- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Ly Hoàng Ly Và Bóng Đêm

26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 20583)

 Ẩn dưới cái tên ngây thơ Lô Lô là tập thơ dầy đặc bóng đêm của người con gái gốc Bắc Ninh sinh năm 1975 tại Hà Nội. Cha làm thơ. Mẹ tảo tần nuôi con những ngày người cha lâm nạn chữ. Bắc Ninh và đêm cũng là địa chỉ Hoàng Cầm thời Về Kinh Bắc, nhưng khi ấy Lô Lô chưa ra đời, nên Lô Lô nào biết Hoàng Cầm là ai, nào biết người cha vì “liên hệ” với Kinh Bắc mà đã đánh mất mùi mình (1) trong sàn đá, để suốt đời mang mặc cảm thạch sùng (2).

Những điều trên đây dường như không liên hệ, không còn liên hệ gì đến lớp trẻ sinh sau 75, đặc biệt những người con gái vô tư cười như mùa thu tỏa nắng (3). Vậy mà có. Lại có rất nhiều. Những sợi dây, những vết trói, những oan nghiệt, những sự tình trong quá khứ, thế hệ sau không tham dự, không biết: Lô Lô sinh ra chiến tranh đã hết, Lô Lô được nuôi bằng sữa hoà bình. Vậy mà chất độc da cam của bạo lực và áp bức vẫn chi phối hầu như toàn bộ vô thức sáng tạo của Ly Hoàng Ly. Chúng trộn vào đêm, vào những đêm trắng, đêm xuyên ngày của Ly, chúng len lỏi trong những bức chân dung phụ nữ bị trói gô, bị kẹp, cắt, qua những bức sắp đặt (installation), trong tranh trừu tượng, trong nghệ thuật trình diễn (performance) của Ly Hoàng Ly.

Hìnhthơ đi đôi trong tập Lô Lô: một thế giới trống mở ra biển vắng.

Trang 21, bức sắp đặt với những khung cửa lệch lạc, cánh bung tan, chôn xuống cát, như có bàn tay vô hình đã phá tung cửa. Để làm gì? Đi đâu? Ra biển chăng? Chắc thế. Bởi chỉ biển, chỉ còn biển trước mặt. Và con người phải ra biển, con người đành ra biển, con người bèn ra biển, con người bị chìm xuống biển, mất hút: mọi sự đoán, đọc, hiểu, đều khả thể trước bức hình này: một trong những bức sắp đặt đầu tiên của Ly Hoàng Ly.

Trang 55: một người ngồi xổm trên thánh giá, băng bó cùng mình, bao nhiêu kẹp phơi quần áo găm khắp châu thân, nàng là một:

người phụ nữ tự trói mình.

Trong tư thế trói gô

Người phụ nữ không tìm thấy xác mình

Chỉ thấy rêu xanh lét chân tường

Chỉ thấy đêm đầm đìa nước mắt...

(Performance photo)

Đó là thế giới của Ly Hoàng Ly: một thế giới phụ nữ tự trói. Con người băng bó. Toàn thể đã bị thiêu rụi từ bên trong. Một thế giới phỏng rộp ở cấp độ nặng nhất. Vài vật dụng tầm thường: một cuốn băng, mấy chiếc kẹp gỗ phơi áo đủ cho Ly tạo ra vũ trụ kinh hoàng: vữa nát thân thể, kìm kẹp tâm hồn.

Người con gái Kinh Bắc có cái nhìn xa, suốt:

Trang 16: Ly ngồi trên ghế, bốn phía vây quanh là dây, dây chăng kín, dây thòng lọng từ trên xuống như chiếc võng dọc, dây bao bọc bốn bề, gợi lại những câu thơ Hoàng Cầm trong Về Kinh Bắc:

thòng lọng tơ gì cuốn gót..

không trói mà không đi...

kià dây muống dại kín em rồi...

Nhưng đâu đã chắc Hoàng Ly nghĩ về Hoàng Cầm hay chỉ là sự tương hợp. Hay đây là những sợi dây có sẵn từ khi Ly chào đời, những sợi dây cuốn tròn hiện tại, những sợi dây bao bọc không gian, sống không còn ngày, ngày đã bị chăng màn, ngày bị dây chằng tứ phiá, ngày đã thôi sáng, ngày đã thành đêm. Đêm Ly.

