- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGÔI NHÀ CỦA NHỮNG LINH HỒN

09 Tháng Sáu 20199:35 CH(Xem: 45690)

 

BONG CHIEU
Bóng Chiều - ảnh UL




N đón chuyến tàu muộn về Phan.

N xốc lại ba lô sau lưng, đi như chạy trên đường hẻm lún trong cát xốp, hai bên rào tre tối om, không một ánh điện, dân quê có thói quen lên giường sớm.

Nhắm mắt lại N cũng có thể tìm lối rẻ quen thuộc vào nhà, sau hàng rào tre chạy dài là rào hoa dâm bụt, cuối rào hoa dâm bụt là chiếc cổng gỗ xiêu vẹo lốm đốm dây hoa bìm bịp.

N lần dò tháo chốt gỗ, cánh cửa rào mở tung vào chiếc bàn thiên giữa trời và người đàn bà ngồi cúi đầu xõa tóc dài mờ mờ trong lửa nến leo lét.

N buông ba lô, la nhỏ:

- Mẹ, giờ này mẹ còn làm gì ở đây?

Mẹ ngước lên nhìn N, cặp mắt mơ hồ như mộng du. N bước sát lại gần bàn thờ nhăn nhó:

- Hôm nay mới 12 ta mà mẹ, ai lại đi cúng cô hồn trước rằm tháng Bảy!

- Mẹ đâu có cúng cô hồn - Mẹ có vẻ phật ý, nghiêm giọng- Dì Kim, dì Sanh là người nhà không phải cô hồn.

N lúi húi thu dọn mâm trái cây và dắt tay mẹ vào nhà. Lối nhỏ lát gạch đất nung khấp khểnh, cỏ Lan chi nghiêng ngã hai bên lối đi vướng víu chân. Mẹ nắm tay N, giọng hồ hỡi:

- Ban nãy, lúc con về, mẹ đang nói chuyện với dì Sanh, dì Kim.

N than trời, đây là lý do vì sao N thấy bồn chồn trong bụng và vội vã đón chuyến tàu muộn nhất cuối tuần về Phan. Tự nhiên N thấy thương mẹ thắt lòng, N vỗ vỗ lên bàn tay nhăn nheo của mẹ:

- Sao lại nói chuyện với hai dì một lần được mẹ?

- Thì dì Sanh hết giận dì Kim rồi, nên hai người rủ nhau về chơi một lượt.

N thở dài áo nảo, chuyện này mới đây.

- Giận hờn gì nhau mà đến nửa thế kỷ sau mới làm lành được hả mẹ? Sao hai dì để bụng dữ vậy? - Tự nhiên cô muốn ghẹo mẹ.

- Thì con biết tính dì Sanh mà, hay để bụng chứ không có ruột để ngoài da như dì Kim.

Làm sao mà N không biết chuyện dì Sanh, dì Kim? Đến từng bụi cây trong vườn và vách tường còn biết chuyện. Duy nhất ở trong nhà không ai được nhắc đến tên của hai dì... Từ lâu lắm rồi...



2.

Dì Sanh và dì Kim không sinh ra cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.

Nhưng chết thì lại cùng ngày, cùng tháng, chính xác đến từng giây một.

Ông ngoại có ba vợ, Dì Sanh là con của bà ngoại Cả. Bà Cả vắn số. Dì Sanh vừa ra đời thì mồ côi mẹ. Ông ngoại không thương dì Sanh, miệng thiên hạ nói dì Sanh là "con độc" hại mẹ khi mới lọt lòng. "Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường", nhưng dì Sanh có số sướng, không phải liếm lá đầu đường một ngày nào. Bà ngoại Cả vừa qua đời tròn 1 năm, ông ngoại đi hỏi cưới ngoại Hai về quán xuyến việc nhà. Ngoại Hai thương dì Sanh còn hơn con ruột, vì ngoại vốn nhân hậu và vì tình yêu sâu đậm với ông ngoại. Không yêu sâu đậm sao bà ngoại Hai còn đi cưới vợ Ba cho ông ngoại? Mà thôi, đó là chuyện của sau này. Rất lâu sau này, khi ngoại Hai đã đẻ thêm được cho ông Ngoại một đàn con, 4 gái, 3 trai! Mẹ của N là con gái thứ ba của bà ngoại Hai.

