- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Ly Hoàng Ly Và Bóng Đêm

26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 20580)

 Ẩn dưới cái tên ngây thơ Lô Lô là tập thơ dầy đặc bóng đêm của người con gái gốc Bắc Ninh sinh năm 1975 tại Hà Nội. Cha làm thơ. Mẹ tảo tần nuôi con những ngày người cha lâm nạn chữ. Bắc Ninh và đêm cũng là địa chỉ Hoàng Cầm thời Về Kinh Bắc, nhưng khi ấy Lô Lô chưa ra đời, nên Lô Lô nào biết Hoàng Cầm là ai, nào biết người cha vì “liên hệ” với Kinh Bắc mà đã đánh mất mùi mình (1) trong sàn đá, để suốt đời mang mặc cảm thạch sùng (2).

Những điều trên đây dường như không liên hệ, không còn liên hệ gì đến lớp trẻ sinh sau 75, đặc biệt những người con gái vô tư cười như mùa thu tỏa nắng (3). Vậy mà có. Lại có rất nhiều. Những sợi dây, những vết trói, những oan nghiệt, những sự tình trong quá khứ, thế hệ sau không tham dự, không biết: Lô Lô sinh ra chiến tranh đã hết, Lô Lô được nuôi bằng sữa hoà bình. Vậy mà chất độc da cam của bạo lực và áp bức vẫn chi phối hầu như toàn bộ vô thức sáng tạo của Ly Hoàng Ly. Chúng trộn vào đêm, vào những đêm trắng, đêm xuyên ngày của Ly, chúng len lỏi trong những bức chân dung phụ nữ bị trói gô, bị kẹp, cắt, qua những bức sắp đặt (installation), trong tranh trừu tượng, trong nghệ thuật trình diễn (performance) của Ly Hoàng Ly.

Hìnhthơ đi đôi trong tập Lô Lô: một thế giới trống mở ra biển vắng.

Trang 21, bức sắp đặt với những khung cửa lệch lạc, cánh bung tan, chôn xuống cát, như có bàn tay vô hình đã phá tung cửa. Để làm gì? Đi đâu? Ra biển chăng? Chắc thế. Bởi chỉ biển, chỉ còn biển trước mặt. Và con người phải ra biển, con người đành ra biển, con người bèn ra biển, con người bị chìm xuống biển, mất hút: mọi sự đoán, đọc, hiểu, đều khả thể trước bức hình này: một trong những bức sắp đặt đầu tiên của Ly Hoàng Ly.

Trang 55: một người ngồi xổm trên thánh giá, băng bó cùng mình, bao nhiêu kẹp phơi quần áo găm khắp châu thân, nàng là một:

người phụ nữ tự trói mình.

Trong tư thế trói gô

Người phụ nữ không tìm thấy xác mình

Chỉ thấy rêu xanh lét chân tường

Chỉ thấy đêm đầm đìa nước mắt...

(Performance photo)

Đó là thế giới của Ly Hoàng Ly: một thế giới phụ nữ tự trói. Con người băng bó. Toàn thể đã bị thiêu rụi từ bên trong. Một thế giới phỏng rộp ở cấp độ nặng nhất. Vài vật dụng tầm thường: một cuốn băng, mấy chiếc kẹp gỗ phơi áo đủ cho Ly tạo ra vũ trụ kinh hoàng: vữa nát thân thể, kìm kẹp tâm hồn.

Người con gái Kinh Bắc có cái nhìn xa, suốt:

Trang 16: Ly ngồi trên ghế, bốn phía vây quanh là dây, dây chăng kín, dây thòng lọng từ trên xuống như chiếc võng dọc, dây bao bọc bốn bề, gợi lại những câu thơ Hoàng Cầm trong Về Kinh Bắc:

thòng lọng tơ gì cuốn gót..

không trói mà không đi...

kià dây muống dại kín em rồi...

Nhưng đâu đã chắc Hoàng Ly nghĩ về Hoàng Cầm hay chỉ là sự tương hợp. Hay đây là những sợi dây có sẵn từ khi Ly chào đời, những sợi dây cuốn tròn hiện tại, những sợi dây bao bọc không gian, sống không còn ngày, ngày đã bị chăng màn, ngày bị dây chằng tứ phiá, ngày đã thôi sáng, ngày đã thành đêm. Đêm Ly.

