- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN

16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 15480)




DIA DAO

Phim “ĐỊA ĐẠO- Mặt trời trong bóng tối ”

của Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên

TRẦN KHẢI
tổng hợp


“Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!”

TRẦN KHẢI.

 

 

***

Trương Thanh Thuận

TỪ “HUYỀN THOẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI” ĐẾN “HUYỀN THOẠI TRUYỀN THÔNG”

(Xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” - Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên)

 

Xem xong bộ phim “bom tấn” này, tôi thấy hoang mang quá chừng, vì những gì tôi cảm nhận được từ đầu phim cho đến dòng chữ cuối cùng hầu như khác xa với những sự khen vống khen đua theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công” trên báo chí & mạng xã hội suốt tuần qua - những lời ca ngợi tạo nên một “huyền thoại” về truyền thông chưa từng có đối với phim Việt Nam nói chung, phim đề tài lịch sử Cách mạng nói riêng… Tôi có tham khảo ý kiến một số nhà điện ảnh “biết xem phim” và công tâm, kết hợp với cảm nhận cá nhân để viết mấy dòng này, trong khi chờ đợi tiếng nói chính thức của những nhà phê bình phim chuyên nghiệp mà hiện giờ hình như họ đang e dè nể nang điều gì đó…

Trước hết, cần công bằng mà khẳng định đây là một bộ phim nghiêm túc làm về đề tài chiến tranh, coi như thoát được cái bản chất “phim Cúng cụ” hơn nửa thế kỷ nay đã in hằn trong ấn tượng công chúng về một kiểu phim hoành tráng thực hiện bằng Ngân sách Nhà nước phục vụ các ngày Lễ lớn xong rồi nhét vào kho! Phim không đi theo motif truyền thống “Ta thắng Địch thua” và kết phim là tiếng reo mừng chiến thắng cùng ngọn cờ bay phấp phới… Ở “Địa đạo…”, kết phim là các hầm địa đạo bị đánh sập, và hai chiến sĩ Địa đạo còn lại phải ngậm ống tre lặn dưới nước tránh truy sát của kẻ thù… Tất cả các cảnh quay được dàn dựng hết sức công phu, và tạo hiệu quả chân thực một cách tối đa nhằm miêu tả cuộc sống & cuộc chiến đấu trong lòng đất của quân dân Củ Chi “những năm tháng không thể quên” ấy… Nếu đem so với những phim làm về chiến tranh của điện ảnh Phương Tây nhiều năm qua, về mặt hình thức phim – gồm bối cảnh phim, đạo cụ phim, cảnh quay khói lửa, kỹ xảo, v.v, thì “Địa đạo…” của điện ảnh Việt có thể không xấu hổ!

Thế nhưng, một bộ phim có giá trị thật sự có khả năng đi vào Lịch sử điện ảnh thế giới, hoặc đủ tiêu chuẩn như những phim đã được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn lưu trữ vào Viện lưu trữ phim Quốc gia vì sự "quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, Lịch sử, hay thẩm mỹ" của nó, thì cái “đì zai” (vỏ bọc, hình thức) nói trên của “Địa đạo…” quả là không đáng kể; và cái điều phim muốn gửi gắm, muốn nói với người xem hôm nay – dù rất nhân văn, tích cực, cần thiết – đã bị chính cái “hình thức” hoành tráng kia đè bẹp, và không được triển khai qua một cấu trúc phim nhà nghề theo quy luật điện ảnh Fiction (hư cấu) đòi hỏi!