Dì Kim là con gái út của ngoại Hai, là dì Út của N. Trí tuệ của dì Kim mãi dừng lại ở tuổi lên 10 dù thân hình phát triển sớm như con gái vùng biển mặn mòi khác.

Dì Sanh hơn dì Kim 13 tuổi. Theo lời mẹ tả dì Sanh đẹp sắc sảo như bà ngoại Cả, mắt sắc lẻm, da đen bánh mật, mũi thẳng tắp, cổ cao ba ngấn quý phái. Dì Kim da trắng như sáp ong, mắt đen láy, miệng hay cười chúm chím, nói trước quên sau, chẳng để điều gì trong bụng lâu, hay cười như chẳng bao giờ biết buồn.

Dì Sanh đi lấy chồng sớm. Dì Sanh lấy chồng giàu, nhà gốc Bắc buôn gạo nổi tiếng từ Nam ra Trung.

Sau tuần đầu tiên ở nhà chồng, dì Sanh trở về nhà ngoại bụm mặt khóc ròng. Mẹ chồng người Bắc hành hạ dì Sanh đến ghê. Mẹ kể dì phải cả ngày lăn lộn làm việc quần quật với kẻ ăn người ở, đến bữa đàn bà trong nhà cũng ăn gầm mặt dười bếp, không được bước lên nhà ngang trừ lúc bưng mâm cơm, đem bát tăm xĩa răng phục vụ cho mâm trên dành riêng cho đàn ông. Dì Sanh chỉ thấy mặt chồng lúc đêm về, trong bóng đèn dầu chập choạng, lúc dì nằm thu lu co người trong góc giường không dám nhìn rõ mặt người đàn ông gọi là chồng đang lạnh lùng lột sạch áo quần trên người. Một tháng một lần, mỗi ngày "bất tịnh" dì Sanh một mình co ro ngồi trên 1 chiếc nong tre, trong chiếc cót sơ sài dựng cuối vườn, cho đến ngày sạch sẽ mới được bước vào bậc cửa nhà trong. "Nhà làm ăn phải giữ cho tinh tuyền, sạch sẽ" má chồng giải thích với dì Sanh.

Chuyện ngày càng tệ hơn, khi dì Sanh "đàn bà tên Sanh mà không biết đường sanh đẻ" cho ra đời tuyền 1 giòng con gái, má chồng di Sanh chì chiết. Đến đứa con gái thứ ba, dì Sanh bị sản hậu xanh lè như lá chuối, dượng Sanh bỏ đi ròng vào Nam không nhìn đến mặt vợ con. Thương dì Sanh, bà ngoại hai năn nỉ má chồng cho người nhà sang săn sóc chị và cháu. Chỉ một mình dì Kim chịu đi săn sóc dì Sanh. Tính dì Kim vốn vậy, hay mủi lòng và chịu thương chịu khó.

Vậy là dì Kim theo về nhà dì Sanh. Ba tháng sau khi dì Sanh bắt đầu lại người, một lần về nhà sau chuyến ghe gạo rỗng không đi cả vốn lẫn lời, dượng Sanh chạm mặt dì Kim. Nụ cười ngơ ngác như nắng lạc trong nhà đó đã làm dượng thất thần. Dượng Sanh ngay lập tức bắt vợ giữ dì Kim ở lại. Má chồng dì Sanh chiều con trai, chỉ nói gọn lõn: "Hoa thơm hái cả cụm, chị em nhà mày có phước lắm mới được con trai tao để ý". Dì Sanh nuốt nước mắt năn nỉ em gái ở lại giữ chân chồng. Không biết dì Sanh nói những gì mà dì Kim cũng lẵng lặng ở lại, hàng đêm nằm chung giường với chị, mắt mở thao láo, nắm chặt cứng tay chị trong khi người đàn ông của chị dày vò trên thân mình.

