- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,592

Sói Đồng Hoang

13 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 94637)

Tên anh là gì tôi không biết, nhưng tôi quen anh qua một trang tìm bạn bốn phương với cái tên đẹp đẽ Vũ Quang. 

Những năm 1972, 1973 chiến trường nào cũng sôi động. Tôi sống ở Sài Gòn ngày ngày hồn nhiên đi học, ngày ngày không biết gì về cuộc chiến vẫn rình rập quanh phố thị. 

Những cuộc xuống đường khi tôi còn học ở trường Trung học Hưng Đạo Sài Gòn lại mơ hồ và sôi nổi giống như một trò đùa. Cảnh sát cầm dùi cui đứng gác ở cổng trường và các lớp học. Tên xách động bị cảnh sát dí leo lên tầng cao nhất dọa nhảy xuống. Cảnh sát dã chiến lùa đám nữ sinh ra cổng phụ của trường khi cổng chính đã khóa chặt. Những tà áo dài trắng chạy rối rít chen nhau ra cổng như những con vịt trắng bị lùa trên cánh đồng. Chỉ có khác một điều là chúng tôi không kêu lên quàng quạc. Đám nam sinh các lớp lớn hơn thì phấn khích leo và nhảy qua cửa sổ, tràn ra các hành lang. Chúng tôi cứ chạy cho đến khi nghe tiếng nổ của lựu đạn cay và dường như sắp ngất vì ngộp thở và cay mắt tôi mới gục xuống che đầu mình vào hai cánh tay. Mở mắt ra được mới thấy mình đang ngồi quỵ trước rạp hát Thăng Long.

Tuy thế, đối với lứa tuổi ấy, tôi vẫn chưa chạm mặt với chiến tranh,vì họ bắn giết nhau từ đâu đó, những vùng xôi đậu bao quanh bằng những hàng rào kẽm gai. Còn thành phố, nhất là thủ đô Sài Gòn thì hầu như chiến tranh cũng bị che khuất bởi những đòn tâm lý chiến.

Tất cả bị ru ngủ với các bài ca sến sướt mướt dành cho lính và hậu phương.

Giới trí thức có học hành ít nhiều thì hầu như say ngủ cùng các bài phản chiến của Trịnh Công Sơn, tình ca bi lụy thiết tha của Ngô Thụy Miên, Từ công Phụng. Hoặc điên điên tàng tàng với thuyết hiện sinh, hippy, J. P. Sartre, Nietzsche và… Phạm công Thiện.

Hầu như, đó là một thời mà không khí chiến tranh lãng mạn phủ ngập cả miền Nam nước Việt. Sống đầy đủ, dư thừa vật chất từ người Mỹ đổ vào, một công chức như ba tôi với chức vụ Trưởng Ban Cải Huấn của một trại giam đã có thể nuôi mười đứa con ăn học ngon lành, nhà tôi có đến hai người giúp việc. Vì má tôi cứ đẻ sòn sòn năm một. 

*

Trong một lá thư, anh viết. Anh đã chứng kiến thằng bạn thân nhất ăn một viên đạn vào đầu, mắt nó còn tròn xoe kinh ngạc, nó hớp những hơi thở cuối cùng trước sự hoảng loạn của anh. Anh tê dại ôm đầu nó vào lòng kêu tên nó khản hơi và khóc rống như một mụ đàn bà bị chồng bỏ rơi. Tên thằng bạn anh là Vũ Quang. Từ đó anh trở thành Vũ Quang. 

Thư anh viết về cho tôi hàng đống. Chữ viết đẹp. Đôi khi có vài bức họa bằng màu nước nho nhỏ dễ thương. Anh gọi tôi là đóa hoa vô thường. Hoặc có khi gào lên “có phải em đã về từ tiền kiếp?” 

Anh thường nhắc đến Vũ Quang, cũng như anh không hề chấp nhận nổi sự ra đi như một con chó bị bắn vào đầu như vậy. Bởi với anh Vũ Quang là một con người. Hiển nhiên là một chàng trai tân khỏe mạnh yêu đời, luôn ca hát nghêu ngao và quá yêu cuộc đời này. Nếu không có cái cuộc chiến tù mù chó đẻ này thì có lẽ hai thằng vẫn còn đang khoác vai nhau chiều chiều tán gái long nhong. Hoặc đêm đêm hì hục gò từng nét chữ cho những lá thư tình lãng mạn.

Em ơi phố thị chiều mưa

Ôm em sao hết sao vừa tay anh? 

Hơn một năm sau đó, tôi thường hỏi anh sao không về Sài Gòn thăm em?

Không về với phố à? Không về với những đêm vui sao? Tìm chút nhẹ nhàng cho lòng mình với chứ? Không yêu em à? Tất cả những mời gọi đều là câu trả lời KHÔNG.

Anh nói anh đã mọc nanh, mọc lông khắp người, móng vuốt thò ra, và hơn hết là hơi thở anh đã tanh mùi máu. Anh thèm uống máu trả thù. Ngày ngày anh chỉ khoái bắn đại bác về cánh đồng hoang trước mặt, bắn cho đến khi chuột cũng chết hết, cỏ không mọc nổi, đến dế cũng tắt tiếng dù có khi những đêm mưa anh cũng thèm nghe chúng nó hòa tấu. 

Những lá thư sau nầy của anh đều được anh ký là sói - đồng - hoang. 

Nhưng rồi cái bản năng yêu đương của gã trai trong anh cũng cuồng lên như loài sói mùa động tình. Anh kêu tôi gọi tôi thậm chí vừa tru vừa khóc. Anh thèm làm người lại rồi. Anh nói như vậy. Thiết tha đến cảm động. Mà thật ra tôi cũng thèm được chữa lành cho anh cái vết thương chí mạng mà thằng bạn thân của anh để lại, mà cuộc chiến tầm phào anh phải dự phần đã tàn phá gần hết kiếp người của anh, không biết đến bao giờ trên những cánh đồng chó chết của chiến tranh. 

Tôi đã điên cuồng chạy về phía anh theo tấm bản đồ mà anh ghi nơi đóng quân, ở một chỗ nào đó gần mặt trận Tây Ninh, nơi đang tàn khốc nhất của các mặt trận mà không ai dám đến, nếu không phải là người lính. 

Xe đò thả tôi xuống một con đường khô khốc đầy nắng và đất vụn lởm chởm.

Nắng là thứ nhiều nhất ở đây. Nó ướp cả con đường nhỏ xa hút tầm nhìn bằng cái màu vàng hực hỡ kiêu căng của nó. Có tiếng ì ầm của đại bác từ xa vọng lại làm tôi hoang mang. Tôi nhìn về phía cánh đồng và chờ đợi. May quá, có chiếc xe jeep từ trong con đường đất chạy ra. Và tôi được đưa vào trong đó, vì anh đang đợi tôi, người lính của anh nói vậy. 

Có rất nhiều cái hầm được đào sâu dưới đất, bên trên chỉ là những bao cát che chắn làm nắp hầm trú ẩn. Tôi cúi người chui vào một cái hầm như vậy. Thật bất ngờ khi tôi nhìn thấy một sĩ quan mặc đồ rằn ri và một cô gái dáng người chắc đậm đang cùng ngồi bên nhau trên cái giường bố nhỏ hẹp. Anh đứng lên bắt tay tôi và giới thiệu cô bạn với tôi. Anh nói cô cũng mới từ Sài Gòn lên thăm anh. Họ dọn ra bánh mì cùng vịt quay và chúng tôi dùng bữa. Sau đó cô gái ra về. Cô lạnh lùng chào tôi kiêu ngạo. Khuôn mặt bự phấn son đầy vẽ thỏa mãn. 

Cô gái về một lát thì anh bỗng tái xanh mặt nằm vật ra giường. Anh kêu đau đầu và nói đang say thuốc lắm, vì muốn mau hết đau nên đã uống thuốc quá liều. Rồi anh chồm lên chửi đổng những tiếng đạn pháo đang vọng về làm cho anh điên tiết. Nó là một nhắc nhở quá bẩn thỉu trong lúc này, trong lúc anh đang đón người yêu. Nó làm anh rơi tõm từ đám mây nhiều màu xuống cái vũng lầy ngập ngụa thực tại. Anh xin lỗi tôi vì đủ mọi thứ. Về cô gái đang theo đuổi anh. Về cái thằng người chó đẻ của anh. Em trong sáng lắm. Em là thiên thần để cho anh biết mình là quỷ sứ. Em biết không anh… đã…, anh… vừa mới làm tình với cô gái ấy. Em biết không anh phải dọn sạch cái thứ nhục dục bẩn thỉu của mình đi trước khi gặp em đó, em có biết đó là cái quái gì không? Đóa hoa vô thường của anh! 

Rồi anh khóc rưng rức trong lòng tôi. Mồ hôi và mùi bia từ người anh lan tỏa trong tôi một thứ cảm xúc ngây ngất kỳ lạ. Tôi vuốt những sợi tóc của anh nhẹ nhàng xoa dịu cơn thống khổ của một con sói không còn có chỗ quay về. Như mọi gã trai trong thời chiến, vô vọng và điên cuồng trước số phận.

Anh trắng trẻo và xanh xao. Bàn tay trái chỉ còn ba ngón. Anh ngồi dựa vào tôi hút thuốc lá. Rồi anh ném khúc thuốc đi và nhìn tôi. Sau đó anh trìu mến đặt tôi nằm dài ra giường. Anh nằm đè lên người tôi. Anh nói . Anh muốn yêu em quá…bờ môi anh lạnh ngắt… Nhưng hãy cho anh được như thế này thôi. Hôn lên những ngón tay em thôi nhé??? Thôi em về đi. Về thành phố mà lo học hành. Làm một cô giáo hay là lấy một thằng kỹ sư nào đó. Đừng lấy mấy thằng lính như anh.

Tôi đã có cảm giác sợ hãi trước anh. Và thêm một chút xót xa khó hiểu. Anh không còn là Vũ Quang mềm yếu trong những lá thư, dù đôi khi anh có hằn học một chút khi viết về cuộc chiến, thân phận con người, có thể là những khi say. Tôi ngồi lên và buộc lại mái tóc dài của mình bằng cái khăn tay nhỏ. Tôi tựa lưng vào vách hầm. Những tấm carton loang lổ được dắt xen kẽ nhau để che khuất mấy cái bao cát. Một cái ba lô của lính treo lủng lẳng. Tôi thò tay vào đó lôi ra cuốn sổ màu đen. Tôi e là nhật ký của anh nên không dám mở. Nhưng vài tấm hình lại rơi ra từ đó. Tôi cầm lên xem. Là hình của tôi. 

Vũ Quang tự làm tỉnh mình bằng ly đá chanh do người lính đem tới. Tôi được một ly cà phê đá. Ở chỗ đồng không cỏ cháy này, đối mặt với vi xi ở phía bên kia mặt trận, dưới những cái hầm, cả hai bên, tôi thấy đều như chuột, dù anh không chịu như vậy, vẫn muốn mình là sói. Ý nghĩ nầy khiến tôi bật cười một mình. Vũ Quang đang trò chuyện với một thiếu úy. Có lẽ đang truyền đạt lệnh gì đó mà tôi thấy anh này dạ dạ luôn miệng. Nghe tôi cười Vũ Quang quay lại nhướng mày hỏi. Tôi khoa tay ra ý không có gì. Anh liền giới thiệu người thiếu úy. Đây là Kha. Ca sĩ của tụi anh. Ê! Kha, kiếm cây đàn vô chơi một tí. Có vài tiếng nổ uỳnh oàng từ xa vọng lại làm tôi lo lắng. Vũ Quang rít hơi thuốc lá thản nhiên. Không sao đâu em, thỉnh thoảng tụi anh phải nổ vài cái cho lũ việt cộng biết là tụi anh vẫn còn đây. Tôi rụt rè. Anh ơi, họ ở có gần lắm không? Anh vung tay. Tít mù trong rừng kia, em đừng sợ bà xã của anh à.

Câu nói trấn an và âu yếm của anh làm tôi vui lên. Vũ Quang cũng đã điềm tĩnh trở lại. Ly đá chanh có lẽ đang phát huy hiệu lực. Anh lúc bấy giờ mới nhìn tôi thật ấm áp làm tôi sượng sùng nóng ran cả đôi má. Tôi đang nhớ lại lúc nãy khi Vũ Quang trong cơn say thuốc đã hơi quá trớn với mình, mà tôi thì lại không có chút kháng cự. Tôi có yêu anh không, tôi không biết. Đây là lần gặp đầu tiên sau gần một năm thư từ qua lại. Anh không gởi cho tôi tấm hình nào. Nhưng tôi đã không cần biết mặt anh từ lâu, vì trong sâu thẳm của hai tâm hồn, tôi và anh đã gần như quyện chặt lấy nhau và cho nhau trọn cả trái tim rồi còn gì. Tôi quá lãng mạn phải không? thật sự những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao, những Geoger Sand, những François Sagan đương thời đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều. Tôi thường chìm vào những giấc mơ tình ái buông thả đến mê đắm khi hay tưởng tượng về một người tình oai dũng lãng mạn như Vũ Quang. Và bằng lời thư thật hay, nét vẽ lãng mạn, tính cách ngang tàng, tất cả của tâm hồn anh đã như một lực hút mạnh khiến tôi gan góc bỏ thành phố leo lên xe đò tìm đến anh như một con điên. Dù tôi biết rằng anh đang ở trên mặt trận, tôi cũng không sợ, vì tôi không hình dung ra nó. Không phải tôi đã từng xem Cuốn Theo Chiều Gió sao? Tình yêu vô cùng lãng mạn trong chiến tranh chỉ bởi vì nó mong manh và tuyệt đẹp. 

Thiếu úy Kha bước vào, trên tay là cây guitar. Kha khá đẹp trai. Da màu đồng khỏe mạnh. Uống gì không anh em lấy. Kha nói. Kiếm cho anh vài chai con Cọp đi, cho vui.

Kha chui ra ngoài. Vũ Quang lại nhìn tôi. Em rất dễ yêu, nhỏ à.

Chuyện khi nãy?? anh xin lỗi nha??? Nhưng anh yêu em quá đó thôi.

Đừng nghĩ nhiều về chuyện đó nữa.

Tôi câm bặt không nói gì. Tôi vốn e thẹn và ít nói. Nhất là nói về cái điều đang ngợp trong lòng tôi lúc này. Hạnh phúc.

Kha đem bia vào định đi thì Vũ Quang kêu lại. Hát một bài cho bà xã mình nghe đi Kha. Một bài gì đó của Lê Uyên Phương đi. Cho Lần Cuối nhé?

Bài đó hơi buồn. Nhưng mà cũng đúng với mấy thằng lính như mình.

Cũng được đó Kha.

“… giờ nầy còn gần nhau, cầm chắc mối duyên bẽ bàng, cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng, cầm chắc nỗi thương đau…”

Trời, anh Kha hát hay quá, mà buồn thí mồ. Tôi nói. Rồi gượng cười.

Bàn tay ấm nóng của Vũ Quang đã cầm lấy tay tôi từ khi nào không biết nữa. 

Thời gian như ngưng lại cho những lứa đôi.

Tôi đọc câu nầy ở đâu không nhớ nhưng hiện tại thì tôi lại thấy thời gian không ngưng mà sao trôi qua nhanh quá.

Trong thoáng chốc tôi thấy mình hạnh phúc đến muốn tắt thở. .. 

Đã chiều rồi.

