- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN

16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 16448)




DIA DAO

Phim “ĐỊA ĐẠO- Mặt trời trong bóng tối ”

của Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên

TRẦN KHẢI
tổng hợp


“Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!”

TRẦN KHẢI.

 

 

***

Trương Thanh Thuận

TỪ “HUYỀN THOẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI” ĐẾN “HUYỀN THOẠI TRUYỀN THÔNG”

(Xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” - Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên)

 

Xem xong bộ phim “bom tấn” này, tôi thấy hoang mang quá chừng, vì những gì tôi cảm nhận được từ đầu phim cho đến dòng chữ cuối cùng hầu như khác xa với những sự khen vống khen đua theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công” trên báo chí & mạng xã hội suốt tuần qua - những lời ca ngợi tạo nên một “huyền thoại” về truyền thông chưa từng có đối với phim Việt Nam nói chung, phim đề tài lịch sử Cách mạng nói riêng… Tôi có tham khảo ý kiến một số nhà điện ảnh “biết xem phim” và công tâm, kết hợp với cảm nhận cá nhân để viết mấy dòng này, trong khi chờ đợi tiếng nói chính thức của những nhà phê bình phim chuyên nghiệp mà hiện giờ hình như họ đang e dè nể nang điều gì đó…

Trước hết, cần công bằng mà khẳng định đây là một bộ phim nghiêm túc làm về đề tài chiến tranh, coi như thoát được cái bản chất “phim Cúng cụ” hơn nửa thế kỷ nay đã in hằn trong ấn tượng công chúng về một kiểu phim hoành tráng thực hiện bằng Ngân sách Nhà nước phục vụ các ngày Lễ lớn xong rồi nhét vào kho! Phim không đi theo motif truyền thống “Ta thắng Địch thua” và kết phim là tiếng reo mừng chiến thắng cùng ngọn cờ bay phấp phới… Ở “Địa đạo…”, kết phim là các hầm địa đạo bị đánh sập, và hai chiến sĩ Địa đạo còn lại phải ngậm ống tre lặn dưới nước tránh truy sát của kẻ thù… Tất cả các cảnh quay được dàn dựng hết sức công phu, và tạo hiệu quả chân thực một cách tối đa nhằm miêu tả cuộc sống & cuộc chiến đấu trong lòng đất của quân dân Củ Chi “những năm tháng không thể quên” ấy… Nếu đem so với những phim làm về chiến tranh của điện ảnh Phương Tây nhiều năm qua, về mặt hình thức phim – gồm bối cảnh phim, đạo cụ phim, cảnh quay khói lửa, kỹ xảo, v.v, thì “Địa đạo…” của điện ảnh Việt có thể không xấu hổ!

Thế nhưng, một bộ phim có giá trị thật sự có khả năng đi vào Lịch sử điện ảnh thế giới, hoặc đủ tiêu chuẩn như những phim đã được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn lưu trữ vào Viện lưu trữ phim Quốc gia vì sự "quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, Lịch sử, hay thẩm mỹ" của nó, thì cái “đì zai” (vỏ bọc, hình thức) nói trên của “Địa đạo…” quả là không đáng kể; và cái điều phim muốn gửi gắm, muốn nói với người xem hôm nay – dù rất nhân văn, tích cực, cần thiết – đã bị chính cái “hình thức” hoành tráng kia đè bẹp, và không được triển khai qua một cấu trúc phim nhà nghề theo quy luật điện ảnh Fiction (hư cấu) đòi hỏi!

Ấn tượng bao trùm tôi khi dòng chữ Hết phim hiện lên: đây là một phim kiểu Ký sự Lịch sử (non fiction - không hư cấu) bằng hình ảnh, trộn lẫn với phim fiction (hư cấu); như thế các nhà làm phim đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng trong nghệ thuật điện ảnh mà nhiều nhà làm phim thế giới có kinh nghiệm từng cảnh báo: Chớ được lẫn lộn về thể loại, vì khán giả sẽ cho rằng người làm phim đánh lừa họ! Thực ra, không ít phim đoạt giải cao tại các LHF quốc tế đã đưa chất “tài liệu” (document) khá đậm đặc vào phim truyện, song chất “tài liệu” đó được cài cắm một cách tự nhiên, đầy nghệ thuật, trên cơ sở một hệ thống nhân vật có sức thuyết phục, một cấu trúc kịch tính hết sức chặt chẽ. Còn ở phim “Địa đạo…”, chất truyện, chất fiction rất yếu ớt, nhạt nhẽo, các nhân vật dù được diễn viên dày công thể hiện, song đều là những hình nhân mờ nhạt, lộ rõ sự minh họa thô thiển cho nội dung phim! Cuộc hãm hiếp dẫn đến có chửa của một cô du kích địa đạo được ném ra chẳng gắn bó gì với xung đột kịch tính- tư tưởng phim, để làm gì vậy, câu khách đơn thuần chăng?