Vậy mà, chỉ ít lâu sau, người không thể chịu đựng được cảnh đó lại là dì Sanh, không phải dì Kim.

Khi dì Kim má càng ngày càng rực hồng, những đường cong càng ngày càng căng như trái cây mọng chín thì dì Sanh càng ngày héo hon, mắt đầy bóng tối. Cho đến ngày dì Kim lùm lùm bụng bầu nhọn hoắt, cả nhà hăm hở nuốt từng lời ông thầy thuốc bắc bắt mạch đoan chắc bào thai trong bụng dì Kim là bé trai.

Dì Sanh tự tay sắc thuốc dưỡng thai cho em. Dì ngồi thần người bên bếp lửa than hoa liu riu đong từng chén nước, gạn từng giọt thuốc đen đặc quánh vào chén sứ. Rồi cũng chính dì Sanh tự tay mang lên phòng ngủ, dỗ dành dì Kim nhắp từng chút một. Mắt miệng dì Kim đều cười tươi rói, hơn hớn như trẻ thơ.

Đêm đó, đêm rằm tháng bảy, trời mưa rã rích, dì Kim lên cơn đau bụng quằn quại. Qúa nửa đêm, ông thầy thuốc Bắc được kêu tới nhưng không cứu kịp dì Kim. Dì Kim nằm lờ đờ trong vòng tay dì Sanh, đôi mắt còn mở tròn xoe nhìn chị như không thể hiểu chuyện gì đang xảy đến cho mình và vì sao sức sống từ trong cái bụng tròn căng của dì trào ra ngoài từng đợt như biển cạn rút kiệt.

Hết tuần tang, dì Sanh bị trả về cho ông bà ngoại. Dì Sanh không bao giờ nói với ai một lời nào nữa. Cho đến lúc dì đi. Cũng vào một đêm rằm tháng bảy, trời cũng mưa rã rích. Dì Sanh tắm rửa sạch sẽ từ chiều, mặc bộ đồ tơ tằm màu trắng thay thế cho bộ đồ tang màu đen mặc cả năm nay. Rồi nữa đêm, dì lặng lẽ ra đi. Dì Kim rủ dì Sanh đi, bà ngoại vừa khóc vừa nói.

Trong nhà không có một tấm hình nào của dì Sanh. Ông ngoại đã cho tháo hết đi và đốt theo mộ, "đốt hết mầm độc", ông cay đắng. Chỉ có hình của dì Kim cười tươi rói, áo dài trắng chít eo và tóc vấn bồng, ngồi ngoan ngoãn chắp hai tay trên gối. Đôi mắt qua nửa thế kỷ vẫn trong veo như soi vào lòng người.



3.

Mỗi lần mẹ kể đến đây, N đều bực dọc la lên:

- Cái thế kỷ ăn thịt người đó lụi tàn là phải rồi! Gặp con thì con đã đạp đổ hết cái nhà chồng oan gia rồi bỏ đi, làm gì có bi kịch nào kịp xảy ra.

Mẹ đăm đăm nhìn N, môi nở nụ cười mơ hồ:

- Con thiệt giống bà ngoại Ba.

- Bà ngoại Ba là đào hát cải lương, làm sao mà giống con được - N vùng vằng- mẹ hoang tưởng nữa rồi!

- Con giống cái tinh thần của ngoại Ba, không cam chịu, nổi loạn, quyết liệt, nói là làm. Nhiều lúc Mẹ thấy như ngoại Ba đang sống lại trong con. Những người tài hoa và đa đoan như ngoại Ba không đành lòng mà bỏ cuộc đời đi như vậy được!

- Mẹ kể cái đoạn ngoại Ba đóng tuồng Phụng Nghi Đình đi mẹ- N nằn nì.

- Ngoại Ba con bình thường không được sắc sảo lắm, mặt mày nhợt nhạt uể oải, nhưng mà đã lên sân khấu rồi thì chói lọi như ai nhập vào người- mắt mẹ long lanh màn sương kỳ ảo - Nhất là khi ngoại con vào vai Điêu thuyền trong tuồng Phụng Nghi Đình.