Lô Lô là những khúc đêm như thế, bắt đầu bằng đêm thứ nhất, mở ra trên bức sắp đặt tuyệt đẹp.

Trang 6: mang tên Khúc đêm. Khúc đêm là một vùng tranh tối tranh sáng, có bức tường ngăn cách không gian bên trong với ánh mặt trời bên ngoài: một bức tường mâm. Những chiếc mâm móc liền với nhau bằng dây xích, có nhiệm vụ thanh lọc và phản hồi ánh sáng, chỉ để lọt một tí vào bên trong. Trên bức tường mâm, lác đác mấy thân thể phụ nữ bị đóng đinh, bị ghim, bị trói, hình như họ đang tập “nhảy vọt”: những thân đàn bà treo lơ lửng như ta treo tranh trong phòng triển lãm. Khúc đêm mời bạn bước vào Đêm của Ly, vùng tranh tối tranh sáng của nghệ thuật và cũng là vùng của những phụ nữ bị treo, bị cắt, bị kẹp, bị kết án “im không nói”, trong một không gian sống rất ít ánh sáng, mọi người ở đây đã chấp nhận im im không nói đi trên phố đông. Im im không nói đi trên phố ồn.

Vùng đêm của Ly Hoàng Ly mang nhiều chất trí tuệ, đầy khủng hoảng, Ly cho trừu tượng trôi vào cụ thể, để cụ thể chuyển sang trừu tượng nhẹ nhàng như cái vẫy tay, như hơi thở nhẹ, như giọt nước mắt:

Kià đêm chảy

Chảy lên trời

Buốt óc tôi

Kià đêm chảy

Chảy lên trời

Máu tuột khỏi tim

(trích Đêm chảy lên trời).

Trong những hình thức khủng hoảng như khủng hoảng chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng chính trị, đáng ngại nhất là khủng hoảng tinh thần. Đêm chảy lên trời, máu tuột khỏi tim là những khủng hoảng đặc dị tâm thần, khiến người đọc giật mình, không hiểu tại sao người con gái có nụ cười “toả nắng” như Ly, lại viết những câu thơ đớn đau, buốt xót đến vậy.

Đêm đem em vào đen

Đen đem em vào đêm

Đêm đem đen vào em

Em đem đêm vào đen”

(trích Ngoặc đơn trong đêm).

Vẫn đêm trong bốn câu thơ viết theo nhịp độc âm này, với ba đồng âm: êm, emen Ly tạo nhịp, tạo dịu dàng âu yếm, tạo vùng tối đặc của các sinh thể đen. Lô Lô mang không khí đêm đen giữa ban ngày, là những cơn ác mộng thường trực của con người bị kết án chung thân sống trong đêm, những con người “muốn đập đêm vỡ tan”; nhưng đêm như ung thư, đêm như bạch tuộc đã chạy cùng khắp cơ thể, và người con gái ấy:

“Soi vào gương

Bất lực và khóc

Trong vô vàn những giọt nước mắt

Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”

(Mở nút đêm).

Nàng không chặn nổi đêm, bởi đêm đã len vào khắp các ngõ ngách sống, vào toàn bộ mạch máu của thân thể, buốt rát, xót xa:

 

“Đêm đã nhuốm màu lên làn da em

Lên đôi mắt vòng vòng một quầng đêm

 

Đêm đã nhuốm màu lên đôi bàn tay em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng xúc giác

 

Đêm đã nhuốm màu lên chiếc lưỡi của em

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng vị giác

 

Đêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đền vàng

Và khe khẽ hát

Để em không thể nhìn thấy anh

Bằng thính giác”

(Đêm và anh)

 

Đêm của Ly choán dần không gian, độc chiếm bàu trời, đêm là chất lỏng, đêm đặc thịt da. Nhưng trong những vùng đêm, vùng đen ấy, người con gái vẫn tìm cách thở, nàng thấy dưỡng khí trong một vùng mộng tuyệt vời:

Vườn co vào lá

Hoa ôm đêm đến rũ xác

Em đi nhặt xác hoa

Bước vào vùng trăng

Toàn thân lấp lánh dịu dàng

Cả một ước mơ gửi vào vườn đêm

Cây hoàng lan chìa cánh mềm

Buốt ánh mắt em

Hương hoàng lan xanh óng dưới trăng

Buốt hơi thở em

Vườn co vào lá

Đợi đêm lên tới ngọn

Lên tới ngọn của đêm

Lấy xác hoa

Xoa vào trăng

Trên ngọn đêm.

