàng.
Tiếng vỗ tay vang rần lẫn trong tiếng huýt sáo inh ỏi kéo tôi về thực tại. Nhìn sang Quỳnh-Hoa, mắt nàng cũng đỏ hoe. Nàng lí nhí mấy câu xin lỗi rồi rời khỏi bàn đi về phía cửa. Tôi vội vàng đuổi theo nàng. Chúng tôi ra phía sân sau khách sạn, vượt qua mấy bậc thềm và hướng về phía cầu đá bên hồ. Cầu đá thực sự là những tảng đá lớn xếp bên nhau thành một con đường ngắn, nhô ra khỏi hồ để người ta câu cá.

Chúng tôi ngồi trên một tảng đá bằng phẳng bên nhau như ngày nào ngồi trên chiếc cầu “Biên Giới” trong xó rừng cao nguyên. Cứ ngồi như thế một lúc lâu, im lặng, nhìn mông lung ra ngoài hồ, xa tận những ánh đèn bên khu giải trí Kemah, tận ngoài vịnh Gaveston, xa mãi ngoài biển Đông, về tận Saigon và lên đến xó rừng cao nguyên.

Tôi cởi áo vest ra đưa cho nàng:

-Em mặc thêm áo vào kẻo lạnh.
-Em không lạnh, ở xứ lạnh quen rồi anh ạ.
Nàng từ chối, nhưng vẫn đưa tay cho tôi khoác áo vào.

-Em sang đây lâu chưa?
-Mới hôm qua, cùng với anh chị Đạt, chúng em đặt phòng ngay trong khách sạn này.
-Em định cư ở đâu?
-Na Uy anh ạ. Xứ ấy lạnh lẽo quanh năm, nhưng tình người rất ấm. Họ giúp đỡ người tị nạn tận tình. Lúc mới qua, được cấp cho nhà ở, bảo hiểm sức khỏe đầy đủ, tiền ăn học và tìm việc cho mình. Dân số rất ít nhưng đời sông đầy đủ tiện nghi chẳng khác gì Mỹ, nhưng lạnh quanh năm. Qua Houston thấy trời ấm áp em thích lắm.

-Làm sao em trôi dạt qua tận Na Uy lận?
-Lúc quân đội rút khỏi cao nguyên, em ở mãi xó rừng chẳng có phương tiện gì di chuyển cả, một lũ học trò bám theo em, không thể nào dẫn các em theo được, nếu đi bằng đường bộ.
-Nên em quyết định ở lại?
-Dạ, sau này em mới biết, đó là cái may của em. Bao nhiêu người đã chết trên đường số 7 từ Phú Bổn về Tuy Hòa, con đường đó nguy hiểm quá.
-Đúng vậy, lúc còn ở trên cao nguyên, có lần anh đóng quân ở quận Phú Túc, đó là một quận nhỏ nằm giữa đường số 7. Con đường thì nhỏ, nhiều ổ gà, cầu cống hư hỏng nhiều, hai bên là rừng, rất dễ bị phục kích.

- Những ngày tháng ấy, em đợi anh đến tuyệt vọng. Em nhớ lới anh thề nguyện hai đứa sẽ thành hôn. Nào ngờ...
-Anh cũng muốn trở lại lắm chứ, nhưng anh chẳng làm chủ được định mệnh của mình. Anh như cánh lục bình trên dòng sông, nước đưa đến đâu thì trôi đến đó. Em có nhớ dòng sông của hai đứa?
- Chiều nào em cũng ra ngồi trên “Cây Cầu Biên Giới” của chúng mình, nhìn qua bên kia bờ sông, sờ tay trên hai câu thơ anh khắc trên đó...
- Khoan kể, khoan nhắc. Để anh đọc thêm hai câu tiếp theo: “Chiều về chiều vẫn một mình, Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ...”
Quỳnh Hoa kêu:
- Anh... Anh có về tìm em thật à.
- Sao không thật! Ngay khi có thể bay về Việt Nam, anh đã đến Phú Nhơn tìm em...

Tôi kể cho Quỳnh Hoa nghe chuyến trở về của mình. Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi ở quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa quỳnh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Quỳnh Hoa ngậm ngùi:
-Tiếc nhỉ, lúc đó em đã bỏ đi lâu rồi, mấy thằng cán bộ cứ theo chọc em, rồi hăm dọa em, em nói em đã có chồng rồi, giống như chị Lan, chị Mai, chị Tú đều bị gọi là vợ ngụy quân cả, em cũng nhập chung với các chị ấy. Có vài chị độc thân không chịu nổi áp lực, đành phải lấy cán bộ. Còn em, có lúc muốn đâm đầu xuống sông chết cho rồi. Nhưng lại nghĩ tới anh nên ráng chịu đựng. Trong lòng em lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện vươt biên thôi. Ngày nọ em xin nghỉ phép để về thăm nhà, rồi cùng Mẹ và hai đứa em trốn ra Vũng Tàu, ở tá túc nhà ông chú. Gia đình chú tổ chức vượt biên, em gom được ba cây rưỡi vàng giao cho chú. Số vàng này em để giành từ trước năm 75 định sẽ chi tiêu vào dịp đám cưới của chúng ta.

-Tội nghiệp em, rồi sao nữa.
-Thuyền ra khỏi hải phận vài giờ thì hư máy, bao nhiêu tàu buôn đi ngang qua nhưng chẳng ai ngó ngàng tới. Cho đến một ngày, một chiếc thuyền buôn của Na Uy chịu cứu vớt và chở thẳng vào Mã Lai, sau đó Na Uy đã bảo lãnh tất cả số người trên tàu. Lúc đó em thật bơ vơ, một mình phải lo cho mẹ và hai đứa em nhỏ, chẳng biết trông cậy vào ai. Em lại nghĩ đến anh, vừa buồn vừa tủi thân. Chính phủ Na Uy giúp cho chỗ ăn ở và giúp cho mấy chị em đi học, mẹthì được một việc làm trong siêu thị. Đời sống chật vật lúc khởi đầu nhưng cũng tạm ổn định.

-Em học về ngành gì vậy?
-Em học kế toán, lúc đầu cũng thật khó khăn, nhưng nhờ các giáo sư thông cảm và tận tình chỉ dạy rồi em cũng tốt nghiệp, hai đứa em của em cũng ra trường kỹ sư một thời gian sau đó. Còn anh sao qua được Mỹ?

Sau khi kể lại chuyện ra đi ngày 30 tháng Tư của mình cho Quỳnh Hoa nghe, chúng tôi ngồi yên lặng bên nhau.


Tôi muốn nói với nàng trăm ngàn điều nhưng vẫn không mở miệng được. Thời gian đã khác, hoàn cảnh đã khác. Khuôn mặt nàng hiện lờ mờ trong bóng tối. Tôi khóc lúc nào mà không biết. Không biết tôi khóc cho số phận gian truân của chúng tôi, của cả dân tộc tôi bị đọa đầy hay cho hạnh phúc muộn màng của hai đứa chúng tôi. Hạnh phúc dù đến muộn màng nhưng vẫn là báu vật Trời ban cho.


Minh Đạo  Nguyễn Thach Hãn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 113)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 150)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 176)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 213)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 384)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 365)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 170)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 391)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 445)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 315)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6936)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13888)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12770)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13286)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 113)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 150)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 176)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 384)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 170)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 445)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2559)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2710)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 378)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 426)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3403)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3810)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 213)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 315)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 378)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2691)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9501)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 25999)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32330)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32677)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7305)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9650)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2308)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2332)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2419)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2771)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5007)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4276)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3928)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5053)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.