4.

Anh kép đóng vai Lã Bố mắt phụng mày ngài, mặt trắng sáp, đầu đội kim quan lóng lánh, mình mặc áo bào đỏ thêu trăm hoa, tay cầm phương thiên họa kích nghênh ngang tiến vào Phụng Nghi Đình. Lớp lớp con gái quê ngồi bên dưới rạp má đỏ hồng, tim đập rầm rập trong ngực, mắt như muốn nuốt lấy từng lời tư, ai, than vãn của anh chàng Lã Bố đẹp trai. Chợt tiếng rì rào trong rạp tắt lịm.

Rèm châu cuốn cao, Điêu thuyền trong xiêm áo hồng lóng lánh muôn ngàn kim sa vàng nhũ dìu dịu uyển chuyển lướt ra, môi chúm chím hình hoa anh đào, lấp ló hàng răng trắng, giọng ca trong veo thánh thót như chim oanh kêu, ai oán như chim hạc gọi:

"Khuyên quân tử bớt cơn nóng tánh

Để cho em cạn tỏ nguồn cơn

Có phải đâu em là kẻ phụ phàng

Lời giao ước lòng này ghi tạc."

Trống thúc dồn dập ba hồi tùng tùng, giấy bạc rắc trắng như mưa trên sân đình, ông ngoại ngồi cầm chầu, sau 3 hồi trống, thừ người chăm chắm theo khóe mắt thu ba lung linh đa tình của cô đào hát đóng vai Điêu Thuyền.

Ông ngoại đã gặp bà ngoại ba như vậy đó. Mối tình non của ông trả giá bằng một nửa ghe gạo, tiêu tốn vào những đêm đàn hát thâu đêm suốt sáng, khóc cười lẫn lộn, trên hoa dưới trăng để mua lòng cô đào hát cải lương trẻ măng kiêu hãnh lạ lùng!

Bà ngoại Hai đã làm 1 đám cưới nở mày nở mặt giới thiệu trang trọng cô vợ thứ ba với họ hàng bên chồng và quan chức địa phương bằng 3 đêm liền hát cải lương linh đình rộn rã ...

Nghe nói đó là sự kiện của cả 1 vùng.

 

Cuối cùng, Bà ngoại ba đào hát không thể ở quá lâu trong 1 thị trấn buồn thiu tỉnh lẻ như Phan, trong 1 ngôi nhà cổ đối diện với pháp trường cát của Tây, mỗi chập choạng tối lân tinh lập lòe bay lên từ bải bắn làm những người yếu bóng vía phải rùng mình sỡn ốc.

 

Dần dần bà ngoại ba bị bịnh nặng và nằng nặc đòi về lại Sài Gòn. Bà nhớ nhung ánh đèn sân khấu cải lương đến mòn mỏi mỗi đêm và thèm được trang điểm lộng lẫy đứng trên sân khấu giữa những tràng vỗ tay ròn rã và những đôi mắt khao khát ngưỡng mộ bao bọc vuốt ve niềm tự mãn của tuổi trẻ... Tất cả đã làm bà chết mòn mỗi ngày!

 

Lúc bà ngoại ba qua đời, ông ngoại không ở bên cạnh. Ông đang đắm chìm vào một cuộc tình mới với một người đàn bà mặn mòi ven biển Nha trang! Ông ngoại rải đều mỗi một vùng đất mới ông đi qua các cuộc tình và những người đàn bà càng lúc càng thêm trẻ, thêm lạ.

Bà ba trút hơi thở trong vòng tay của bà ngoại hai. Đêm đó mưa gió như điên cuồng.

Bà ngoại ba được chôn cất ở cuối vườn, trên mộ mọc một dây hoa đậu biếc. Mỗi đêm mưa gió giông bảo đầy trời, tiếng gió rú rít trên những hàng cau, tàu chuối rũ rượi nghe như giọng nam ai rền rĩ.