(Đêm trong vườn)

Đêm trong vườn mang dư âm một bản nhạc Dương Thiệu Tước: “Vườn khuya trăng chiếu hoa đứng im...”, nhưng không chắc gì Hoàng Ly đã chịu ảnh hưởng nhạc Thiệu Tước và thơ Hoàng Cầm; bởi thế hệ Ly không còn nghe nhạc Dương và không chắc có đọc thơ Hoàng. Bài thơ của Ly có những chìa khoá khác, mở vào những thầm kín khác, nằm ở hai chữ cobuốt.

Vườn co vào lá.

Buốt hơi thở em.

Buốt ánh mắt em.

Vườn co vào lá là một thực tại ảo, chỉ có trong tâm thức nhà thơ, nhưng tại sao: vườn lại co vào? co vì sợ, co vì lạnh? mà co vào đâu? co vào lá, tức là co vào chính các tế bào sống của mình. Vườn co vào lá, tựa như Ly co vào máu của Ly, như Ly co và tim Ly, như Ly co vào hơi thở Ly, một sự co vào rất tế nhị, rất nhục cảm, rất thể xác, rất đớn đau, rất hãi hùng, mà nhẹ như không.

Rồi lại không biết có phải cảm giác co ấy dẫn đến cảm giác buốt hay là vì buốt hơi thở em, buốt ánh mắt em mà em co lại? Vẫn rất sensuel, vẫn đầy nhục cảm, lần này bởi những chữ hơi thởánh mắt. Thường thì hơi thở và ánh mắt là những nơi phát tiết nhục cảm, là chủ thể của nhục cảm, nhưng ở đây chúng bị chữ buốt chi phối, tức là chúng bị truất quyền làm chủ, và khi một thực thể bị truất quyền như thế bao giờ cũng gây thương tích, gây tác dụng mạnh, làm cho một chữ buốt trở thành trăm nghìn lần buốt. Cho nên trong buốt hơi thở em, buốt ánh mắt em, “hơi thở” và “ánh mắt” đã đưa độ buốt của thân thể lên đến mức hãi hùng, làm cho thân thể phải co lại, co vào lục phủ ngũ tạng của chính mình.

Sau này, người ta có thể quên những bài thơ khác của Ly, nhưng những câu thơ hay như thế sẽ tồn tại. Một đời thơ thường rồi sẽ chỉ giữ lại được vài câu thơ hay, vì thế thơ hay không cần nhiều.

Một bài khác, bài Cắt, trong bài này, Ly mới chỉ thành công một nửa, bởi ý thì rất hay, nhưng chữ chưa thuần thục:

Cắt đêm ra từng mảnh nhỏ

Rồi khâu đêm lại bằng tóc

Tóc thưa dần thưa dần

Những đường rãnh trắng hếu đưa ta đi hết đêm này đến đêm khác

Cho đến khi đầu trọc

Cắt ta ra từng mảnh nhỏ

Rồi khâu ta bằng hết đêm này đến đêm khác

Cho đến khi trắng hếu đêm.

Nhược điểm của bài thơ cũng là nhược điểm chung của một số nhà thơ muốn làm cho thơ rõ nghiã. Không cần. Những liên từ như rồi, ra, cho, đến, trừ trường hợp đặc biệt, không cần thiết cho thơ. Chúng rườm. Chúng làm cho thơ bị ràng buộc. Bị rõ. Bị lộ. Mà thơ càng kín đáo, càng đạt sự độc lập lớn, càng hay: Lê Đạt có kinh nghiệm sâu xa về điều này. Thơ Đường muôn thủa là một trong những đỉnh cao của thi ca nhân loại, bởi mỗi chữ trong thơ Đường đã đạt tới độ độc lập gần như tuyệt đối. Khi dịch thơ Đường sang tiếng Việt, người ta thường thêm giới từ, liên từ, để làm thành một câu thơ dễ hiểu, biến câu thơ mông lung nhiều nghiã trở thành câu thơ giản đơn một nghĩa. Biến cái đa nghiã thành độc ý.