Ấn tượng bao trùm tôi khi dòng chữ Hết phim hiện lên: đây là một phim kiểu Ký sự Lịch sử (non fiction - không hư cấu) bằng hình ảnh, trộn lẫn với phim fiction (hư cấu); như thế các nhà làm phim đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng trong nghệ thuật điện ảnh mà nhiều nhà làm phim thế giới có kinh nghiệm từng cảnh báo: Chớ được lẫn lộn về thể loại, vì khán giả sẽ cho rằng người làm phim đánh lừa họ! Thực ra, không ít phim đoạt giải cao tại các LHF quốc tế đã đưa chất “tài liệu” (document) khá đậm đặc vào phim truyện, song chất “tài liệu” đó được cài cắm một cách tự nhiên, đầy nghệ thuật, trên cơ sở một hệ thống nhân vật có sức thuyết phục, một cấu trúc kịch tính hết sức chặt chẽ. Còn ở phim “Địa đạo…”, chất truyện, chất fiction rất yếu ớt, nhạt nhẽo, các nhân vật dù được diễn viên dày công thể hiện, song đều là những hình nhân mờ nhạt, lộ rõ sự minh họa thô thiển cho nội dung phim! Cuộc hãm hiếp dẫn đến có chửa của một cô du kích địa đạo được ném ra chẳng gắn bó gì với xung đột kịch tính- tư tưởng phim, để làm gì vậy, câu khách đơn thuần chăng?

Ngoài ra, cái gọi là “yếu tố truyện” tương đối rõ nét trong phim này còn bị các nhà làm phim khai thác thành hai tuyến tình tiết quan trọng với mục đích xây dựng “biểu tượng”, song thái quá, đậm chủ quan nên gây phản cảm khá nặng: 1. Mấy cuộc làm tình (và hãm hiếp) dữ dội dưới xích xắt xe tăng và đạn pháo địch: Không hiểu khán giả khác thế nào, ở mấy đoạn phim đó, tôi thấy gai gai người kinh sợ, bởi nó hết sức phản tự nhiên, thế nhưng nhà làm phim đã muốn minh chứng bản năng sinh tồn của con người mạnh hơn sự hủy diệt bằng ý đồ cực đoan - y như trong phim “Sống trong sợ hãi” mà có người nói đùa vui rằng nó làm nên “thương hiệu làm tình kiểu Bùi Thạc Chuyên”! 2. Trường đoạn ông cán bộ cấp cao tên là Sáu rơi vào tay địch: Ông này bình tĩnh nhận điếu thuốc do địch châm cho là được, khá tự nhiên, song khi tác giả để ông lên lớp dạy dỗ mấy sĩ quan binh lính Mỹ về Lịch sử dưới ống kính của nhà quay phim chiến trường thì không ít khán giả chợt phì cười! Rồi tới khi ông này chẳng biết giấu ở đâu và từ lúc nào quả lựu đạn để lôi ra giết bọn lính Mỹ và tự sát, thì bàn tay xếp sắp bố trí của tác giả lộ rõ sự vụng về, cố tình!

Sau cùng, xin bộc bạch một tâm sự, đúng hơn, một khao khát của cá nhân tôi về không chỉ riêng bộ phim “Địa đạo…” mà còn về các bộ phim VN sẽ làm về đề tài Chiến tranh: Phải chăng, đã đến lúc màn ảnh lớn nhỏ của ta nên chấm dứt việc thực hiện những cảnh quay giết chóc rùng rợn không kém thời Trung cổ như trong phim này – dù có là của chiến tranh chính nghĩa đi nữa – đặc biệt là cảnh quay dùng đòn sóc dưới địa đạo đâm xuyên người viên sĩ quan Mỹ (Tới cảnh này, trong rạp, mấy bà mấy chị ngồi hàng ghế trước tôi phải lấy tay ôm mặt, còn nhà điện ảnh đi xem cùng tôi như rùng cả mình và cúi gầm đầu xuống). Mấy chục năm trước, điện ảnh ta có phim “Thủ lĩnh áo nâu” diễn tả lại cảnh nghĩa quân Đề Thám tổ chức đầu độc binh lính Pháp ở Hà thành, đã chẳng dấy lên sự phản đối của khán giả trong nước và nước ngoài đó thôi! Không phải sự thật nào cũng có thể đưa lên màn ảnh “giữa Thanh thiên bạch nhật” một cách trần trụi và sống sít, nhất là trong thời chiến tranh tàn khốc đang diễn ra nhiều nơi trên trái đất thì chủ nghĩa nhân văn toàn cầu càng cần được khôi phục và phát triển… Theo ý kiến của một số nhà phê bình điện ảnh, ngay cả những phim về chiến tranh ghê rợn nhất của thế giới cũng không “đẩy” người xem vào cái không khí ngột ngạt đầy đe dọa một cách cực đoan như “Địa đạo…” đã tạo ra. Và một vài cựu chiến binh cũ thời chống Mỹ đã cho biết: cán bộ chiến sĩ ở “Củ Chi đất thép” thời ấy đâu phải bị “nhốt” trong địa đạo làm “chuột chũi” như một thứ định mệnh như thế, họ vẫn sinh hoạt bình thường ở làng xóm ngoài lúc chiến đấu trong Địa đạo… Thế mà, yếu tố giải trí cần thiết, và như một phẩm chất quan trọng của Nghệ thuật thứ Bảy - đã vắng bóng trong hai tiếng phim ngột ngạt nặng nề đế nghẹt thở của “Địa đạo…”!