Ngoài ra, cái gọi là “yếu tố truyện” tương đối rõ nét trong phim này còn bị các nhà làm phim khai thác thành hai tuyến tình tiết quan trọng với mục đích xây dựng “biểu tượng”, song thái quá, đậm chủ quan nên gây phản cảm khá nặng: 1. Mấy cuộc làm tình (và hãm hiếp) dữ dội dưới xích xắt xe tăng và đạn pháo địch: Không hiểu khán giả khác thế nào, ở mấy đoạn phim đó, tôi thấy gai gai người kinh sợ, bởi nó hết sức phản tự nhiên, thế nhưng nhà làm phim đã muốn minh chứng bản năng sinh tồn của con người mạnh hơn sự hủy diệt bằng ý đồ cực đoan - y như trong phim “Sống trong sợ hãi” mà có người nói đùa vui rằng nó làm nên “thương hiệu làm tình kiểu Bùi Thạc Chuyên”! 2. Trường đoạn ông cán bộ cấp cao tên là Sáu rơi vào tay địch: Ông này bình tĩnh nhận điếu thuốc do địch châm cho là được, khá tự nhiên, song khi tác giả để ông lên lớp dạy dỗ mấy sĩ quan binh lính Mỹ về Lịch sử dưới ống kính của nhà quay phim chiến trường thì không ít khán giả chợt phì cười! Rồi tới khi ông này chẳng biết giấu ở đâu và từ lúc nào quả lựu đạn để lôi ra giết bọn lính Mỹ và tự sát, thì bàn tay xếp sắp bố trí của tác giả lộ rõ sự vụng về, cố tình!

Sau cùng, xin bộc bạch một tâm sự, đúng hơn, một khao khát của cá nhân tôi về không chỉ riêng bộ phim “Địa đạo…” mà còn về các bộ phim VN sẽ làm về đề tài Chiến tranh: Phải chăng, đã đến lúc màn ảnh lớn nhỏ của ta nên chấm dứt việc thực hiện những cảnh quay giết chóc rùng rợn không kém thời Trung cổ như trong phim này – dù có là của chiến tranh chính nghĩa đi nữa – đặc biệt là cảnh quay dùng đòn sóc dưới địa đạo đâm xuyên người viên sĩ quan Mỹ (Tới cảnh này, trong rạp, mấy bà mấy chị ngồi hàng ghế trước tôi phải lấy tay ôm mặt, còn nhà điện ảnh đi xem cùng tôi như rùng cả mình và cúi gầm đầu xuống). Mấy chục năm trước, điện ảnh ta có phim “Thủ lĩnh áo nâu” diễn tả lại cảnh nghĩa quân Đề Thám tổ chức đầu độc binh lính Pháp ở Hà thành, đã chẳng dấy lên sự phản đối của khán giả trong nước và nước ngoài đó thôi! Không phải sự thật nào cũng có thể đưa lên màn ảnh “giữa Thanh thiên bạch nhật” một cách trần trụi và sống sít, nhất là trong thời chiến tranh tàn khốc đang diễn ra nhiều nơi trên trái đất thì chủ nghĩa nhân văn toàn cầu càng cần được khôi phục và phát triển… Theo ý kiến của một số nhà phê bình điện ảnh, ngay cả những phim về chiến tranh ghê rợn nhất của thế giới cũng không “đẩy” người xem vào cái không khí ngột ngạt đầy đe dọa một cách cực đoan như “Địa đạo…” đã tạo ra. Và một vài cựu chiến binh cũ thời chống Mỹ đã cho biết: cán bộ chiến sĩ ở “Củ Chi đất thép” thời ấy đâu phải bị “nhốt” trong địa đạo làm “chuột chũi” như một thứ định mệnh như thế, họ vẫn sinh hoạt bình thường ở làng xóm ngoài lúc chiến đấu trong Địa đạo… Thế mà, yếu tố giải trí cần thiết, và như một phẩm chất quan trọng của Nghệ thuật thứ Bảy - đã vắng bóng trong hai tiếng phim ngột ngạt nặng nề đế nghẹt thở của “Địa đạo…”!