5.

- Kỳ này dì Kim về thăm nhà có bế theo em bé - mẹ rụt rè nói với N sáng hôm sau - thằng nhỏ coi thiệt ngộ con à.

N rùng mình. Một nỗi bực dọc điên cuồng chặng ngang cổ.

- Thằng nhỏ rốt cục thì giống ai? giống Dì Sanh, dì Kim, hay dượng Sanh? - N lạnh lùng hỏi.

- Mẹ không biết, mẹ chỉ thấy nó đẹp như tiên đồng, mà dì Kim và dì Sanh thì cười tươi lắm. N à, hay là mình giữ lại căn nhà này được không con? - giọng mẹ rụt rè như có lỗi.

- Mẹ, nhà này là nhà thừa tự- N gần như muốn hét lên- mẹ biết rồi, mình phải có hàng chục chữ ký để sở hữu được nó. Thậm chí có mấy cậu ở tận Cali, Úc. Con muốn mua mảnh vườn khác cho mẹ ở gần con. Con mệt mỏi chuyện chạy đi chạy về lắm rồi.

N phải cực nhọc nuốt câu nói giận dữ cuối cùng ngược lại vào trong bụng- và chán thấy mẹ nửa tỉnh nửa mê như thế này lắm rồi!

- Mẹ không nỡ bỏ nơi này đi con à. Mẹ đi rồi, ở đây ai lo cho mấy dì mấy cậu, rồi ngoại Hai, ngoại Ba. Có mẹ, nhà có hơi ấm, ông bà còn có chỗ đi về.

N gắt gỏng:

- Mẹ nghĩ vậy thôi, mấy người đó đầu thai qua kiếp khác hết trơn rồi. Hơn 50 năm rồi, xương cốt còn tiêu huống chi là linh hồn!

N giật mình, mặt mẹ co rúm lại đau dớn, hai dòng nước mắt chảy chầm chậm từ khóe mắt mẹ, đục ngầu:

- Mẹ, con xin lỗi. Mà con nói thiệt tình. Con không yên tâm thấy mẹ cứ sống với người chết như thế này.

N nặng nề vác ba lô leo lên tàu. Còn những hai tiếng đồng hồ nữa tàu mới khởi hành về Sài Gòn. N không muốn ngồi lâu hơn với mẹ trong căn nhà đầy ắp ký ức và phảng phất mùi xưa cũ ẩm mốc, ngồi chen nhau với màn độc thoại nói cười giữa các linh hồn và mẹ.

N lục lọi ba lô lôi cái điện thoại ra bấm số của anh Hai. Sau hồi chuông đổ dài, N tuôn một tràng với anh Hai không kịp cả chào hỏi:

- Hai, em chịu hết nỗi rồi đó. Em đang ở Phan. Biết ngay là mẹ lại về đây ở mấy tuần liền. Bây giờ lại mắc thêm cái bệnh nói cười lẫn lộn với người chết nữa mới điên chứ. Sao già rồi không hưởng nhàn hạ, hạnh phúc như người ta mà hành hạ thân mình chi cho khổ quá vậy không biết nữa!

Đầu dây bên kia chỉ nghe im lặng thật lâu. N thắc thỏm:

- Hai, nghe em nói không? giờ Hai tính sao đây?

- Anh nghĩ mẹ không sao đâu N à. Mẹ còn được sống với những người cùng thời với mẹ. N nghĩ lại coi, N đang sống đây mà cứ than lạc lõng, cô đơn ngay trong thời đại của mình. N với mẹ, anh không chắc ai hạnh phúc hơn ai.

UYÊN LÊ

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 595)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 458)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1231)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1261)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1112)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 983)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3193)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2533)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16693)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15693)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16125)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1261)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3193)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2968)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1112)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5178)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7165)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6472)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 595)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 458)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1231)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2533)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2356)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2192)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2364)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2401)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 983)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13482)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29575)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35673)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12617)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3195)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3387)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4041)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7723)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7066)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9798)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.