- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Sói Đồng Hoang

13 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 131156)

Tên anh là gì tôi không biết, nhưng tôi quen anh qua một trang tìm bạn bốn phương với cái tên đẹp đẽ Vũ Quang. 

Những năm 1972, 1973 chiến trường nào cũng sôi động. Tôi sống ở Sài Gòn ngày ngày hồn nhiên đi học, ngày ngày không biết gì về cuộc chiến vẫn rình rập quanh phố thị. 

Những cuộc xuống đường khi tôi còn học ở trường Trung học Hưng Đạo Sài Gòn lại mơ hồ và sôi nổi giống như một trò đùa. Cảnh sát cầm dùi cui đứng gác ở cổng trường và các lớp học. Tên xách động bị cảnh sát dí leo lên tầng cao nhất dọa nhảy xuống. Cảnh sát dã chiến lùa đám nữ sinh ra cổng phụ của trường khi cổng chính đã khóa chặt. Những tà áo dài trắng chạy rối rít chen nhau ra cổng như những con vịt trắng bị lùa trên cánh đồng. Chỉ có khác một điều là chúng tôi không kêu lên quàng quạc. Đám nam sinh các lớp lớn hơn thì phấn khích leo và nhảy qua cửa sổ, tràn ra các hành lang. Chúng tôi cứ chạy cho đến khi nghe tiếng nổ của lựu đạn cay và dường như sắp ngất vì ngộp thở và cay mắt tôi mới gục xuống che đầu mình vào hai cánh tay. Mở mắt ra được mới thấy mình đang ngồi quỵ trước rạp hát Thăng Long.

Tuy thế, đối với lứa tuổi ấy, tôi vẫn chưa chạm mặt với chiến tranh,vì họ bắn giết nhau từ đâu đó, những vùng xôi đậu bao quanh bằng những hàng rào kẽm gai. Còn thành phố, nhất là thủ đô Sài Gòn thì hầu như chiến tranh cũng bị che khuất bởi những đòn tâm lý chiến.

Tất cả bị ru ngủ với các bài ca sến sướt mướt dành cho lính và hậu phương.

Giới trí thức có học hành ít nhiều thì hầu như say ngủ cùng các bài phản chiến của Trịnh Công Sơn, tình ca bi lụy thiết tha của Ngô Thụy Miên, Từ công Phụng. Hoặc điên điên tàng tàng với thuyết hiện sinh, hippy, J. P. Sartre, Nietzsche và… Phạm công Thiện.

Hầu như, đó là một thời mà không khí chiến tranh lãng mạn phủ ngập cả miền Nam nước Việt. Sống đầy đủ, dư thừa vật chất từ người Mỹ đổ vào, một công chức như ba tôi với chức vụ Trưởng Ban Cải Huấn của một trại giam đã có thể nuôi mười đứa con ăn học ngon lành, nhà tôi có đến hai người giúp việc. Vì má tôi cứ đẻ sòn sòn năm một. 

*

Trong một lá thư, anh viết. Anh đã chứng kiến thằng bạn thân nhất ăn một viên đạn vào đầu, mắt nó còn tròn xoe kinh ngạc, nó hớp những hơi thở cuối cùng trước sự hoảng loạn của anh. Anh tê dại ôm đầu nó vào lòng kêu tên nó khản hơi và khóc rống như một mụ đàn bà bị chồng bỏ rơi. Tên thằng bạn anh là Vũ Quang. Từ đó anh trở thành Vũ Quang. 

Thư anh viết về cho tôi hàng đống. Chữ viết đẹp. Đôi khi có vài bức họa bằng màu nước nho nhỏ dễ thương. Anh gọi tôi là đóa hoa vô thường. Hoặc có khi gào lên “có phải em đã về từ tiền kiếp?” 

Anh thường nhắc đến Vũ Quang, cũng như anh không hề chấp nhận nổi sự ra đi như một con chó bị bắn vào đầu như vậy. Bởi với anh Vũ Quang là một con người. Hiển nhiên là một chàng trai tân khỏe mạnh yêu đời, luôn ca hát nghêu ngao và quá yêu cuộc đời này. Nếu không có cái cuộc chiến tù mù chó đẻ này thì có lẽ hai thằng vẫn còn đang khoác vai nhau chiều chiều tán gái long nhong. Hoặc đêm đêm hì hục gò từng nét chữ cho những lá thư tình lãng mạn.

Em ơi phố thị chiều mưa

Ôm em sao hết sao vừa tay anh? 

Hơn một năm sau đó, tôi thường hỏi anh sao không về Sài Gòn thăm em?

Không về với phố à? Không về với những đêm vui sao? Tìm chút nhẹ nhàng cho lòng mình với chứ? Không yêu em à? Tất cả những mời gọi đều là câu trả lời KHÔNG.

Anh nói anh đã mọc nanh, mọc lông khắp người, móng vuốt thò ra, và hơn hết là hơi thở anh đã tanh mùi máu. Anh thèm uống máu trả thù. Ngày ngày anh chỉ khoái bắn đại bác về cánh đồng hoang trước mặt, bắn cho đến khi chuột cũng chết hết, cỏ không mọc nổi, đến dế cũng tắt tiếng dù có khi những đêm mưa anh cũng thèm nghe chúng nó hòa tấu. 

Những lá thư sau nầy của anh đều được anh ký là sói - đồng - hoang. 

Nhưng rồi cái bản năng yêu đương của gã trai trong anh cũng cuồng lên như loài sói mùa động tình. Anh kêu tôi gọi tôi thậm chí vừa tru vừa khóc. Anh thèm làm người lại rồi. Anh nói như vậy. Thiết tha đến cảm động. Mà thật ra tôi cũng thèm được chữa lành cho anh cái vết thương chí mạng mà thằng bạn thân của anh để lại, mà cuộc chiến tầm phào anh phải dự phần đã tàn phá gần hết kiếp người của anh, không biết đến bao giờ trên những cánh đồng chó chết của chiến tranh. 

Tôi đã điên cuồng chạy về phía anh theo tấm bản đồ mà anh ghi nơi đóng quân, ở một chỗ nào đó gần mặt trận Tây Ninh, nơi đang tàn khốc nhất của các mặt trận mà không ai dám đến, nếu không phải là người lính. 

Xe đò thả tôi xuống một con đường khô khốc đầy nắng và đất vụn lởm chởm.

Nắng là thứ nhiều nhất ở đây. Nó ướp cả con đường nhỏ xa hút tầm nhìn bằng cái màu vàng hực hỡ kiêu căng của nó. Có tiếng ì ầm của đại bác từ xa vọng lại làm tôi hoang mang. Tôi nhìn về phía cánh đồng và chờ đợi. May quá, có chiếc xe jeep từ trong con đường đất chạy ra. Và tôi được đưa vào trong đó, vì anh đang đợi tôi, người lính của anh nói vậy. 

Có rất nhiều cái hầm được đào sâu dưới đất, bên trên chỉ là những bao cát che chắn làm nắp hầm trú ẩn. Tôi cúi người chui vào một cái hầm như vậy. Thật bất ngờ khi tôi nhìn thấy một sĩ quan mặc đồ rằn ri và một cô gái dáng người chắc đậm đang cùng ngồi bên nhau trên cái giường bố nhỏ hẹp. Anh đứng lên bắt tay tôi và giới thiệu cô bạn với tôi. Anh nói cô cũng mới từ Sài Gòn lên thăm anh. Họ dọn ra bánh mì cùng vịt quay và chúng tôi dùng bữa. Sau đó cô gái ra về. Cô lạnh lùng chào tôi kiêu ngạo. Khuôn mặt bự phấn son đầy vẽ thỏa mãn. 

Cô gái về một lát thì anh bỗng tái xanh mặt nằm vật ra giường. Anh kêu đau đầu và nói đang say thuốc lắm, vì muốn mau hết đau nên đã uống thuốc quá liều. Rồi anh chồm lên chửi đổng những tiếng đạn pháo đang vọng về làm cho anh điên tiết. Nó là một nhắc nhở quá bẩn thỉu trong lúc này, trong lúc anh đang đón người yêu. Nó làm anh rơi tõm từ đám mây nhiều màu xuống cái vũng lầy ngập ngụa thực tại. Anh xin lỗi tôi vì đủ mọi thứ. Về cô gái đang theo đuổi anh. Về cái thằng người chó đẻ của anh. Em trong sáng lắm. Em là thiên thần để cho anh biết mình là quỷ sứ. Em biết không anh… đã…, anh… vừa mới làm tình với cô gái ấy. Em biết không anh phải dọn sạch cái thứ nhục dục bẩn thỉu của mình đi trước khi gặp em đó, em có biết đó là cái quái gì không? Đóa hoa vô thường của anh! 

Rồi anh khóc rưng rức trong lòng tôi. Mồ hôi và mùi bia từ người anh lan tỏa trong tôi một thứ cảm xúc ngây ngất kỳ lạ. Tôi vuốt những sợi tóc của anh nhẹ nhàng xoa dịu cơn thống khổ của một con sói không còn có chỗ quay về. Như mọi gã trai trong thời chiến, vô vọng và điên cuồng trước số phận.

Anh trắng trẻo và xanh xao. Bàn tay trái chỉ còn ba ngón. Anh ngồi dựa vào tôi hút thuốc lá. Rồi anh ném khúc thuốc đi và nhìn tôi. Sau đó anh trìu mến đặt tôi nằm dài ra giường. Anh nằm đè lên người tôi. Anh nói . Anh muốn yêu em quá…bờ môi anh lạnh ngắt… Nhưng hãy cho anh được như thế này thôi. Hôn lên những ngón tay em thôi nhé??? Thôi em về đi. Về thành phố mà lo học hành. Làm một cô giáo hay là lấy một thằng kỹ sư nào đó. Đừng lấy mấy thằng lính như anh.

Tôi đã có cảm giác sợ hãi trước anh. Và thêm một chút xót xa khó hiểu. Anh không còn là Vũ Quang mềm yếu trong những lá thư, dù đôi khi anh có hằn học một chút khi viết về cuộc chiến, thân phận con người, có thể là những khi say. Tôi ngồi lên và buộc lại mái tóc dài của mình bằng cái khăn tay nhỏ. Tôi tựa lưng vào vách hầm. Những tấm carton loang lổ được dắt xen kẽ nhau để che khuất mấy cái bao cát. Một cái ba lô của lính treo lủng lẳng. Tôi thò tay vào đó lôi ra cuốn sổ màu đen. Tôi e là nhật ký của anh nên không dám mở. Nhưng vài tấm hình lại rơi ra từ đó. Tôi cầm lên xem. Là hình của tôi. 

Vũ Quang tự làm tỉnh mình bằng ly đá chanh do người lính đem tới. Tôi được một ly cà phê đá. Ở chỗ đồng không cỏ cháy này, đối mặt với vi xi ở phía bên kia mặt trận, dưới những cái hầm, cả hai bên, tôi thấy đều như chuột, dù anh không chịu như vậy, vẫn muốn mình là sói. Ý nghĩ nầy khiến tôi bật cười một mình. Vũ Quang đang trò chuyện với một thiếu úy. Có lẽ đang truyền đạt lệnh gì đó mà tôi thấy anh này dạ dạ luôn miệng. Nghe tôi cười Vũ Quang quay lại nhướng mày hỏi. Tôi khoa tay ra ý không có gì. Anh liền giới thiệu người thiếu úy. Đây là Kha. Ca sĩ của tụi anh. Ê! Kha, kiếm cây đàn vô chơi một tí. Có vài tiếng nổ uỳnh oàng từ xa vọng lại làm tôi lo lắng. Vũ Quang rít hơi thuốc lá thản nhiên. Không sao đâu em, thỉnh thoảng tụi anh phải nổ vài cái cho lũ việt cộng biết là tụi anh vẫn còn đây. Tôi rụt rè. Anh ơi, họ ở có gần lắm không? Anh vung tay. Tít mù trong rừng kia, em đừng sợ bà xã của anh à.

Câu nói trấn an và âu yếm của anh làm tôi vui lên. Vũ Quang cũng đã điềm tĩnh trở lại. Ly đá chanh có lẽ đang phát huy hiệu lực. Anh lúc bấy giờ mới nhìn tôi thật ấm áp làm tôi sượng sùng nóng ran cả đôi má. Tôi đang nhớ lại lúc nãy khi Vũ Quang trong cơn say thuốc đã hơi quá trớn với mình, mà tôi thì lại không có chút kháng cự. Tôi có yêu anh không, tôi không biết. Đây là lần gặp đầu tiên sau gần một năm thư từ qua lại. Anh không gởi cho tôi tấm hình nào. Nhưng tôi đã không cần biết mặt anh từ lâu, vì trong sâu thẳm của hai tâm hồn, tôi và anh đã gần như quyện chặt lấy nhau và cho nhau trọn cả trái tim rồi còn gì. Tôi quá lãng mạn phải không? thật sự những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao, những Geoger Sand, những François Sagan đương thời đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều. Tôi thường chìm vào những giấc mơ tình ái buông thả đến mê đắm khi hay tưởng tượng về một người tình oai dũng lãng mạn như Vũ Quang. Và bằng lời thư thật hay, nét vẽ lãng mạn, tính cách ngang tàng, tất cả của tâm hồn anh đã như một lực hút mạnh khiến tôi gan góc bỏ thành phố leo lên xe đò tìm đến anh như một con điên. Dù tôi biết rằng anh đang ở trên mặt trận, tôi cũng không sợ, vì tôi không hình dung ra nó. Không phải tôi đã từng xem Cuốn Theo Chiều Gió sao? Tình yêu vô cùng lãng mạn trong chiến tranh chỉ bởi vì nó mong manh và tuyệt đẹp. 

Thiếu úy Kha bước vào, trên tay là cây guitar. Kha khá đẹp trai. Da màu đồng khỏe mạnh. Uống gì không anh em lấy. Kha nói. Kiếm cho anh vài chai con Cọp đi, cho vui.

Kha chui ra ngoài. Vũ Quang lại nhìn tôi. Em rất dễ yêu, nhỏ à.

Chuyện khi nãy?? anh xin lỗi nha??? Nhưng anh yêu em quá đó thôi.

Đừng nghĩ nhiều về chuyện đó nữa.

Tôi câm bặt không nói gì. Tôi vốn e thẹn và ít nói. Nhất là nói về cái điều đang ngợp trong lòng tôi lúc này. Hạnh phúc.

Kha đem bia vào định đi thì Vũ Quang kêu lại. Hát một bài cho bà xã mình nghe đi Kha. Một bài gì đó của Lê Uyên Phương đi. Cho Lần Cuối nhé?

Bài đó hơi buồn. Nhưng mà cũng đúng với mấy thằng lính như mình.

Cũng được đó Kha.

“… giờ nầy còn gần nhau, cầm chắc mối duyên bẽ bàng, cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng, cầm chắc nỗi thương đau…”

Trời, anh Kha hát hay quá, mà buồn thí mồ. Tôi nói. Rồi gượng cười.

Bàn tay ấm nóng của Vũ Quang đã cầm lấy tay tôi từ khi nào không biết nữa. 

Thời gian như ngưng lại cho những lứa đôi.

Tôi đọc câu nầy ở đâu không nhớ nhưng hiện tại thì tôi lại thấy thời gian không ngưng mà sao trôi qua nhanh quá.

Trong thoáng chốc tôi thấy mình hạnh phúc đến muốn tắt thở. .. 

Đã chiều rồi.

Thấy tôi ngó đồng hồ, Vũ Quang tiếc rẻ. Anh rất muốn em ở lại với anh đêm nay.

Nhưng anh biết là không thể. Thôi em về đi kẻo muộn.

Thiếu úy Kha đã lặng lẽ đi từ lúc nào. Tôi cứ thừ người ra không biết nói gì làm gì.

