- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,533,543

NHỚ MỘT DÒNG SÔNG

27 Tháng Ba 20193:06 CH(Xem: 6674)


SAI GON - photo Quy SG
Sài Gòn - ảnh Quý SG

NHỚ MỘT DÒNG SÔNG

 

"Ta rồi lạc mất quê hương cũ

Làm sao tìm lại một dòng sông ?"

 

 

Một lần thăm lại dòng sông cũ

Nhìn nắng đổ dài trên bến xưa

Ngỡ chừng mây cũng chùng xuống thấp

Cho lòng trĩu nặng ấu thơ mưa.

 

Dòng sông  vẫn là dòng sông cũ

Nghiêng nghiêng soi bóng những hàng dừa

Xuồng ai neo bến chòng chềnh sóng

Xin chở ta về năm tháng xưa.

 

Trở về một thuở vô tư lắm

Có con chuồn đỏ đậu trên tay

Hồn nhiên cười khóc trong nắng gió

Yên bình lá hát với dòng sông.

 

Trở về để gặp mình thơ bé

Chân trần chạy khắp cả triền sông

Mỏi mê nằm xuống bờ cỏ dại

Ngắm trời xanh biếc trải mênh mông.

 

Trở về nghe sóng rì rào vỗ

Hít đầy hương gió lẫn phù sa

Đàn bầu ai khảy buồn điệu lý

Cho bé con chìm trong giấc mơ.

 

Trở về tắm giữa dòng sông cũ

Uống từng ngụm nước của quê hương

Bâng khuâng nước mắt ta rơi xuống

Nhạt nhoà cả một ấu thơ mưa.

 

 

Biển Cát.

 

 

 

 

CHẢY QUA NUỐI TIẾC

 

 

Lòng không như gió

Nên chẳng cuốn trôi

Những mùa xa xôi

Chẳng còn trở lại.

 

Có bàn chân chạy

Qua những cánh đồng

Lúa trổ đòng đòng

Môi thơm ngậm sữa.

 

Có tiếng gà trưa

Vang trong tĩnh lặng

Khúc mương yên ắng

Nhẹ tiếng dầm khua.

 

Nhịp võng mẹ đưa

Êm đềm giấc ngủ

Câu ca dao cũ

Còn vọng lời ru.

 

Đến mãi thiên thu

Vẫn còn thương nhớ

Con sông bồi lở

Nặng trĩu phù sa.

 

Cho đất đơm hoa

Trổ vàng bông cải

Mùa xuân nắng rải

Ươm những mầm xanh.

 

Vườn trái trĩu cành

Đất lành chim ngụ

Có ai trốn ngủ

Đợi tiếng chim gù.

 

Mỏi bước phiêu du

Trở về nơi cũ

Chiều tàn nắng rũ

Quạnh vắng vườn hoang.

 

Quá đỗi muộn màng

Chỉ còn nỗi nhớ

Nghe mùa trăn trở

Trên mái ngói khô.

 

Dòng sông cơ hồ

Chảy qua nuối tiếc

Lưng trời thê thiết

Một tiếng quạ kêu.

 

Biển Cát.

 

 

KHI CHẲNG CÒN NHAU

 

Về đi nhé người về đi nhé

Một mình ta đứng lặng một mình ta

Đêm nhoà nhạt bóng người dần khuất

Ngẩn trông vời giọt lệ nào rơi.

 

Bàn tay vẫy lưng chừng bàn tay vẫy

Buông xuống rồi còn đau buốt những ngón tay

Gọi tên người nghẹn ngào trên môi đắng

Tiễn người về buồn đã xanh xao.

 

Mai xa lắc nửa vòng trái đất

Hắt hiu ngày lạc mất cả đời nhau

Nắng và gió ủ sầu ta mòn mỏi

Nơi người về là chốn không nhau.

 

Vừa giã biệt lòng đã cuồn cuộn nhớ

Mai xa rồi chỉ còn gặp trong mơ

Chập chùng sóng chập chùng sóng vỡ

Chia một đời dài da diết những âm quên.

 

Biển Cát.

 

 

TỪNG NGÓN TAY RÃ RỜI

 

Sao người không là nắng để ngày tôi thắp

Để bình minh thênh thang trên thảm cỏ non xanh

Nhẹ vờn lá bước chân chim chuyền lích chích

Rung những giọt sương đầu ngày rất đỗi mong manh.

 

Sao người không là gió để tôi co ro bờ vai lạnh

Nép vào một vòng tay ngỡ đời thật bình yên

Nào biết được ngoài kia là khốn khó

Là những tháng ngày đầy những truân chuyên.

 

Sao người không là bờ cát dài cho thuyền tôi ghé bến

Neo lại nơi này khi sóng lặng trời quang

Nghe biển vỗ bao dung không dập dồn giông tố

Một tiếng yêu người dào dạt những âm vang.

 

Sao người không là đêm để ru tôi bằng đàn nguyệt

Cho vầng trăng lung linh nghiêng xuống mặt hồ êm

Những sợi tóc thơm đổ trên vai người rã rượi

Dịu dàng nụ hôn chao gợn nước im lìm.

 

Và nghìn lần nghìn lần trong xót xa tôi thầm hỏi

Người ở đâu người trôi dạt nơi đâu

Đời là sóng và người là con nước

Con nước xa bờ về một cõi không nhau.

 

Trong bóng tối quạnh hiu tôi đứng chơ vơ lặng lẽ

Không có một ánh trăng không có một bờ vai

Không có gió gọi đêm dài khép lại

Mãi mãi không có một bình minh nào thắp nắng cho tôi.