 Trở lại với bài Cắt của Ly, hai câu đầu: Cắt đêm ra từng mảnh nhỏ/ Rồi khâu đêm lại bằng tóc. Thử bớt đi những chữ: ra, nhỏ, rồi, lại, câu thơ sẽ bớt rườm hơn và đa nghiã hơn: Cắt đêm từng mảnh/ Khâu đêm bằng tóc.

Ý tưởng “cắt đêm từng mảnh”, lấy từng sợi tóc khâu đêm cho đến trọc đầu trong bài thơ là những ý táo bạo, độc đáo về sự hoảng loạn đến độ điên dại của con người. Kawabata kể chuyện một ông già, tóc bắt đầu bạc, có sợi nào bạc nhú ra là ông nhổ tiệt, nhổ đến trọc đầu. Tóc mới mọc bèn chịu thua: đổi trắng thành đen, nhưng đã muộn quá, người ta đã đưa ông cụ vào viện tâm thần.

 Tình thế “trốn già” của ông lão thật xúc động. Nhưng ở một nhà thơ trẻ như Ly Hoàng Ly, sự cắt đêmlấy tóc vá đêm lại cho đến trọc đầu, có cái gì bi đát hơn, bởi nó quá mới, quá trẻ, bởi nó không từ tuổi tác, mà từ những nhận thức đớn đau về hiện thực xung quanh, về những khủng hoảng chồng chất đã qua, của một Hoàng Cầm hoảng loạn, của một Hoàng Hưng mất ngủ, của một ai kia không biết... Chính cái kinh nghiệm buốt xót về sự khủng hoảng tâm thần của người lớn đã lây sang tuổi thơ, dồn ép trong tâm thức cô bé Kinh Bắc, trốn vào tiềm thức, lớn dần thành thơ, chín dần trong ba mươi năm cho đến khi Lô Lô ra đời.

 Người đàn bà và căn nhà cổ, là bài thơ viết theo nhịp hiện thực huyền ảo, cũng là tự truyện của một bé gái từ lúc còn là bào thai nằm trong bụng mẹ: người mẹ quyết vượt đêm, quyết sống còn trên những gián giun, vi khuẩn, để con mình được chào đời, mong nó sẽ rửa sạch không gian bụi bặm, nhiễm trùng đã tiêu diệt mình.

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Trên chiếc ghế bọc nhung lành lặn duy nhất (...)

 

Tường ố mưa đêm bao năm

Màu vàng lên rêu mốc

Mưa điên cuồng bên ngoài

Đòi trút vào nhà cổ những u uất

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Buồn thảm và kiên định

 

Những con vi khuẩn bám trên từng hạt bụi

Nghe ngóng sự sinh sôi ẩm mốc

Dưới gầm chiếc phản lên nước như gưong soi

Là đêm của thế kỷ trước

Dưới gầm chiếc phản lên nước như gương soi

Lũ gián khua râu hà hít.

 

Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

 Giữ đứa con trong bụng tư thế ung dung và thách thức

 Những con gián túa ra từ gầm phản

 Bắt đầu gặm nhấm chiếc ghế lành lặn

 

 Người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân

Hút cạn mắt một đêm

Từ từ rã xác

Hút cạn mắt nghìn mưa

Nhà cổ ngập tiếng khóc

 

Oe Oe Oe

 Nhà cổ rùng mình thức giấc

 Lũ gián bò toán loạn trên chiếc áo dài rũ trắng sàn gạch

 

Đứa bé gái mặc áo dài trắng nhẹ nhàng tụt xuống từ chiếc ghế bọc nhung duy nhất lành lặn

Mắt tròn trong vắt

Đi một vòng ngơ ngác

Sờ tay lên lò sưởi và cửa sổ và tường và mọi thứ ẩm mốc

Thấy tay đầy vi khuẩn

 

Bàn tay màu xám ngắt

Vặn núm cửa bước ra đêm mưa bão bùng

 

Cánh cửa dày đặc văn tự cổ sập lại sau lưng

Khi ấy đêm vụt tắt

Những hạt nắng như mưa rơi rơi không dứt

Rửa sạch bàn tay bụi bặm.