Lô Lô là những khúc đêm như thế, bắt đầu bằng đêm thứ nhất, mở ra trên bức sắp đặt tuyệt đẹp.

Trang 6: mang tên Khúc đêm. Khúc đêm là một vùng tranh tối tranh sáng, có bức tường ngăn cách không gian bên trong với ánh mặt trời bên ngoài: một bức tường mâm. Những chiếc mâm móc liền với nhau bằng dây xích, có nhiệm vụ thanh lọc và phản hồi ánh sáng, chỉ để lọt một tí vào bên trong. Trên bức tường mâm, lác đác mấy thân thể phụ nữ bị đóng đinh, bị ghim, bị trói, hình như họ đang tập “nhảy vọt”: những thân đàn bà treo lơ lửng như ta treo tranh trong phòng triển lãm. Khúc đêm mời bạn bước vào Đêm của Ly, vùng tranh tối tranh sáng của nghệ thuật và cũng là vùng của những phụ nữ bị treo, bị cắt, bị kẹp, bị kết án “im không nói”, trong một không gian sống rất ít ánh sáng, mọi người ở đây đã chấp nhận im im không nói đi trên phố đông. Im im không nói đi trên phố ồn.

Vùng đêm của Ly Hoàng Ly mang nhiều chất trí tuệ, đầy khủng hoảng, Ly cho trừu tượng trôi vào cụ thể, để cụ thể chuyển sang trừu tượng nhẹ nhàng như cái vẫy tay, như hơi thở nhẹ, như giọt nước mắt:

Kià đêm chảy

Chảy lên trời

Buốt óc tôi

Kià đêm chảy

Chảy lên trời

Máu tuột khỏi tim

(trích Đêm chảy lên trời).

Trong những hình thức khủng hoảng như khủng hoảng chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng chính trị, đáng ngại nhất là khủng hoảng tinh thần. Đêm chảy lên trời, máu tuột khỏi tim là những khủng hoảng đặc dị tâm thần, khiến người đọc giật mình, không hiểu tại sao người con gái có nụ cười “toả nắng” như Ly, lại viết những câu thơ đớn đau, buốt xót đến vậy.

Đêm đem em vào đen

Đen đem em vào đêm

Đêm đem đen vào em

Em đem đêm vào đen”

(trích Ngoặc đơn trong đêm).

Vẫn đêm trong bốn câu thơ viết theo nhịp độc âm này, với ba đồng âm: êm, emen Ly tạo nhịp, tạo dịu dàng âu yếm, tạo vùng tối đặc của các sinh thể đen. Lô Lô mang không khí đêm đen giữa ban ngày, là những cơn ác mộng thường trực của con người bị kết án chung thân sống trong đêm, những con người “muốn đập đêm vỡ tan”; nhưng đêm như ung thư, đêm như bạch tuộc đã chạy cùng khắp cơ thể, và người con gái ấy:

“Soi vào gương

Bất lực và khóc

Trong vô vàn những giọt nước mắt

Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”

(Mở nút đêm).

Nàng không chặn nổi đêm, bởi đêm đã len vào khắp các ngõ ngách sống, vào toàn bộ mạch máu của thân thể, buốt rát, xót xa:

 

“Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

 

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

 

Đêm đã nhuốm màu lên chiếc lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

 

Đêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đền vàng

Và khe khẽ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác”

(Đêm và anh)

 

Đêm của Ly choán dần không gian, độc chiếm bàu trời, đêm là chất lỏng, đêm đặc thịt da. Nhưng trong những vùng đêm, vùng đen ấy, người con gái vẫn tìm cách thở, nàng thấy dưỡng khí trong một vùng mộng tuyệt vời:

Vườn co vào lá

Hoa ôm đêm đến rũ xác

Em đi nhặt xác hoa

Bước vào vùng trăng

Toàn thân lấp lánh dịu dàng

Cả một ước mơ gửi vào vườn đêm

Cây hoàng lan chìa cánh mềm

Buốt ánh mắt em

Hương hoàng lan xanh óng dưới trăng

Buốt hơi thở em

Vườn co vào lá

Đợi đêm lên tới ngọn

Lên tới ngọn của đêm

Lấy xác hoa

Xoa vào trăng

Trên ngọn đêm.