Thấy tôi ngó đồng hồ, Vũ Quang tiếc rẻ. Anh rất muốn em ở lại với anh đêm nay.

Nhưng anh biết là không thể. Thôi em về đi kẻo muộn.

Thiếu úy Kha đã lặng lẽ đi từ lúc nào. Tôi cứ thừ người ra không biết nói gì làm gì.

Ánh mắt anh như đốt tôi. Như nọc độc con ong chích vào thịt da đến tê dại. Bất giác tôi liếm môi mình. Tôi thú nhận là mình cũng khát khao anh. Muốn ở lại với anh một đêm quá. Muốn được anh ghì trong tay. Muốn … , trời đất! tôi điên rồi. Tôi còn muốn cả cái việc, như lúc nãy, anh nằm đè lên người tôi . .. Nhưng, .. 

Chiếc xe jeep lại lắc lư đưa tôi ra đường lộ lớn.

Tôi ngoái nhìn dáng anh từ từ khuất xa tầm mắt. Cái dáng dong dỏng cao, cô đơn đến kỳ lạ. Anh vẫy tay mãi để chào tôi.

Theo gió, tôi nghe tiếng con sói hét lên tạm biệt. 

**** 

Tôi gặp lại Kha ba tháng sau.

Không phải gặp đâu đó mà Kha đến tìm tôi tận trường học, sau buổi tan trường.

Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê thời thượng. Có nhạc Trịnh dịu vợi đầy ắp những giai điệu buồn lãng đãng của chiến tranh, thân phận, tình yêu. Đôi khi có xen vào một chút Phạm Duy đầy mê hoặc với bài hát như một cơn lên đồng: “Kỷ Vật Cho Em”.

Kỷ vật của Vũ Quang, mà không, tên anh bây giờ tôi đã biết, là Hữu Việt, để lại cho tôi chính là cuốn nhật ký bìa đen mà hôm nào tôi đã thấy nó trong ba lô của anh. Trong đó vẫn còn tấm hình tôi, nhưng nó đã bị xé làm tư làm tám và được dán lại bằng băng keo ngang ngang dọc dọc như băng bó một vết thương. Kha cười nửa miệng khi tôi tròn mắt nhìn. À, cái vụ này là do một cơn ghen ầm ĩ mà ra.

Kha giải thích. Một cô bồ trong vài cô bồ của Vũ Quang đã nổi ghen…với em mà xé tấm hình nầy. Vũ Quang đã cặm cụi dán lại. Tôi buồn rầu. Sao anh ấy nhiều bồ bịch vậy anh?

Đùa vậy thôi, lính tráng mà em, biết giờ nào đi mà hứa hẹn với ai. Có yêu thì cũng… để đó. Còn lại chỉ là tình hờ với các cô vũ nữ hoặc gái bán bar. Lính có tình yêu thật sự không anh. Có chứ. Nhưng đều dấu trong tim em à.

Tôi nhìn Kha qua ánh sáng mù mờ của quán. Có một cô gái nào đó trong phố thị như tôi cũng đang chờ Kha. Và trong tim Kha, cô ấy trong veo như thủy tinh. Dệt mộng và thương nhớ. Như tôi ư? 

Kha đưa tôi về. Mưa tháng tám lất phất bay. Tôi sợ hãi thấy mình chưa chịu khóc. Có gì đóng chặt cửa trái tim tôi lại. Có gì lạ lắm. Như cái cách con phù du cứ đập thân nó mãi vào khung cửa kính có ánh sáng. Và chết.

Chết? Vậy là anh không còn nữa sao Vũ Quang? chết ra sao? chết hồi nào? Có việc đó thật sao? Nó thế nào nhỉ?

Tôi bê người đi như say vậy. Loạng choạng. Và nó tới thật sảng khoái. Cơn khóc trụi lủi bỗng ào đến như một cơn mưa bất thần...

Âu Thị Phục An

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 992)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1069)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5804)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5790)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13154)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29994)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81097)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20216)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 302)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”