Tôi thiển nghĩ, trong giai đoạn Hòa hợp hòa giải dân tộc đã chín muồi và cần tạo ra mối quan hệ bang giao hữu hảo với cả thế lực đối kháng xưa kia, bộ phim “Địa đạo…” không khác gì việc khơi gợi cố tình sự thù địch đáng lẽ phải quên đi từ lâu, kích động sự thù hận kiểu “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”! Bộ phim thật ra vẫn chưa thoát khỏi bóng dáng của loại phim “Cúng cụ” nhằm lên án tội ác giặc Mỹ xâm lược và ca ngợi chiến công của quân dân ta, khi mà nhận thức về Địa - Chính trị của xã hội đã được nâng lên rất nhiều, và thị hiếu của người xem phim hôm nay đã không còn đơn giản như trước…

Hơn nữa, trong bài viết “Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi” của Thiếu tá Dương Đình Lôi, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng ở Củ Chi, ông khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như tuyên truyền, Địa đạo chỉ là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa. Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền. Các phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống…

 
____________________


BÚT THÉP

Nếu bạn chưa đọc 'Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi' của Thiếu Tá Dương Đình Lôi, nguyên sĩ quan pháo binh Bắc Việt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng của phe CS ở Củ Chi, mời bạn đọc bài tóm lược này. Ông Lôi là con trai của một Hương Quản ở Tân Bửu giáp Tân Túc, cách Chợ Đệm 3km, cách nhà tôi 4km. Ông là người duy nhất cầm quân đánh trực diện căn cứ Đồng Dù, bắn cháy gần chục tank thiết giáp bên ngoài căn cứ.

***

BÓC TRẦN SỰ THẬT VỀ ĐỊA ĐẠO CỦ CHI – CÂU CHUYỆN PHẢN BIỆN DỰA TRÊN TÀI LIỆU,
NHÂN CHỨNG VÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ


Trong nhiều thập niên qua, địa đạo Củ Chi đã được Hà Nội tô vẽ như một biểu tượng bất khả chiến bại của "lòng yêu nước, ý chí cách mạng và sự sáng tạo thần kỳ". Các phái đoàn quốc tế, du khách, sinh viên, học sinh được đưa tới tham quan như một "bằng chứng sống" về chiến thắng của du kích cộng sản trước quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những ai từng chiến đấu tại chiến trường này, những người từng đổ máu, đổ mồ hôi giữa vùng đất Củ Chi, lại mang một ký ức rất khác – một ký ức không phải được kể bằng ống kính quay phim tuyên truyền, mà bằng mảnh đạn, bằng khói B52 và xác người vùi trong đất đỏ.

Tài liệu "2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi" của Dương Đình Lôi và hồi ký Xuân Vũ là một trong những tiếng nói hiếm hoi từ chính những người đã từng sống trong lòng địa đạo và trên chiến trường này. Trong đó, tác giả thẳng thắn vạch trần những chiêu trò tuyên truyền sai lệch của Hà Nội.

1. Địa đạo không phải là mạng lưới kỳ vĩ và bất khả xâm phạm như tuyên truyền.

Các tài liệu tuyên truyền của Hà Nội thường tuyên bố địa đạo dài tới 200 dặm (tương đương 320km), thông suốt các xã, tạo thành "vòng đai thép" quanh căn cứ Đồng Dù. Tuy nhiên, chính Dương Đình Lôi – người từng trấn thủ Củ Chi suốt 2000 ngày đêm – khẳng định địa đạo chỉ tồn tại được ở một vài xã có nền đất cao như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hòa Đông. Những khu vực còn lại là đồng ruộng ngập nước không thể nào đào địa đạo.