(Đêm trong vườn)

Đêm trong vườn mang dư âm một bản nhạc Dương Thiệu Tước: “Vườn khuya trăng chiếu hoa đứng im...”, nhưng không chắc gì Hoàng Ly đã chịu ảnh hưởng nhạc Thiệu Tước và thơ Hoàng Cầm; bởi thế hệ Ly không còn nghe nhạc Dương và không chắc có đọc thơ Hoàng. Bài thơ của Ly có những chìa khoá khác, mở vào những thầm kín khác, nằm ở hai chữ cobuốt.

Vườn co vào lá.

Buốt hơi thở em.

Buốt ánh mắt em.

Vườn co vào lá là một thực tại ảo, chỉ có trong tâm thức nhà thơ, nhưng tại sao: vườn lại co vào? co vì sợ, co vì lạnh? mà co vào đâu? co vào lá, tức là co vào chính các tế bào sống của mình. Vườn co vào lá, tựa như Ly co vào máu của Ly, như Ly co và tim Ly, như Ly co vào hơi thở Ly, một sự co vào rất tế nhị, rất nhục cảm, rất thể xác, rất đớn đau, rất hãi hùng, mà nhẹ như không.

Rồi lại không biết có phải cảm giác co ấy dẫn đến cảm giác buốt hay là vì buốt hơi thở em, buốt ánh mắt em mà em co lại? Vẫn rất sensuel, vẫn đầy nhục cảm, lần này bởi những chữ hơi thởánh mắt. Thường thì hơi thở và ánh mắt là những nơi phát tiết nhục cảm, là chủ thể của nhục cảm, nhưng ở đây chúng bị chữ buốt chi phối, tức là chúng bị truất quyền làm chủ, và khi một thực thể bị truất quyền như thế bao giờ cũng gây thương tích, gây tác dụng mạnh, làm cho một chữ buốt trở thành trăm nghìn lần buốt. Cho nên trong buốt hơi thở em, buốt ánh mắt em, “hơi thở” và “ánh mắt” đã đưa độ buốt của thân thể lên đến mức hãi hùng, làm cho thân thể phải co lại, co vào lục phủ ngũ tạng của chính mình.

Sau này, người ta có thể quên những bài thơ khác của Ly, nhưng những câu thơ hay như thế sẽ tồn tại. Một đời thơ thường rồi sẽ chỉ giữ lại được vài câu thơ hay, vì thế thơ hay không cần nhiều.

Một bài khác, bài Cắt, trong bài này, Ly mới chỉ thành công một nửa, bởi ý thì rất hay, nhưng chữ chưa thuần thục:

Cắt đêm ra từng mảnh nhỏ

Rồi khâu đêm lại bằng tóc

Tóc thưa dần thưa dần

Những đường rãnh trắng hếu đưa ta đi hết đêm này đến đêm khác

Cho đến khi đầu trọc

Cắt ta ra từng mảnh nhỏ

Rồi khâu ta bằng hết đêm này đến đêm khác

Cho đến khi trắng hếu đêm.

Nhược điểm của bài thơ cũng là nhược điểm chung của một số nhà thơ muốn làm cho thơ rõ nghiã. Không cần. Những liên từ như rồi, ra, cho, đến, trừ trường hợp đặc biệt, không cần thiết cho thơ. Chúng rườm. Chúng làm cho thơ bị ràng buộc. Bị rõ. Bị lộ. Mà thơ càng kín đáo, càng đạt sự độc lập lớn, càng hay: Lê Đạt có kinh nghiệm sâu xa về điều này. Thơ Đường muôn thủa là một trong những đỉnh cao của thi ca nhân loại, bởi mỗi chữ trong thơ Đường đã đạt tới độ độc lập gần như tuyệt đối. Khi dịch thơ Đường sang tiếng Việt, người ta thường thêm giới từ, liên từ, để làm thành một câu thơ dễ hiểu, biến câu thơ mông lung nhiều nghiã trở thành câu thơ giản đơn một nghĩa. Biến cái đa nghiã thành độc ý.

 Trở lại với bài Cắt của Ly, hai câu đầu: Cắt đêm ra từng mảnh nhỏ/ Rồi khâu đêm lại bằng tóc. Thử bớt đi những chữ: ra, nhỏ, rồi, lại, câu thơ sẽ bớt rườm hơn và đa nghiã hơn: Cắt đêm từng mảnh/ Khâu đêm bằng tóc.