Tôi thiển nghĩ, trong giai đoạn Hòa hợp hòa giải dân tộc đã chín muồi và cần tạo ra mối quan hệ bang giao hữu hảo với cả thế lực đối kháng xưa kia, bộ phim “Địa đạo…” không khác gì việc khơi gợi cố tình sự thù địch đáng lẽ phải quên đi từ lâu, kích động sự thù hận kiểu “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”! Bộ phim thật ra vẫn chưa thoát khỏi bóng dáng của loại phim “Cúng cụ” nhằm lên án tội ác giặc Mỹ xâm lược và ca ngợi chiến công của quân dân ta, khi mà nhận thức về Địa - Chính trị của xã hội đã được nâng lên rất nhiều, và thị hiếu của người xem phim hôm nay đã không còn đơn giản như trước…

Hơn nữa, trong bài viết “Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi” của Thiếu tá Dương Đình Lôi, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng ở Củ Chi, ông khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như tuyên truyền, Địa đạo chỉ là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa. Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền. Các phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống…

 
____________________


BÚT THÉP

Nếu bạn chưa đọc 'Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi' của Thiếu Tá Dương Đình Lôi, nguyên sĩ quan pháo binh Bắc Việt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng của phe CS ở Củ Chi, mời bạn đọc bài tóm lược này. Ông Lôi là con trai của một Hương Quản ở Tân Bửu giáp Tân Túc, cách Chợ Đệm 3km, cách nhà tôi 4km. Ông là người duy nhất cầm quân đánh trực diện căn cứ Đồng Dù, bắn cháy gần chục tank thiết giáp bên ngoài căn cứ.

***

BÓC TRẦN SỰ THẬT VỀ ĐỊA ĐẠO CỦ CHI – CÂU CHUYỆN PHẢN BIỆN DỰA TRÊN TÀI LIỆU,
NHÂN CHỨNG VÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ


Trong nhiều thập niên qua, địa đạo Củ Chi đã được Hà Nội tô vẽ như một biểu tượng bất khả chiến bại của "lòng yêu nước, ý chí cách mạng và sự sáng tạo thần kỳ". Các phái đoàn quốc tế, du khách, sinh viên, học sinh được đưa tới tham quan như một "bằng chứng sống" về chiến thắng của du kích cộng sản trước quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những ai từng chiến đấu tại chiến trường này, những người từng đổ máu, đổ mồ hôi giữa vùng đất Củ Chi, lại mang một ký ức rất khác – một ký ức không phải được kể bằng ống kính quay phim tuyên truyền, mà bằng mảnh đạn, bằng khói B52 và xác người vùi trong đất đỏ.

Tài liệu "2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi" của Dương Đình Lôi và hồi ký Xuân Vũ là một trong những tiếng nói hiếm hoi từ chính những người đã từng sống trong lòng địa đạo và trên chiến trường này. Trong đó, tác giả thẳng thắn vạch trần những chiêu trò tuyên truyền sai lệch của Hà Nội.

1. Địa đạo không phải là mạng lưới kỳ vĩ và bất khả xâm phạm như tuyên truyền.

Các tài liệu tuyên truyền của Hà Nội thường tuyên bố địa đạo dài tới 200 dặm (tương đương 320km), thông suốt các xã, tạo thành "vòng đai thép" quanh căn cứ Đồng Dù. Tuy nhiên, chính Dương Đình Lôi – người từng trấn thủ Củ Chi suốt 2000 ngày đêm – khẳng định địa đạo chỉ tồn tại được ở một vài xã có nền đất cao như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hòa Đông. Những khu vực còn lại là đồng ruộng ngập nước không thể nào đào địa đạo.