 

Còn thấy gì mai đây hỡi người yêu dấu

Làm sao tôi vỗ về mình khi nỗi nhớ khôn nguôi

Bàn tay tôi xòe ra những ngón rã rời

Chợt đau buốt khi không còn bàn tay người ủ ấm.

 

 

Biển Cát.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 3761)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 10782)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
17 Tháng Tư 202112:36 SA(Xem: 379)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
16 Tháng Tư 202110:26 CH(Xem: 317)
Vô cùng tiếc thương người bạn thời trung học / Ông NGUYỄN NHƯ HÂN / Sinh năm 1956. Quê quán: Hòa Hiệp Bắc- Liên Chiểu- Đà Nẵng /Đã từ trần vào ngày 13 tháng 4 năm 2021 / Hưởng thọ 66 tuổi Lễ an táng được cử hành vào ngày 18 tháng 4 năm 2021 tại Đà Nẵng Việt Nam
15 Tháng Tư 202112:27 SA(Xem: 293)
Chiếc xe gài số lui ra khỏi sân nhà, ngang mấy hàng lan Hoa Hậu và gốc nhãn đang đậu trái nhỏ li ti, thành chùm. Tôi hỏi: Xe nhà mình lúc đó là xe gì? Ba nói Con không nhớ sao? Tôi gấp lại dãi khăn tang trắng. Hôm mãn tang Ba, ở chùa về, tôi đã định đốt dãi khăn trong lò sưỡi. Tháng này trời Cali chưa chiều đã nhá nhem. Tôi để cuộn khăn trở lại bàn nhỏ cạnh đầu giường. Ba không còn ngồi trên ghế gần cửa ra vào. Trong phòng còn có mình tôi.
15 Tháng Tư 202112:16 SA(Xem: 348)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.
15 Tháng Tư 202112:10 SA(Xem: 372)
LTS: Một năm rưỡi trước khi từ trần, tướng Trần Độ đã hoàn thành một tập nhật ký mà ông đặt tên là Nhật Ký Rồng Rắn: bắt đầu từ cuối năm 2000, viết xong tháng 5 năm 2001. Nhật ký Rồng Rắn là một bút ký chính trị trong đó, với tất cả tâm huyết, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về các vấn đề chính trị của đất nước. Tháng 6.2001, Trần Độ vào Sàigòn thăm con và nhờ người đánh máy bản thảo. Ngày 10.6, ông đi lấy bản thảo, bản vi tính và sao chụp thành 15 bản. Trên đường về nhà, ông bị tịch thu toàn bộ các bản thảo và bản in chụp, xem là "tang chứng" của tội "viết và lưu hành tài liệu xấu". Cho đến ngày từ trần 9.8.2002, tướng Trần Độ không được trả lại nhật ký của mình. Trích đoạn dưới đây là một phần của nhật ký này. {theo tạp chí Diễn Đàn}.
14 Tháng Tư 20216:58 CH(Xem: 492)
Từ trung tâm Luân Đôn, hãng tuyển dụng do tòa báo X thuê gọi cho một nhà báo là tài năng của hãng BBS (Bờ bờ Sông) có trụ sở quốc gia đặt tại xứ Tô Cách Lan: “Này, bọn keo đó trả cô cậu bao nhiêu một năm?” “Dạ ngần này ạ”, tài năng đáp. “Cái gì? Thật chó chết! À, chỉ định nói là chết tiệt thôi, gấp rưỡi nhé?”, nhà tư vấn tuyển dụng bảo. “Ôi tuyệt vời ạ! Em đang trên mặt Trăng ư?,” tài năng đáp, ngất ngây.
14 Tháng Tư 20216:52 CH(Xem: 382)
Ngày tôi theo chồng đến thành phố này sinh sống, vì thường nhớ nhà nên tôi cũng thường khóc bởi cảnh vật nơi đây quá im lìm và hoang vắng đúng như cái tên Buồn Muôn Thuở mà người nào đó đã đặt. Tôi có nhiều bạn ở quê nhà nhưng ở thành phố này tôi chưa có bạn. Người bạn gái đầu tiên tôi quen là người Thượng còn rất trẻ tên là Sai Luông. Sai Luông một tuần một lần đem rau muống từ trong buôn làng của cô ra chợ Ban Mê Thuột bán. Sai Luông chỉ bán mỗi một thứ là rau muống thôi. Mỗi lần đi bán như vậy, Sai Luông gùi trên lưng hai mươi lăm bó, có đôi khi hơn được một vài bó. Tôi nghĩ, Sai Luông bán như vậy sẽ không được bao nhiêu tiền nên tôi thường mua ủng hộ mỗi lần ba bốn bó. Mua riết rồi Sai Luông và tôi quen nhau.
12 Tháng Tư 202111:48 CH(Xem: 370)
Thầy tôi là anh trai tráng trong làng, học cuối đệ nhất cấp, lớp đệ tứ, tức lớp 9 bây giờ, thầy về làng dạy học. Ngôi trường- đình làng đó cách xa với khu dân cư, nó tọa lạc trong khu đất rộng. Ban ngày, khu đó náo nhiệt với lũ học trò chúng tôi, quậy lên đó không khí của sự sống, vô tư hồn nhiên. Nhưng khi bóng chiều buông xuống thì khu đình đó bước sang một thế giới khác, thế giới của loài dơi, của lũ chim ăn đêm và là thế giới của sự tưởng tượng, hoang tưởng phong phú của con người.