Ý tưởng “cắt đêm từng mảnh”, lấy từng sợi tóc khâu đêm cho đến trọc đầu trong bài thơ là những ý táo bạo, độc đáo về sự hoảng loạn đến độ điên dại của con người. Kawabata kể chuyện một ông già, tóc bắt đầu bạc, có sợi nào bạc nhú ra là ông nhổ tiệt, nhổ đến trọc đầu. Tóc mới mọc bèn chịu thua: đổi trắng thành đen, nhưng đã muộn quá, người ta đã đưa ông cụ vào viện tâm thần.

 Tình thế “trốn già” của ông lão thật xúc động. Nhưng ở một nhà thơ trẻ như Ly Hoàng Ly, sự cắt đêmlấy tóc vá đêm lại cho đến trọc đầu, có cái gì bi đát hơn, bởi nó quá mới, quá trẻ, bởi nó không từ tuổi tác, mà từ những nhận thức đớn đau về hiện thực xung quanh, về những khủng hoảng chồng chất đã qua, của một Hoàng Cầm hoảng loạn, của một Hoàng Hưng mất ngủ, của một ai kia không biết... Chính cái kinh nghiệm buốt xót về sự khủng hoảng tâm thần của người lớn đã lây sang tuổi thơ, dồn ép trong tâm thức cô bé Kinh Bắc, trốn vào tiềm thức, lớn dần thành thơ, chín dần trong ba mươi năm cho đến khi Lô Lô ra đời.

 Người đàn bà và căn nhà cổ, là bài thơ viết theo nhịp hiện thực huyền ảo, cũng là tự truyện của một bé gái từ lúc còn là bào thai nằm trong bụng mẹ: người mẹ quyết vượt đêm, quyết sống còn trên những gián giun, vi khuẩn, để con mình được chào đời, mong nó sẽ rửa sạch không gian bụi bặm, nhiễm trùng đã tiêu diệt mình.

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Trên chiếc ghế bọc nhung lành lặn duy nhất (...)

 

Tường ố mưa đêm bao năm

Màu vàng lên rêu mốc

Mưa điên cuồng bên ngoài

Đòi trút vào nhà cổ những u uất

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Buồn thảm và kiên định

 

Những con vi khuẩn bám trên từng hạt bụi

Nghe ngóng sự sinh sôi ẩm mốc

Dưới gầm chiếc phản lên nước như gưong soi

Là đêm của thế kỷ trước

Dưới gầm chiếc phản lên nước như gương soi

Lũ gián khua râu hà hít.

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

 Giữ đứa con trong bụng tư thế ung dung và thách thức

 Những con gián túa ra từ gầm phản

 Bắt đầu gặm nhấm chiếc ghế lành lặn

 

 Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Hút cạn mắt một đêm

Từ từ rã xác

Hút cạn mắt nghìn mưa

Nhà cổ ngập tiếng khóc

 

Oe Oe Oe

 Nhà cổ rùng mình thức giấc

 Lũ gián bò toán loạn trên chiếc áo dài rũ trắng sàn gạch

 

Đứa bé gái mặc áo dài trắng nhẹ nhàng tụt xuống từ chiếc ghế bọc nhung duy nhất lành lặn

Mắt tròn trong vắt

Đi một vòng ngơ ngác

Sờ tay lên lò sưởi và cửa sổ và tường và mọi thứ ẩm mốc

Thấy tay đầy vi khuẩn

 

Bàn tay màu xám ngắt

Vặn núm cửa bước ra đêm mưa bão bùng

 

Cánh cửa dày đặc văn tự cổ sập lại sau lưng

Khi ấy đêm vụt tắt

Những hạt nắng như mưa rơi rơi không dứt

Rửa sạch bàn tay bụi bặm.