Danh sách các đoạn địa đạo còn ghi nhận được chỉ ngắn vài trăm mét, như Bến Dược (200m), Hố Bò (200m), Bến Mương (100m), Góc Chàng (500m)... chứ không có hệ thống nào dài hàng trăm cây số. Không hề có tuyến địa đạo nào "bao vây Đồng Dù", càng không thể nghe nhạc Bob Hope từ dưới lòng đất như các tài liệu tuyên truyền từng bịa đặt.

2. Điều kiện sinh tồn trong địa đạo cực kỳ khắc nghiệt.

Các miệng địa đạo chỉ vừa đủ một người chui lọt, thiếu không khí, ẩm thấp, nhiều loài bò sát, rắn rết, chuột bọ. Một người khoẻ mạnh chỉ cần ở dưới đó vài giờ là choáng váng vì thiếu oxy, chứ đừng nói đến việc giải phẫu thương binh như tài liệu Hà Nội từng tuyên bố. Dương Đình Lôi kể lại rằng, chỉ cần một người phụ nữ có kinh nguyệt ở dưới địa đạo cũng có thể khiến cả hầm ngộp vì mùi hôi. Việc vệ sinh, phóng uế, xử lý vết thương... dưới địa đạo là điều gần như không thể.

3. Địa đạo từng là mồ chôn tập thể khi bị B52 cày nát.

Các tài liệu quân sự Hoa Kỳ như trong chiến dịch Cedar Falls (1967) và Junction City (1967) đã ghi rõ việc sử dụng bom B52 rải thảm xuống vùng Tam Giác Sắt, trong đó có Củ Chi. Một trái bom B52 có thể tạo hố sâu tới 11 thước, hoàn toàn phá huỷ bất kỳ hệ thống hầm ngầm nào bên dưới. Trong một trận pháo kích, một đoạn địa đạo tại An Nhơn bị sập, vùi chết nguyên ban tham mưu quận – không ai cứu nổi. Sau đó, Quân khu ủy IV ra lệnh cấm cán bộ chui xuống địa đạo vì "xuống đó là chết".

Tài liệu từ Quân sử Hoa Kỳ và báo cáo chiến dịch của Bộ chỉ huy MACV (Military Assistance Command, Vietnam) đã xác nhận hiệu quả tàn phá của B52 tại vùng Củ Chi. Lính Mỹ mô tả vùng này là "chảo bom", nơi mọi gốc cây đều bị san bằng, không có nơi nào đủ an toàn để lẩn trốn.

4. Nhiều nhân vật được tuyên dương là anh hùng chiến đấu trong địa đạo thực chất không hề có mặt hoặc không hề chiến đấu như thế.

Một số người như "thiếu tá Năm Thuận", "thiếu tá Quợt" hay thậm chí ông Võ Văn Kiệt được tuyên truyền là từng chỉ huy chiến đấu trong địa đạo. Tuy nhiên, theo lời kể của người trong cuộc, họ chỉ nương náu vài ngày, hoặc như Năm Thuận chỉ làm lính lãi, còn Quợt thì nổi tiếng... són ra quần mỗi khi xuống hầm.

Các nhân chứng như Dương Đình Lôi, từng chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng, khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như lời tuyên truyền. Địa đạo không phải là hầm lầu có máy lạnh, mà là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa.

5. Địa đạo được khai thác thành phim ảnh, du lịch để tô vẽ lịch sử.

Từ năm 1985, theo lời kể, nhiều đoạn hầm đã được đào lại bằng máy cày, được làm rộng ra để phục vụ quay phim và đón du khách. Báo cáo của phái đoàn du lịch Hoa Kỳ, các bài viết của ký giả phương Tây (như Neil Sheehan, Stanley Karnow) và cả các đoạn video của CNN đã ghi lại việc một số khu địa đạo được tái thiết để phục vụ mục đích tham quan, không còn giữ nguyên bản chất ban đầu.