(Người đàn bà và căn nhà cổ)

 

Bài thơ có cấu trúc đoản, mỗi khúc nối nhau bằng hình người đàn bà mặc áo dài trắng ngồi bắt chéo chân trong ẩm mốc, căn nhà cổ có tự bao giờ? Nàng không nhúc nhích, nàng bị vây kín, bị tấn công, mọi mặt, quá khứ u uất, hiện tại vi khuẩn, nàng ngồi bắt chéo chân kiên trì chống trả trong yên lặng cho đến hơi thở cuối cùng. Nàng, người mẹ ấy đã nát thân, tan xác cho gián gậm, quyết bảo toàn đứa con trong bụng, đẩy bọn dán giun không đục khoét được bào thai. Nàng hy sinh cho con chào đời: một đứa bé gái. Người đàn bà hút cạn mắt một đêm từ từ rã xác, hút cạn mắt nghìn mưa, những hình ảnh ghê gớm, phả đến từ một thế giới khác để đối chất với một hình ảnh cực kỳ trong sáng “đứa bé gái mắt tròn trong vắt” của hôm nay.

 

Gia tài của mẹ để lại cho con, trong thơ Ly Hoàng Ly, không phải là một nước Việt buồn, như trong thơ Trịnh, mà còn đớn đau chua xót hơn: đó là cơn ác mộng triền miên, là bóng đêm dày đặc, là căn nhà cổ đầy vi khuẩn, là núi văn tự ẩm mốc, là không gian bão tố. Sáng trưa chiều tối là đêm.

Một mình, người con gái Kinh Bắc ấy, làm sao có thể biến đêm thành ngày?

 

 

Chú thích:

 (1) và (2) thơ Hoàng Hưng

(3) thơ Hoàng Cầm

Thụy Khuê
Paris, tháng 2/2006

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 202312:43 SA(Xem: 5102)
Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng dành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.
04 Tháng Chín 20238:30 CH(Xem: 4680)
Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!
10 Tháng Bảy 20231:55 CH(Xem: 5733)
PHỤ NỮ GIỮA CHIẾN TRANH VIỆT NAM: THỜI ĐIỂM 1969 Tầm nhìn Chiến tranh, Giấc mơ Hòa bình [Visions of War, Dreams of Peace] [1] là nhan đề một tuyển tập thơ của các nhà thơ nữ; nếu là Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, họ đã là những nữ quân nhân như y tá, bác sĩ đã từng chăm sóc các thương bệnh binh; nếu ở những ngành nghề khác, họ đảm trách các dịch vụ không tác chiến như chuyên viên truyền tin, tiếp vận, kiểm soát không lưu, nhân viên Hồng Thập Tự... Nếu là người Việt, họ là những phụ nữ thuộc hai miền Nam hay Bắc, với những trải nghiệm khác nhau, qua những năm tháng chiến tranh. Và như từ bao giờ, cho dù ở đâu, phụ nữ và trẻ em vẫn là thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Trong tập thơ này, có 34 nhà thơ nữ Hoa Kỳ, và sáu nhà thơ nữ Việt Nam: Xuân Quỳnh (My Son’s Childhood), Hương Tràm (The Vietnamese Mother), Hà Phương (To An Phu, From This Distance I Talk To You), Trần Mộng Tú (The Gift In Wartime, Dream of Peace), Minh Đức Hoài Trinh..., Nguyễn Ngọc Xuân...
09 Tháng Sáu 20234:36 CH(Xem: 5448)
T. cận tôi trai Hà Nội, song có dịp được đi & sống ở nhiều vùng đất trở thành thân quen, rồi yêu quý - và một trong những vùng đất đó là Bình Định. Một sinh viên của tôi làm phim tốt nghiệp về “Võ Bình Định”, tôi rất vui, bảo: “Thầy mới chỉ biết đôi chút về Trời văn Bình Định thôi, phim của em giúp thầy và nhiều người hiểu thêm về Đất Võ Bình Định đáng tự hào”… Mấy Hội thảo Khoa học về cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - người thầy của Đào Tấn vĩ đại, về Tổng đốc Lê Đại Cang, may được ông Tổng BT tạp chí Văn Hiến Nguyễn Thế Khoa chiếu cố mời về cùng với tham luận và làm phim nên càng có dịp thâm nhập sâu hơn vào kho tàng văn hóa Bình Định. Một dạo, có lớp tập huấn về Biến đổi khí hậu do Thái Lan và Diễn đàn “Nhà báo Môi trường” tổ chức tại Quy Nhơn, được mời tham dự và làm phim cho họ, tôi có điều kiện hiểu thêm về giá trị của Môi trường “xứ Nẫu” nói riêng và Biển miền trung Trung bộ nói chung…
24 Tháng Năm 20234:02 CH(Xem: 5383)
Trong số những nhà thơ lớn Việt Nam các thời Cổ - Trung - Cận đại, tình cảm đặc biệt nhất của tôi với tư cách một người làm phim truyện, là dành cho Thi sĩ-Nhà giáo-Thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu. Bởi theo tôi, giá trị lớn nhất, sức hấp dẫn kỳ lạ nhất trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu, chính là trái tim thương cảm của ông đối với Dân, đối với những nghĩa sĩ đã xả thân cho Tổ quốc, và đặc biệt với phụ nữ, trẻ em - những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, loạn lạc…
21 Tháng Ba 20235:16 CH(Xem: 4686)
Chẳng thể cứ tự hào Việt Nam nay là đất nước phát triển nếu như dân cư của cả nước vẫn phải sống với nguồn nước bẩn và một môi trường đầy ô nhiễm. “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước.” Oded Distel [chuyên gia về nước của Do Thái] Đề nghị chọn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 là Ngày Nước Việt Nam / Vietnam Water Day. [Nhóm Bạn Cửu Long]
26 Tháng Hai 20238:39 CH(Xem: 5530)
Mai An Nguyễn Anh Tuấn Ủng hộ lời kêu cứu cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà khoa học Ngô Thế Vinh trên vanviet.info và bauxitevn.net
13 Tháng Hai 202312:43 SA(Xem: 5455)
順天者存,逆天者亡 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong Thuận với thiên nhiên thì còn. Nghịch với thiên nhiên thì mất. [Mạnh Tử] “Kế hoạch phát triển nào cũng phải tính tới cái giá môi sinh phải trả – environmental costs – đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.” Ngô Thế Vinh
06 Tháng Giêng 202312:11 SA(Xem: 5171)
Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.
14 Tháng Mười 202211:28 CH(Xem: 6524)
Năm 2020, đã có một lúc bao nhiêu triệu cư dân vùng hạ lưu sông Mekong thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Bộ Điện Lực Cam Bốt tuyên bố hoãn mọi dự án thuỷ điện trên sông Mekong trong 10 năm tới [1], như vậy là ít nhất có một thời kỳ dưỡng thương cho dòng sông bị đầy những vết cắt do chuỗi đập thuỷ điện của Trung Quốc và Lào phía thượng nguồn. Nhưng rồi mới đây, chỉ hai năm sau, 2022, là một tin chấn động khác: Phnom Penh tuyên bố cho tái phục hoạt / resurrection dự án thủy điện Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong phía đông bắc Cam Bốt sát ranh giới với Lào. Dự án này không chỉ sẽ tàn phá sinh cảnh các khu đất ngập được bảo vệ bởi Công ước Ramsar ký kết từ năm 1971, mà còn gây tác hại vô lường trên hai vùng châu thổ phì nhiêu Tonlé Sap và ĐBSCL. Đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết nhìn lại toàn cảnh cuộc hành trình gian truân của một dòng sông – Sông Mekong hơn nửa thế kỷ qua.