(Người đàn bà và căn nhà cổ)

 

Bài thơ có cấu trúc đoản, mỗi khúc nối nhau bằng hình người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân trong ẩm mốc, căn nhà cổ có tự bao giờ? Nàng không nhúc nhích, nàng bị vây kín, bị tấn công, mọi mặt, quá khứ u uất, hiện tại vi khuẩn, nàng ngồi bắt chéo chân kiên trì chống trả trong yên lặng cho đến hơi thở cuối cùng. Nàng, người mẹ ấy đã nát thân, tan xác cho gián gậm, quyết bảo toàn đứa con trong bụng, đẩy bọn dán giun không đục khoét được bào thai. Nàng hy sinh cho con chào đời: một đứa bé gái. Người đàn bà hút cạn mắt một đêm từ từ rã xác, hút cạn mắt nghìn mưa, những hình ảnh ghê gớm, phả đến từ một thế giới khác để đối chất với một hình ảnh cực kỳ trong sáng “đứa bé gái mắt tròn trong vắt” của hôm nay.

 

Gia tài của mẹ để lại cho con, trong thơ Ly Hoàng Ly, không phải là một nước Việt buồn, như trong thơ Trịnh, mà còn đớn đau chua xót hơn: đó là cơn ác mộng triền miên, là bóng đêm dày đặc, là căn nhà cổ đầy vi khuẩn, là núi văn tự ẩm mốc, là không gian bão tố. Sáng trưa chiều tối là đêm.

Một mình, người con gái Kinh Bắc ấy, làm sao có thể biến đêm thành ngày?

 

 

Chú thích:

 (1) và (2) thơ Hoàng Hưng

(3) thơ Hoàng Cầm

Thụy Khuê
Paris, tháng 2/2006

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Hai 20242:19 SA(Xem: 1769)
Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 1902)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
13 Tháng Hai 202411:57 CH(Xem: 964)
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên khi tạp chí văn học nghệ thuật Ngôn Ngữ phát hành vào tháng 2-2024 cũng vào dịp Tết Giáp Thìn 2024 ra số đặc biệt giới thiệu Bác sĩ / Nhà văn / Nhà hoạt động môi sinh Ngô Thế Vinh. Năm Rồng, giới thiệu người kết nghĩa với Cửu Long, tưởng không còn gì thích hợp hơn.
07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 970)
Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện...
25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 1952)
Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.
22 Tháng Mười Hai 202312:10 CH(Xem: 2832)
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối, Tìm Quê hương trên vết máu giữa đồng hoang: Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi, Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
07 Tháng Mười Một 20236:34 SA(Xem: 3399)
“…câu chuyện giáo sĩ Alexandre de Rhodes là câu chuyện cũ đã hơn 300 năm trước. Ông không sáng chế ra chuyện đánh vần tiếng Việt ra mẫu tự Bồ. Tôi nghĩ ông là một giáo sĩ tận tụy với nghiệp vụ truyền giáo, chỉ có điều kiến thức quá giới hạn của ông về văn hóa tôn giáo và con người Việt Nam làm tôi bực mình, và thèm khát một ngày mà những bất cập như vậy không còn sót lại nơi một giáo sĩ dù với đức tin nào. Tuy nhiên, phê phán nặng nề một giáo sĩ 300 năm trước là điều không nên, khi mà các giáo sĩ nói chung bấy giờ một phần vì giới hạn kiến thức, không có truyền thống kính trọng văn hóa địa phương. Nhưng ta tự nguyện tự lãnh một cái ơn tày đình với những giáo sĩ như De Rhodes cũng là chuyện không căn cứ. Có lẽ thỉnh thỏang ta nên đọc lại Phép Giảng Tám Ngày của ông ta để có một viễn cận phải chăng với câu chuyện.” (Mai Kim Ngọc).
01 Tháng Mười Một 202312:55 SA(Xem: 3518)
Hun Sen đã chính thức chuyển quyền cho con từ ngày 22/8/2023. Tuy Hun Manet là Thủ tướng mới nhưng Hun Sen vẫn có một ảnh hưởng gần như tuyệt đối từ phía sau hậu trường. Hun Sen viết trên trang Facebook – “Đây chưa phải là kết thúc. Tôi còn tiếp tục phục vụ ở những cương vị khác ít nhất cũng tới năm 2033” (tức là mười năm nữa, lúc đó Hun Sen 81 tuổi). Tìm hiểu về giới lãnh đạo bao gồm hai thế hệ Cha và Con của chính trường Cam Bốt hiện nay và ít ra trong 10 năm tới thiết nghĩ là điều rất cần thiết.
16 Tháng Mười 20234:16 CH(Xem: 3547)
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng.(1) [trích Thông Báo của Cambodia gửi Ủy Ban Thư Ký Sông Mekong]
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 3903)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.