6. Chính Hà Nội cũng từng dùng địa đạo để tuyên truyền nội bộ.

Trong các báo cáo nội bộ, như tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương năm 1979, đã thừa nhận việc "huy động truyền thông, hình ảnh địa đạo Củ Chi để làm biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân". Nghĩa là ngay cả phía cộng sản cũng hiểu rằng địa đạo là công cụ tuyên truyền chứ không hẳn là phương tiện chiến đấu thực sự.

7. Ghi nhận từ phía Mỹ và nhân chứng độc lập.

Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền.

Phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống.

Cựu phóng viên Wilfred Burchett, mặc dù thân cộng, từng bị Hà Nội từ chối cho xuống hầm vì... quá to, và sau đó bị trì hoãn mãi không được xem địa đạo thực. Một dấu hiệu rõ rệt rằng địa đạo lúc ấy không còn tồn tại đúng như lời tuyên truyền.

Địa đạo Củ Chi từng là một biện pháp trú ẩn chiến thuật trong giai đoạn đầu của chiến tranh, tại một vài khu vực có địa hình phù hợp. Tuy nhiên, từ sau năm 1966–1967, khi không quân Hoa Kỳ triển khai chiến thuật rải thảm B52, địa đạo đã mất hoàn toàn hiệu quả và trở thành nấm mồ tập thể cho hàng trăm cán binh.

Việc Hà Nội tiếp tục khai thác địa đạo như một biểu tượng tuyên truyền không chỉ bóp méo sự thật lịch sử mà còn xúc phạm đến hàng ngàn người đã chết oan trong lòng đất đỏ. Đã đến lúc cần nhìn lại và đối diện với sự thật. Không phải để bôi nhọ ai, mà để lịch sử Việt Nam được viết lại bằng sự thật, chứ không bằng khói pháo và phim ảnh dựng lại sau chiến tranh.

________________________

 

Như thế là, từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!

 

 

____________________________

 

 

Châu Hồng Thủy

MỘT BỘ PHIM KHỦNG KHIẾP!

Đó là ấn tượng bao trùm trong tôi trong và sau khi xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, bộ phim tạo ra không khí nghẹt thở của những du kích Củ Chi dưới bom đạn hủy diệt và trong bản năng sinh tồn tính dục của chính đồng đội họ. Những cảnh chém giết kinh sợ, cảnh nước ngập hầm địa đạo dìm chết các chiến sĩ Củ Chi… được miêu tả kỹ lưỡng, chân thật đến ghê người với mục đích rõ ràng là lên án Mỹ xâm lược làm ra để làm gì đây, giữa khi VN và Mỹ đang tìm mọi cách gắn kết mối bang giao, sau nhiều năm hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa bỏ hận thù? Những nhà chính trị, kinh tế, ngoại giao, cựu binh sĩ Mỹ từng tham chiến ở VN sẽ có ấn tượng gì suy nghĩ gì trước cảnh người lính Mỹ bị cây tre đâm xuyên qua người như một con thú săn trong lòng địa đạo?

Và điều khủng khiếp không kém là suốt tuần nay, hệ thống truyền thông chính thống và không chính thống đã quảng bá rầm rộ cho một bộ phim đầy bạo lực nặng tuyên truyền “chống Mỹ” có nguy cơ phá tan chủ trương “Hòa hợp - Hòa giải” dân tộc và với đối phương cũ trên con đường Hợp tác - Cộng tác phát triển thịnh vượng và bồi đắp thêm chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu! Thực khó hiểu trước sự im lặng của những người có trách nhiệm, những nhà chuyên môn, và không ít những nhân vật có tiếng tăm trong giới văn nghệ sĩ đã “nâng bi” bộ phim này lên trời xanh một cách điệu nghệ, coi đó là một “siêu phẩm” điện ảnh sánh ngang với những kiệt tác điện ảnh thế giới làm về chiến tranh!

Tôi là người ngoại đạo điện ảnh, xin phép được hỏi: các “Bố già” đứng sau bộ phim này và chiến dịch truyền thông này là những ai?

 

 TRẦN KHẢI tổng hợp

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 724)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1345)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3376)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9942)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16779)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16206)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3376)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3121)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1345)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7316)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6662)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 724)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2492)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10860)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12699)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3337)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3622)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4169)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.