- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,732

NHỚ MỘT DÒNG SÔNG

27 Tháng Ba 20193:06 CH(Xem: 8297)


SAI GON - photo Quy SG
Sài Gòn - ảnh Quý SG

NHỚ MỘT DÒNG SÔNG

 

"Ta rồi lạc mất quê hương cũ

Làm sao tìm lại một dòng sông ?"

 

 

Một lần thăm lại dòng sông cũ

Nhìn nắng đổ dài trên bến xưa

Ngỡ chừng mây cũng chùng xuống thấp

Cho lòng trĩu nặng ấu thơ mưa.

 

Dòng sông  vẫn là dòng sông cũ

Nghiêng nghiêng soi bóng những hàng dừa

Xuồng ai neo bến chòng chềnh sóng

Xin chở ta về năm tháng xưa.

 

Trở về một thuở vô tư lắm

Có con chuồn đỏ đậu trên tay

Hồn nhiên cười khóc trong nắng gió

Yên bình lá hát với dòng sông.

 

Trở về để gặp mình thơ bé

Chân trần chạy khắp cả triền sông

Mỏi mê nằm xuống bờ cỏ dại

Ngắm trời xanh biếc trải mênh mông.

 

Trở về nghe sóng rì rào vỗ

Hít đầy hương gió lẫn phù sa

Đàn bầu ai khảy buồn điệu lý

Cho bé con chìm trong giấc mơ.

 

Trở về tắm giữa dòng sông cũ

Uống từng ngụm nước của quê hương

Bâng khuâng nước mắt ta rơi xuống

Nhạt nhoà cả một ấu thơ mưa.

 

 

Biển Cát.

 

 

 

 

CHẢY QUA NUỐI TIẾC

 

 

Lòng không như gió

Nên chẳng cuốn trôi

Những mùa xa xôi

Chẳng còn trở lại.

 

Có bàn chân chạy

Qua những cánh đồng

Lúa trổ đòng đòng

Môi thơm ngậm sữa.

 

Có tiếng gà trưa

Vang trong tĩnh lặng

Khúc mương yên ắng

Nhẹ tiếng dầm khua.

 

Nhịp võng mẹ đưa

Êm đềm giấc ngủ

Câu ca dao cũ

Còn vọng lời ru.

 

Đến mãi thiên thu

Vẫn còn thương nhớ

Con sông bồi lở

Nặng trĩu phù sa.

 

Cho đất đơm hoa

Trổ vàng bông cải

Mùa xuân nắng rải

Ươm những mầm xanh.

 

Vườn trái trĩu cành

Đất lành chim ngụ

Có ai trốn ngủ

Đợi tiếng chim gù.

 

Mỏi bước phiêu du

Trở về nơi cũ

Chiều tàn nắng rũ

Quạnh vắng vườn hoang.

 

Quá đỗi muộn màng

Chỉ còn nỗi nhớ

Nghe mùa trăn trở

Trên mái ngói khô.

 

Dòng sông cơ hồ

Chảy qua nuối tiếc

Lưng trời thê thiết

Một tiếng quạ kêu.

 

Biển Cát.

 

 

KHI CHẲNG CÒN NHAU

 

Về đi nhé người về đi nhé

Một mình ta đứng lặng một mình ta

Đêm nhoà nhạt bóng người dần khuất

Ngẩn trông vời giọt lệ nào rơi.

 

Bàn tay vẫy lưng chừng bàn tay vẫy

Buông xuống rồi còn đau buốt những ngón tay

Gọi tên người nghẹn ngào trên môi đắng

Tiễn người về buồn đã xanh xao.

 

Mai xa lắc nửa vòng trái đất

Hắt hiu ngày lạc mất cả đời nhau

Nắng và gió ủ sầu ta mòn mỏi

Nơi người về là chốn không nhau.

 

Vừa giã biệt lòng đã cuồn cuộn nhớ

Mai xa rồi chỉ còn gặp trong mơ

Chập chùng sóng chập chùng sóng vỡ

Chia một đời dài da diết những âm quên.

 

Biển Cát.

 

 

TỪNG NGÓN TAY RÃ RỜI

 

Sao người không là nắng để ngày tôi thắp

Để bình minh thênh thang trên thảm cỏ non xanh

Nhẹ vờn lá bước chân chim chuyền lích chích

Rung những giọt sương đầu ngày rất đỗi mong manh.

 

Sao người không là gió để tôi co ro bờ vai lạnh

Nép vào một vòng tay ngỡ đời thật bình yên

Nào biết được ngoài kia là khốn khó

Là những tháng ngày đầy những truân chuyên.

 

Sao người không là bờ cát dài cho thuyền tôi ghé bến

Neo lại nơi này khi sóng lặng trời quang

Nghe biển vỗ bao dung không dập dồn giông tố

Một tiếng yêu người dào dạt những âm vang.

 

Sao người không là đêm để ru tôi bằng đàn nguyệt

Cho vầng trăng lung linh nghiêng xuống mặt hồ êm

Những sợi tóc thơm đổ trên vai người rã rượi

Dịu dàng nụ hôn chao gợn nước im lìm.

 

Và nghìn lần nghìn lần trong xót xa tôi thầm hỏi

Người ở đâu người trôi dạt nơi đâu

Đời là sóng và người là con nước

Con nước xa bờ về một cõi không nhau.

 

Trong bóng tối quạnh hiu tôi đứng chơ vơ lặng lẽ

Không có một ánh trăng không có một bờ vai

Không có gió gọi đêm dài khép lại

Mãi mãi không có một bình minh nào thắp nắng cho tôi.

 

Còn thấy gì mai đây hỡi người yêu dấu

Làm sao tôi vỗ về mình khi nỗi nhớ khôn nguôi

Bàn tay tôi xòe ra những ngón rã rời

Chợt đau buốt khi không còn bàn tay người ủ ấm.

 

 

Biển Cát.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5813)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13157)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30002)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81104)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”