Danh sách các đoạn địa đạo còn ghi nhận được chỉ ngắn vài trăm mét, như Bến Dược (200m), Hố Bò (200m), Bến Mương (100m), Góc Chàng (500m)... chứ không có hệ thống nào dài hàng trăm cây số. Không hề có tuyến địa đạo nào "bao vây Đồng Dù", càng không thể nghe nhạc Bob Hope từ dưới lòng đất như các tài liệu tuyên truyền từng bịa đặt.

2. Điều kiện sinh tồn trong địa đạo cực kỳ khắc nghiệt.

Các miệng địa đạo chỉ vừa đủ một người chui lọt, thiếu không khí, ẩm thấp, nhiều loài bò sát, rắn rết, chuột bọ. Một người khoẻ mạnh chỉ cần ở dưới đó vài giờ là choáng váng vì thiếu oxy, chứ đừng nói đến việc giải phẫu thương binh như tài liệu Hà Nội từng tuyên bố. Dương Đình Lôi kể lại rằng, chỉ cần một người phụ nữ có kinh nguyệt ở dưới địa đạo cũng có thể khiến cả hầm ngộp vì mùi hôi. Việc vệ sinh, phóng uế, xử lý vết thương... dưới địa đạo là điều gần như không thể.

3. Địa đạo từng là mồ chôn tập thể khi bị B52 cày nát.

Các tài liệu quân sự Hoa Kỳ như trong chiến dịch Cedar Falls (1967) và Junction City (1967) đã ghi rõ việc sử dụng bom B52 rải thảm xuống vùng Tam Giác Sắt, trong đó có Củ Chi. Một trái bom B52 có thể tạo hố sâu tới 11 thước, hoàn toàn phá huỷ bất kỳ hệ thống hầm ngầm nào bên dưới. Trong một trận pháo kích, một đoạn địa đạo tại An Nhơn bị sập, vùi chết nguyên ban tham mưu quận – không ai cứu nổi. Sau đó, Quân khu ủy IV ra lệnh cấm cán bộ chui xuống địa đạo vì "xuống đó là chết".

Tài liệu từ Quân sử Hoa Kỳ và báo cáo chiến dịch của Bộ chỉ huy MACV (Military Assistance Command, Vietnam) đã xác nhận hiệu quả tàn phá của B52 tại vùng Củ Chi. Lính Mỹ mô tả vùng này là "chảo bom", nơi mọi gốc cây đều bị san bằng, không có nơi nào đủ an toàn để lẩn trốn.

4. Nhiều nhân vật được tuyên dương là anh hùng chiến đấu trong địa đạo thực chất không hề có mặt hoặc không hề chiến đấu như thế.

Một số người như "thiếu tá Năm Thuận", "thiếu tá Quợt" hay thậm chí ông Võ Văn Kiệt được tuyên truyền là từng chỉ huy chiến đấu trong địa đạo. Tuy nhiên, theo lời kể của người trong cuộc, họ chỉ nương náu vài ngày, hoặc như Năm Thuận chỉ làm lính lãi, còn Quợt thì nổi tiếng... són ra quần mỗi khi xuống hầm.

Các nhân chứng như Dương Đình Lôi, từng chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng, khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như lời tuyên truyền. Địa đạo không phải là hầm lầu có máy lạnh, mà là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa.

5. Địa đạo được khai thác thành phim ảnh, du lịch để tô vẽ lịch sử.

Từ năm 1985, theo lời kể, nhiều đoạn hầm đã được đào lại bằng máy cày, được làm rộng ra để phục vụ quay phim và đón du khách. Báo cáo của phái đoàn du lịch Hoa Kỳ, các bài viết của ký giả phương Tây (như Neil Sheehan, Stanley Karnow) và cả các đoạn video của CNN đã ghi lại việc một số khu địa đạo được tái thiết để phục vụ mục đích tham quan, không còn giữ nguyên bản chất ban đầu.

6. Chính Hà Nội cũng từng dùng địa đạo để tuyên truyền nội bộ.

Trong các báo cáo nội bộ, như tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương năm 1979, đã thừa nhận việc "huy động truyền thông, hình ảnh địa đạo Củ Chi để làm biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân". Nghĩa là ngay cả phía cộng sản cũng hiểu rằng địa đạo là công cụ tuyên truyền chứ không hẳn là phương tiện chiến đấu thực sự.

