- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,451,305

thơ Phạm Hiền Mây

05 Tháng Tám 201911:46 CH(Xem: 3191)

Nhà thơ Phạm Hiền Mây
Nhà thơ Phạm Hiền Mây

 

Hai năm trở lại đây, trên fb nói riêng, trên lĩnh vực in ấn nói chung, một bút hiệu mới xuất hiện nhưng đã gây hiệu ứng bất ngờ từ giới phê bình lẫn người đọc, Phạm Hiền Mây, một nhà thơ có sức sáng tác sung mãn đặt biệt. Ngày nào cũng ít nhất một bài thơ mới. Trung bình khoảng 4 tháng xuất bản một thi tập, mỗi thi tập gồm trăm bài thơ.

Làm thơ nhiều và nhanh, xuất bản cũng nhiều và nhanh không kém. Nhưng điều đáng kinh ngạc là không phải vì thế thơ trở nên tầm thường, dễ dãi. Trái lại mỗi bài thơ là một dụng công rất mực, từ câu chữ đến ý đồ làm mới.

Mời bạn đọc thưởng thức vài bài trong hàng nghìn bài thơ đã và sẽ ra đời

 

Hợp Lưu

 

 

KHI ANH

 

khi anh còn mãi bên trời

thì xa xôi vẫn riêng lời mây bay

hững hờ gió cánh về lay

lối quanh co buốt heo may sớm chiều

 

heo may lặng lẽ trút nhiều

khi anh con sóng dâng triều nhấp nhô

thì ghềnh đá vẫn dòng xô

mòn nghiêng bóng đổ trăng ô nước tàn

 

mòn nghiêng bóng đổ trăng làn

hôm đêm ôm riết đóa ràn rụa sao

khi anh ngọt lưỡi tình trao

thì thiên thu biết sầu cao đã gần

 

thì thiên thu biết đã ngần

ánh non xanh biếc chín tầng rưng rưng

khóe hoa lệ ướt khôn dưng

khi anh khoảnh khắc sương ngưng giọt mềm

 

khi anh tay lót êm đềm

thì mưa em lá rụng thềm gối ru

đâu cần phải trắng mù u

mới nghe ra cội phù du rất đời

 

thì ra nghe rất ạ ời

con tim yêu

cất giọng mời

khi anh.

 

Phạm Hiền Mây

 

MÙA YÊU

 

thềm rêu ấy bàn chân mai có mỏi

rủ nhau về lối sót chút ngày dư

nắng loang chiều may sót chút hồ như

hồ như đến hồ như đi đời ngỡ

 

hồ như đến hồ như đi đời chợ

kiếp vào mây nẻo trắng một hư phù

gió ngàn khuya vỡ rúc tiếng chim gù

hoàng hôn quách thành xây sầu dấu tích

 

hoàng hôn quách thành mơ cơn tịch mịch

giấc hồ xưa vội vã mặt quay rồi

tối màu em cũ chốn để riêng ngồi

bầy khô lá vụn sông dài trôi rất

 

bầy khô lá dải sông tàn ẩn dật

củi ghềnh ôm mộng ngắn thuở xanh ngàn

thở hồ khe róc rách chợt thiên đàng

non ngực vút đồi trăng nhô mượt cỏ

 

nhô ngực vút đồi non cơn bụi đỏ

viễn ly thân thứ lữ khói sương mờ

đẫm phiêu du cố lý trở đôi bờ

hồ như có hồ như không vòi vói

 

hồ như có hồ như không tình gọi

hai trời mình

kịp chứ

bóng mùa yêu.

 

Phạm Hiền Mây

 

  

NHÉ YÊU

 

mình yêu nhau nhé anh ơi

ngoài kia bầy sẻ đã lời vu vơ

đã vàng nắng hắt hiên tơ

tường tây mái lợp xanh lơ mấy tầng

 

xanh tây mái lợp đường trần

mình yêu nhau nhé nẻo gần sắp xa

sẽ bâng khuâng lắm í a

cánh chim lữ thứ chiều qua xứ người

 

cánh chim lữ vắng môi cười

sầu treo trái chín thơm mười sáu trăng

mình yêu nhau nhé khó ngăn

trận hôm sớm tháng ngày khăn áo vùi

 

sớm hôm trận khát khao mùi

hương ân ái lén giọt chùi tương tư

trăm năm một mối hồ như

mình yêu nhau nhé mùa hư đợi chờ

 

mình yêu nhau kẻo bất ngờ

lấp la lấp ló bên bờ môi hôn

trắng đòi xóa dấu tình chôn

dựng mưa khua cuộc dại khôn gió trời

 

dậy mây mưa cuộc tơi bời

đừng rời nhau

nhé mãi đời

mình yêu.

 

Phạm Hiền Mây

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2106)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6023)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3045)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 341)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 445)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 393)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 552)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 659)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 602)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 695)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.