Ánh mắt anh như đốt tôi. Như nọc độc con ong chích vào thịt da đến tê dại. Bất giác tôi liếm môi mình. Tôi thú nhận là mình cũng khát khao anh. Muốn ở lại với anh một đêm quá. Muốn được anh ghì trong tay. Muốn … , trời đất! tôi điên rồi. Tôi còn muốn cả cái việc, như lúc nãy, anh nằm đè lên người tôi . .. Nhưng, .. 

Chiếc xe jeep lại lắc lư đưa tôi ra đường lộ lớn.

Tôi ngoái nhìn dáng anh từ từ khuất xa tầm mắt. Cái dáng dong dỏng cao, cô đơn đến kỳ lạ. Anh vẫy tay mãi để chào tôi.

Theo gió, tôi nghe tiếng con sói hét lên tạm biệt. 

**** 

Tôi gặp lại Kha ba tháng sau.

Không phải gặp đâu đó mà Kha đến tìm tôi tận trường học, sau buổi tan trường.

Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê thời thượng. Có nhạc Trịnh dịu vợi đầy ắp những giai điệu buồn lãng đãng của chiến tranh, thân phận, tình yêu. Đôi khi có xen vào một chút Phạm Duy đầy mê hoặc với bài hát như một cơn lên đồng: “Kỷ Vật Cho Em”.

Kỷ vật của Vũ Quang, mà không, tên anh bây giờ tôi đã biết, là Hữu Việt, để lại cho tôi chính là cuốn nhật ký bìa đen mà hôm nào tôi đã thấy nó trong ba lô của anh. Trong đó vẫn còn tấm hình tôi, nhưng nó đã bị xé làm tư làm tám và được dán lại bằng băng keo ngang ngang dọc dọc như băng bó một vết thương. Kha cười nửa miệng khi tôi tròn mắt nhìn. À, cái vụ này là do một cơn ghen ầm ĩ mà ra.

Kha giải thích. Một cô bồ trong vài cô bồ của Vũ Quang đã nổi ghen…với em mà xé tấm hình nầy. Vũ Quang đã cặm cụi dán lại. Tôi buồn rầu. Sao anh ấy nhiều bồ bịch vậy anh?

Đùa vậy thôi, lính tráng mà em, biết giờ nào đi mà hứa hẹn với ai. Có yêu thì cũng… để đó. Còn lại chỉ là tình hờ với các cô vũ nữ hoặc gái bán bar. Lính có tình yêu thật sự không anh. Có chứ. Nhưng đều dấu trong tim em à.

Tôi nhìn Kha qua ánh sáng mù mờ của quán. Có một cô gái nào đó trong phố thị như tôi cũng đang chờ Kha. Và trong tim Kha, cô ấy trong veo như thủy tinh. Dệt mộng và thương nhớ. Như tôi ư? 

Kha đưa tôi về. Mưa tháng tám lất phất bay. Tôi sợ hãi thấy mình chưa chịu khóc. Có gì đóng chặt cửa trái tim tôi lại. Có gì lạ lắm. Như cái cách con phù du cứ đập thân nó mãi vào khung cửa kính có ánh sáng. Và chết.

Chết? Vậy là anh không còn nữa sao Vũ Quang? chết ra sao? chết hồi nào? Có việc đó thật sao? Nó thế nào nhỉ?

Tôi bê người đi như say vậy. Loạng choạng. Và nó tới thật sảng khoái. Cơn khóc trụi lủi bỗng ào đến như một cơn mưa bất thần...

Âu Thị Phục An

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 997)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 958)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1343)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1156)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1380)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1464)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1433)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1294)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1886)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2019)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9362)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16168)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15182)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15526)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 997)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1343)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1380)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1886)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3647)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5473)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5019)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5659)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1156)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1464)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1763)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1733)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1433)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1294)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1521)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1581)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12229)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28593)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35102)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34985)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9764)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11955)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 958)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1343)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1886)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2018)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2325)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6982)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6399)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8345)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.