7. Ghi nhận từ phía Mỹ và nhân chứng độc lập.

Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền.

Phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống.

Cựu phóng viên Wilfred Burchett, mặc dù thân cộng, từng bị Hà Nội từ chối cho xuống hầm vì... quá to, và sau đó bị trì hoãn mãi không được xem địa đạo thực. Một dấu hiệu rõ rệt rằng địa đạo lúc ấy không còn tồn tại đúng như lời tuyên truyền.

Địa đạo Củ Chi từng là một biện pháp trú ẩn chiến thuật trong giai đoạn đầu của chiến tranh, tại một vài khu vực có địa hình phù hợp. Tuy nhiên, từ sau năm 1966–1967, khi không quân Hoa Kỳ triển khai chiến thuật rải thảm B52, địa đạo đã mất hoàn toàn hiệu quả và trở thành nấm mồ tập thể cho hàng trăm cán binh.

Việc Hà Nội tiếp tục khai thác địa đạo như một biểu tượng tuyên truyền không chỉ bóp méo sự thật lịch sử mà còn xúc phạm đến hàng ngàn người đã chết oan trong lòng đất đỏ. Đã đến lúc cần nhìn lại và đối diện với sự thật. Không phải để bôi nhọ ai, mà để lịch sử Việt Nam được viết lại bằng sự thật, chứ không bằng khói pháo và phim ảnh dựng lại sau chiến tranh.

________________________

 

Như thế là, từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!

 

 

____________________________

 

 

Châu Hồng Thủy

MỘT BỘ PHIM KHỦNG KHIẾP!

Đó là ấn tượng bao trùm trong tôi trong và sau khi xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, bộ phim tạo ra không khí nghẹt thở của những du kích Củ Chi dưới bom đạn hủy diệt và trong bản năng sinh tồn tính dục của chính đồng đội họ. Những cảnh chém giết kinh sợ, cảnh nước ngập hầm địa đạo dìm chết các chiến sĩ Củ Chi… được miêu tả kỹ lưỡng, chân thật đến ghê người với mục đích rõ ràng là lên án Mỹ xâm lược làm ra để làm gì đây, giữa khi VN và Mỹ đang tìm mọi cách gắn kết mối bang giao, sau nhiều năm hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa bỏ hận thù? Những nhà chính trị, kinh tế, ngoại giao, cựu binh sĩ Mỹ từng tham chiến ở VN sẽ có ấn tượng gì suy nghĩ gì trước cảnh người lính Mỹ bị cây tre đâm xuyên qua người như một con thú săn trong lòng địa đạo?

Và điều khủng khiếp không kém là suốt tuần nay, hệ thống truyền thông chính thống và không chính thống đã quảng bá rầm rộ cho một bộ phim đầy bạo lực nặng tuyên truyền “chống Mỹ” có nguy cơ phá tan chủ trương “Hòa hợp - Hòa giải” dân tộc và với đối phương cũ trên con đường Hợp tác - Cộng tác phát triển thịnh vượng và bồi đắp thêm chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu! Thực khó hiểu trước sự im lặng của những người có trách nhiệm, những nhà chuyên môn, và không ít những nhân vật có tiếng tăm trong giới văn nghệ sĩ đã “nâng bi” bộ phim này lên trời xanh một cách điệu nghệ, coi đó là một “siêu phẩm” điện ảnh sánh ngang với những kiệt tác điện ảnh thế giới làm về chiến tranh!

Tôi là người ngoại đạo điện ảnh, xin phép được hỏi: các “Bố già” đứng sau bộ phim này và chiến dịch truyền thông này là những ai?

 

 TRẦN KHẢI tổng hợp

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 5943)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 4796)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 5555)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 4535)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
19 Tháng Tư 20269:59 CH(Xem: 6573)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 4384)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 8527)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 6811)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 8112)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 8548)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 338)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11000)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17641)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16704)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 165)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 164)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1875)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2464)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 129)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2351)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2107)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2735)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 929)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 992)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1552)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2323)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 111)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 80)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1603)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2158)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3053)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30444)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36700)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12145)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13486)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3733)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5644)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5399)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5943)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6573)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8939)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8248)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11195)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.