- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,449,608

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

22 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 94090)

thisi_ntkminh
 Thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh quê ở Nha Trang, sinh ở Hà Nội. Tốt nghiệp Cử Nhân Luật, khóa cuối cùng của Đại học Luật Khoa Sài Gòn, tháng 12-1974. Có nhiều thi phẩm đã xuất bản từ 1991 đến 2009 tại Việt Nam. Hiện sống và làm việc tại Hoa Kỳ. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu những bài thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh.
TCHL


Lời

Lời. Khi như dòng sông trôi
Con nước ngửa mặt cho trời xanh chung

Lời. Khi như gió mông lung
Hụt hơi buộc cái vô cùng chờ nhau…

Lời. Khi là vết thương đau
Xin bát cháo lú qua cầu câu thơ

Có không? ở bên kia bờ…

Có lời gõ có tiếng rơi

Thôi về giữa bóng đêm im
Mượn khuya khoắt thảy cho chìm một tôi
Hạt cuội ở đáy sông trôi
Mảnh trăng dưới nước còn sôi được dòng

Lọt vào một giấc mơ không
Bước chân kiến nhặt mênh mông con đường
Hồn nhiên mở hết tinh sương
Gieo đêm xuống hạt thành chương sách buồn

Tiếng gì gõ tựa nghìn muôn
Nghe tôi dại bóng qua truông một mình
Tiếng gì rơi xuống lặng thinh
Nghe tôi dại tiếng buồn tênh ru hời

Hóa ra là tiếng ru, rơi
Hóa ra là tiếng gõ lời mình đi…

Tự hỏi


Ánh sáng ơi
Để đến được bên ngươi
Phải đi qua bao nhiêu lần bóng tối ?

Hạnh phúc ơi
Để soi tỏ cùng ngươi
Phải chạm mặt bao nhiêu lần ảo ảnh ?

Người ơi
Để sống đầy đặn với người
Phải bao nhiêu lần nữa cô đơn trong mỗi hiến dâng, nụ cười nước mắt ?

Và Giấc Mơ của ta ơi
Sao khi nào muốn đi đến cùng ngươi
Phải đi qua con đường hạt lệ?

Ai đang nói gì thế

Để kêu gọi Bình an. Tha thứ
Họ đã bước đi những bước chân hận thù
Để trở về khu vườn cho cây trái đơm bông
Lửa đã thui tro những cánh đồng cỏ mọc
Con sông nằm khát khao dòng chẩy
Trái đất cỏn con nằm nghe gió thổi
Mơ màng lời cầu kinh trong tiếng nổ
Mơ màng lời kêu gọi chống chiến tranh -tới- giọt- máu- cuối- cùng…
Mơ màng những tiếng chân đi bảo vệ quê-hương-ta- đến- giọt-máu- cuối- cùng
Mơ màng những giọt máu không ngừng chảy…
Mơ màng những giọt nước mắt trên đôi má lạnh người phụ nữ, trên thân thể lạnh bé thơ,
 trên những đôi má từ lâu chỉ là đồng sâu nước mặn
Mơ màng tiếng cười hồn nhiên của bé trai trên vai cha đang huơ huơ chiếc cờ trắng
Mơ màng trái đất cỏn con trên những vòng quay hớt hải của mình
Mong manh gió thổi

Ai cũng có quyền được sống
Ai cũng có quyền có một mảnh đất để sống
Và, giết nhau khắp nơi…
Những bản tin thời sự mỗi ngày như những đòn tra tấn
Treo trên những phút giây bình yên hiếm hoi của chúng ta
Cái thòng lọng

Đừng nói đến
Thứ ánh sáng mơ hồ của giấc mơ
Đừng nói đến những thiên đường tư tưởng
Đừng nói đến sự cứu rỗi của bình an tự tại
Đừng thả những cánh diều bay trong khung trời ảo mộng
Đừng vẽ những bước đi cầu vồng
Chỉ xin một vòng tay nối ấm những nỗi đau
Chỉ xin nói về một hạnh phúc có thực mà người ta có thể chia sẻ cùng nhau

Và, chúng ta phải chia sẻ thế nào trước những cái chết của trời, còn bao nhiêu đất nữa để chôn
 vùi, còn bao nhiêu biển nữa để đưa con người cát mọn này vào hư vô?

Cảm xúc tôi dường như không chịu được thêm một thách thức nào nữa, hạt nước mắt rơi ngược
 lên trời, dòng máu nghe lạnh tanh trong thân thể…
Bé mọn phận người xin một mũi thuốc mê
Xin, dù phút giây thôi, không còn cảm giác về những nỗi đau…
Nỗi sợ…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Tháng 3.2011

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2042)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5947)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2985)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 212)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 577)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 558)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 604)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 791)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 564)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 535)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /