- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,511,200

Bước Mãi Đến Thiên Thu

15 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 72289)

buoctoithienthu3_0_300x200_1Lê Thị Thanh Thảo dịch

Hai người lớn lên cạnh nhà nhau, tại rìa thành phố, nơi tiếp giáp cánh đồng, khu rừng và vườn cây trái, trong tầm nhìn cái tháp chuông xinh xắn của ngôi trường cho người mù.

 

Bây giờ họ đã hai mươi tuổi và dễ đến gần năm trời họ không gặp mặt nhau. Giữa hai người bao giờ cũng là sự ấm áp vui tươi và thư thái, nhưng chưa bao giờ họ nói đến tình yêu.

 

Tên anh là Newt. Tên cô là Catharine. Lúc xế trưa, Newt đến gõ cửa nhà Catharine.

 

Catharine ra mở cửa. Cô cầm trên tay cuốn tạp chí khổ lớn, màu sắc bóng láng cô đang đọc. Cuốn tạp chí dành trọn số đăng bài và hình ảnh về cô dâu. “Newt!” Cô kêu lên. Cô ngạc nhiên khi thấy anh.

 

“Em ra đi dạo được không?” Anh bảo cô. Anh là người có tính hay e thẹn, ngay cả với Catharine cũng thế. Anh che đậy tính hay thẹn của mình bằng cách nói trống không, như thể những điều thực sự liên quan đến anh đều nằm ngoài xa—như thể anh là một điệp viên tạm nghỉ chân trong một đặc vụ giữa những điểm đến xa xôi, đẹp đẽ nhưng hung hiểm. Xưa nay, đây vẫn là cách nói năng của Newt, ngay cả khi anh phải đương đầu với sự việc trong tuyệt vọng.

 

“Đi dạo à?” Catharine hỏi anh.

 

“Một chân trước, một chân sau,” anh trả lời cô, “giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

“Em không biết anh mới về.”

 

“Anh vừa về đến.”

 

“Vẫn còn trong quân đội à—em thấy rồi.”

 

“Còn bảy tháng nữa.” Anh bảo cô. Anh là binh nhất trong binh chủng Pháo binh. Bộ quân phục anh nhầu nhĩ. Đôi giày anh bụi bám đầy. Anh cần cạo râu. Anh đưa tay ra cầm lấy cuốn tạp chí. “Xem nào, cuốn

sách đẹp.”

 

Cô đưa cuốn báo cho anh. “Newt, em sắp lên xe hoa.” Cô bảo anh.

 

“Anh biết, mình đi dạo đi.”

 

“Newt, em bận lắm,” cô bảo anh. “Tuần tới là đám cưới.”

 

“Nếu ra đi dạo, em sẽ tươi hồng. Em sẽ là một cô dâu màu hồng.” Anh lật lật cuốn báo. “Một cô dâu màu hồng như cô này—cô này—cô này.” Anh nói, tay chỉ vào những cô dâu màu hồng.

 

Khuôn mặt Catharine bỗng ửng hồng, cô đang nghĩ đến những cô dâu màu hồng.

 

“Đấy là quà cưới của anh cho Henry Steward Chasens,” Newt bảo cô. “Đưa em đi dạo, anh sẽ tặng anh ta một cô dâu màu hồng.”

 

“Anh biết tên anh ấy?”

 

“Mẹ viết thư. Hôm đi Pittsburg thì phải?”

 

“Vâng,” cô bảo anh. “Anh sẽ thích anh ấy.”

 

“Có thể.”

 

“Newt, anh—anh đi dự đám cưới được chứ?” Cô hỏi anh.

 

“Chắc là không được.”

 

“Anh hết hạn nghỉ phép rồi sao?”

 

“Nghỉ phép?” Anh nói, mắt vẫn không rời trang quảng cáo những đồ dùng bằng bạc trong cuốn tạp chí. “Anh đâu được nghỉ phép.”

 

“Ô hay!”

 

“Anh trốn trại về.”

 

“Ô, Newt! Thật thế không?” Cô kêu lên.

 

“Thật đấy,” anh nói, mắt vẫn nhìn vào cuốn tạp chí.

 

“Tại sao vậy, Newt?”

 

“Anh cần biết em thích loại đồ bạc nào.” Anh đọc tên những mẫu hàng dao muỗng nĩa làm bằng bạc trong cuốn tạp chí. “Albemarle? Heather? Legend? Rambler Rose?” Anh ngước mặt lên, mỉm cười. “Anh định tặng vợ chồng em một cái thìa bạc.”

 

“Newt, Newt—anh nói thật đi.” Cô bảo anh.

 

“Anh muốn đi dạo.”

 

Cô đan hai tay vào nhau trong tâm trạng lo âu của cô em gái. “Newt—anh đùa với em về chuyện anh trốn trại, phải không?”

 

Newt giả giọng khe khẽ làm tiếng còi hụ xe cảnh sát, anh nhướng đôi lông mày.

 

“Ở đâu—từ đâu ra?”

 

Fort Bragg.”

 

North Carolina?”

 

“Đúng đấy, gần Fayetteville—nơi Scarlett O'Hara đi học.”

 

“Newt, anh về bằng cách nào?” Cô hỏi anh.

 

Anh đưa ngón tay cái ra ngoắc ngoắc, ngầm bảo anh đi quá giang xe về.

 

“Mất hai hôm.” Anh bảo cô.

 

“Mẹ anh biết anh về chưa?”

 

“Anh về không phải để thăm mẹ.”

 

“Chứ để thăm ai?”

 

“Em.”

 

“Tại sao là em?”

 

“Bởi vì anh yêu em. Bây giờ mình đi dạo được chưa? Một chân trước, một chân sau—giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

-o-

 

Bây giờ hai người đang đi dạo, trong khu rừng trải thảm lá nâu khô.

 

Catharine giận lắm, người cô run lên, nước mắt chỉ chực trào ra. “Newt! Thật là điên, điên quá sức mất thôi.” Cô bảo anh.

 

“Điên như thế nào?” Newt hỏi lại.

 

“Chỉ có điên mới đúng ngay vào lúc này bảo yêu em. Trước đây anh có nói như thế bao giờ.” Cô bỗng dừng bước.

 

“Đi nữa đi em.” Anh bảo cô.

 

“Không! Em không đi nữa. Lẽ ra em chẳng nên đi ra ngoài với anh như thế này.”

 

“Em đi rồi đấy.”

 

“Để kéo anh ra khỏi nhà chứ có ai vô tình bước vào nghe anh nói chuyện với em như thế trước ngày đám cưới một tuần thì—”

 

“Họ sẽ nghĩ gì?” Anh hỏi cô.

 

“Họ sẽ nghĩ anh là người điên.”

 

“Tại sao?”

 

Catharine hít vào một hơi thở sâu, đoạn cô đọc một bài diễn văn. “Hãy cứ nói là em vô cùng vinh dự với hành động điên khùng này của anh. Em không thể nào tin nổi anh thật sự trốn trại về đây, nhưng có thể anh làm thế thật. Em cũng không tin nổi anh thật sự yêu em, nhưng anh có thể yêu em thật. Nhưng—”

 

“Anh yêu em thật,” Newt bảo cô.

 

“Ừ, em vô cùng vinh dự,” Catharine bảo anh, “và em rất quý mến anh như người bạn. Newt, em quý anh lắm—nhưng trễ quá rồi.” Cô lùi lại một bước ra xa anh. “Thậm chí anh chưa bao giờ hôn em,” cô bảo anh, cô đưa hai tay lên như tự vệ. “Em không có ý nói bây giờ anh nên hôn em, nhưng mọi chuyện xảy ra bất ngờ quá và em hoàn toàn không biết phải ứng phó như thế nào.”

 

“Đi thêm đoạn nữa,” Anh bảo cô. “Cứ việc thong thả.”

 

Hai người lại tiếp tục đi.

 

“Anh chờ đợi phản ứng gì từ em?” Cô hỏi anh.

 

“Làm sao anh biết anh chờ đợi điều gì?” Anh trả lời cô. “Anh chưa làm như thế này bao giờ.”

 

“Anh nghĩ là em sẽ chạy lại ôm chầm lấy anh ư?”

 

“Có thể.”

 

“Rất tiếc em đã làm anh thất vọng.”

 

“Anh không thất vọng. Anh không mong chuyện đó. Đi dạo thế này là tốt đẹp lắm rồi.”

 

Catharine lại dừng bước. “Anh biết chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp không?” Cô nói.

 

“Không.”

 

“Chúng mình bắt tay. Bắt tay xong chia tay như bạn. Đó là chuyện sẽ xảy ra kế tiếp.”

 

Newt gật đầu. “Được rồi.” Đoạn anh nói tiếp, “Thỉnh thoảng nhớ đến anh. Nhớ tình của anh cho em.”

 

Không tự chủ được nữa, Catharine bật lên khóc. Cô quay lưng lại Newt, hướng về phía cây rừng đan nhau chạy dài sâu hút đến vô tận.

 

“Thế này nghĩa là gì?” Newt hỏi cô.

 

“Tức chết được chứ gì nữa!” Catharine trả lời anh, hai tay cô nắm chặt. “Anh không có quyền gì—”

 

“Anh sẽ phải tìm ra thôi,” anh bảo cô.

 

“Nếu em yêu anh thì em đã để lộ ra cho anh thấy từ trước đây rồi.”

 

“Thế à?”

 

“Chứ còn gì nữa,” cô bảo anh. Cô quay lại đối diện anh, nhìn lên anh, mặt cô đỏ gay. “Anh phải biết.”

 

“Cách nào anh biết?”

 

“Anh phải nhìn thấy. Đàn bà không khéo che giấu tình cảm của mình.”

 

Newt nhìn sát mặt cô. Cô bỗng hoảng vía bởi cô nhận ra điều cô vừa nói là sự thật, đàn bà khó có thể che giấu được tình yêu.

 

Giờ đây Newt nhìn thấy tình yêu.

 

Anh làm điều anh phải làm. Anh hôn cô.

 

-o-

 

“Anh thật là quá sức!” Cô bảo anh sau khi anh buông cô ra.

 

“Anh quá sức gì?”

 

“Anh không nên làm thế.”

 

“Em không thích à?”

 

“Anh muốn gì? Tình yêu say đắm, cuồng nhiệt chăng?”

 

“Anh bảo em rồi, anh không bao giờ biết chuyện gì xảy ra kế tiếp.”

 

“Mình chia tay.” Cô bảo anh.

 

Anh khẽ nhíu mày. “Được rồi.” Anh bảo cô.

 

Cô lại đọc bài diễn văn khác. “Rất tiếc chúng mình hôn nhau. Nó ngọt ngào lắm. Nên hôn nhau chứ, chúng mình thân thiết nhau quá mà. Newt, em sẽ luôn luôn nhớ đến anh. Thôi, chúc anh may mắn.”

 

“Em cũng thế.” Newt bảo cô.

 

“Newt, cám ơn anh.”

 

“Ba mươi ngày.”

 

“Gì cơ?”

 

“Ba mươi ngày bị nhốt,” anh bảo cô— “đó là cái giá anh phải trả cho một nụ hôn.”

 

“Em—em rất tiếc, nhưng em có bảo anh trốn trại bao giờ đâu.”

 

“Anh biết.”

 

“Nhưng anh cũng không xứng đáng nhận lãnh huy chương anh hùng cho việc làm ngu ngốc đó của anh.” Cô bảo anh.

 

“Làm anh hùng thì thích thật. Henry Steward Chasens có là anh hùng không?”

 

“Có thể lắm chứ, nếu anh ấy có cơ hội,” Catharine bảo anh. Cô ngượng ngùng nhận ra hai người lại tiếp tục cất bước. Cuộc chia tay bị bỏ quên.

 

“Em yêu anh ta thật không?” Newt hỏi cô.

 

“Chắc chắn em yêu anh ấy chứ.” Giọng nói cô quả quyết. “Nếu không yêu thì em đâu chịu lấy anh ấy.”

 

“Cái gì tốt đẹp nơi con người anh ta?” Newt lại hỏi.

 

“Nói thật này!” Cô kêu lên, lại dừng bước. “Anh có biết anh đang tọc mạch lắm không? Có thật nhiều, nhiều, nhiều điều tốt đẹp về Henry! Vâng, và có lẽ cũng có thật nhiều, nhiều, nhiều điều xấu nữa. Nhưng nó chẳng liên quan gì đến anh. Em yêu Henry, và em chẳng cần phải cãi cọ với anh về đức hạnh của anh ấy làm gì.”

 

“Xin lỗi em.” Newt bảo cô.

 

“Em nói thật đấy!”

 

Newt lại hôn cô. Anh hôn cô lần nữa bởi cô muốn như thế.

 

Bây giờ hai người đang đứng trong một vườn cây rộng.

 

“Newt! Mình đi xa nhà quá rồi.” Catharine bảo anh.

 

“Một chân trước, một chân sau—giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

“Một bước, hai bước nối tiếp nhau, cứ thế đi mãi.” Cô bảo anh.

 

Tiếng chuông đổ vọng lại từ tháp chuông ngôi trường cho người mù gần đó.

 

“Trường học cho người mù.” Newt nói.

 

“Trường học cho người mù.” Catharine đáp lời. Cô lắc đầu trong nỗi kinh ngạc mê muội. “Em phải về nhà ngay thôi.”

 

“Mình chào nhau,” Newt bảo cô.

 

“Hình như mỗi lần làm thế, em lại bị hôn.”

 

Newt ngồi xuống thảm cỏ mới cắt xén dưới gốc một cây táo. “Ngồi xuống đây đi em,” anh bảo Catharine.

 

“Không.”

 

“Anh sẽ không chạm vào em đâu.” Anh bảo cô.

 

“Em không tin anh.”

 

Cô ngồi xuống dưới gốc cây táo khác cách xa chỗ anh sáu bảy thước. Hai mắt cô nhắm lại.

 

“Nhắm mắt mơ về Henry Steward Chasens đi.” Newt bảo cô.

 

“Gì cơ?” Cô hỏi lại anh.

 

“Mơ về người chồng tương lai tuyệt diệu đi.”

 

“Được rồi, anh không cần nhắc em.” Cô nhắm hai mắt chặt hơn, thoáng thấy hình ảnh người chồng tương lai của mình hiện ra.

 

Newt ngáp dài.

 

Có tiếng ong vo ve trên tàn cây, Catharine suýt trôi vào giấc ngủ. Lúc mở mắt cô thấy Newt đã ngủ say tự lúc nào không biết.

 

Anh bắt đầu ngáy khe khẽ.

 

Catharine để Newt ngủ cả giờ đồng hồ, và trong lúc anh ngủ cô thấy lòng mình ngập tràn nỗi niềm thương yêu.

 

Bóng những cây táo càng lúc càng ngả về hướng Đông. Tiếng chuông từ ngôi trường cho người mù lại đổ.

 

“Chíc-cà-đi-đi-đi,” tiếng hót của con chim chickadee nghe lanh lảnh đâu đây.

 

Từ khoảng cách xa xa vọng lại tiếng một chiếc xe đang nổ máy, rồ lên rồi lại tắt, mấy lần và cuối cùng im bặt.

 

Catharine bước ra khỏi gốc cây táo, cô đến quỳ xuống bên cạnh Newt.

 

“Newt?” Cô gọi anh.

 

“Hử?” Anh mở choàng mắt.

 

“Trễ rồi.” Cô bảo anh.

 

“Catharine.”

 

“Newt.”

 

“Anh yêu em.” Anh bảo cô.

 

“Em biết.”

 

“Trễ quá rồi.” Anh bảo cô.

 

“Trễ quá rồi.” Cô lặp lại.

 

Anh đứng lên, vươn vai. “Thật là một buổi đi dạo thích thú.” Anh bảo cô.

 

“Em cũng thấy thế.”

 

“Mình chia tay nơi đây?” Anh hỏi cô.

 

“Anh định đi đâu?” Cô hỏi anh.

 

“Quá giang xe vào thị trấn rồi ra trình diện.”

 

“Chúc anh may mắn.”

 

“Em cũng thế.” Anh bảo cô. “Catharine, lấy anh đi.”

 

“Không.” Cô trả lời anh.

 

Miệng anh nở nụ cười, anh nhìn thật sâu vào mặt cô một lúc lâu, đoạn quay lưng bước nhanh.

 

Catharine nhìn anh nhỏ dần dọc theo đường viễn ảnh của bóng chiều và hàng cây, cô biết nếu anh dừng chân và quay lại ngay lúc này, nếu anh gọi tên cô thì cô sẽ chạy lại anh mất thôi. Cô không có chọn lựa nào khác. 

Newt dừng chân thật. Anh quay người lại thật. Anh gọi tên cô thật. 

“Catharine,” anh gọi cô. 

Cô chạy lại, ôm chầm lấy anh, không thốt được lời nào. 

Lê Thị Thanh Thảo dịch

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 69862)
Larsson lìa đời trước khi đứa con tinh thần, bộ tiểu thuyết thuộc loại trinh thám, Millennium Trilogy, gồm ba cuốn, mà ông đã viết vào mỗi tối như một trò giải trí cho thần kinh bớt căng thẳng, ra đời sáu tháng sau khi ông ký giao kèo với một nhà xuất bản Thụy Điển, Norstedts Förlag, nhà xuất bản thứ hai Larsson liên lạc và ký giao kèo, sau khi gửi cho một nhà xuất bản thứ nhất tới hai lần mà gói sách không hề được mở ra.
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 78876)
Gần hai chục năm sau biến cố 30 tháng Tư 1975, chúng tôi có cái hân hạnh được Công đoàn bảo hiểm Pháp ( Fédération Française des Sociétés d’Assurance ), qua thỏa ước với Bộ Tài chánh CHXHCNVN, gởi về nước cùng với một số nhà giáo Pháp giảng dạy bộ môn Bảo hiểm còn mới này trong trường Đại học Tài chính và Kế toán Hà nội - nay trường đã lột xác trở thành Học viện Tài chính.
14 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 92362)
Về đi thôi nhật ký ngày chân đất Gốc đa già bà kể lá bùa yêu Em ôm giấc thị thành nửa mùa cổ tích Hỏi gió trời sao giấu lá bùa yêu 
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 65610)
Phụ Chú: 1. Thuật ngữ Việt Nam hoá [Vietnamization] được dùng để mô tả những diễn biến thu nhập và thực thi những biến đổi xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị do chế độ bảo hộ Pháp cưỡng bách áp đặt từ 1861 tới 1945, sau khi chế độ thực dân Pháp bị soi mòn dần từ năm 1940-1941 rồi cuối cùng bị xóa bỏ từ tháng 3/1945. Dù trong Anh ngữ, từ này còn một hàm ý khác — như chính sách Việt nam hóa cuộc chiến tranh Việt Nam của Liên bang Mỹ (1964-1973) — chúng tôi nghĩ thuật ngữ Việt Nam hoá chính xác hơn Việt hóa [Vietism hay Vietnamism].
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 65033)
III. ĐOẠN KẾT KHỦNG HOẢNG Trong tháng 8, Việt Nam trải qua một giai đoạn đầy biến động, trên bối cảnh chính trị quốc tế. Một mặt, phe Đồng Minh bắt đầu thực thi các kế hoạch hậu chiến đối với Việt Nam, từ giải giới quân Nhật tới chia chác vùng ảnh hưởng; mặt khác, ngay tại Đông Dương, người Nhật bị tê liệt không những chỉ vì lệnh đầu hàng đột ngột vô điều kiện mà còn vì viễn ảnh bị Đồng Minh trừng phạt. Với người Việt, các quan tướng Nhật bị phân chia theo yếu tố tâm lý và ý thức hệ.
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 57529)
II. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM (17/4 - 25/8/1945) Mặc dù chính phủ Trần Trọng Kim chỉ là một thứ “tai nạn lịch sử,” được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật, chính phủ được Nhật bảo trợ này soi sáng mặt trái của đồng tiền cách mạng 1945 tại Việt Nam, mà cho tới năm 2010 còn bị che phủ bởi đủ loại tài liệu tuyên truyền.
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 61895)
(*).LTG: Bài này rút ra từ Phần II, “The End of An Era” [Đoạn Kết của Một Thời Đại], của Luận án Tiến sĩ [Ph.D.] sử học “Political and Social Change in Viet Nam between 1940 and 1946” đệ trình tại Đại học Wisconsin-Madison vào tháng 12/1984, dưới sự hướng dẫn của cố Giảng sư John R. W. Smail; và đã in trên Journal of Asian Studies [Tạp chí Nghiên Cứu Á Châu] vào tháng 2/1986, XLV: 2, pp. 293-328, với cùng tựa “The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945).” Phần tư thế kỷ sau, nhân dịp sinh nhật thứ 68, và kỷ niệm 65 năm cách mạng 1945, hiệu đính lại lần chót hầu phổ biến rộng rãi hơn trong giới người trẻ Việt muốn đi tìm sự thực lịch sử.
28 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 69282)
Con tàu đã trở nên ọp ẹp, mấy mươi năm còn gì. Người ta nói đây là chuyến tàu tốt nhất hiện nay. Hành khách bực dọc phàn nàn tốt gì mà tốt, như đống sắt vụn, làm như họ là kẻ trên trời rơi xuống không bằng.
23 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 71160)
Tình yêu, cũng như chiến tranh, là hai đề tài muôn thuở của con người. Văn chương ngoại quốc nói về chiến tranh, viết về những trận chiến gần, xa trong lịch sử, chúng ta vẫn thích đọc. Vậy thì tại sao, người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam lại nhàm chán?
20 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 76770)
... Tôi đã từng ăn thịt chuột. Tôi ăn vụng của em tôi. Bố cấm tôi nói cho ai biết. Bố đã cho thằng em tôi ăn bao nhiêu con chuột tôi cũng không nhớ nổi. Chỉ có điều bố thích như vậy. Bố nướng con chuột lên, thế thôi. Thằng em tôi cười hềnh hệch, nước dãi chảy dài, cầm con chuột gặm như một bắp ngô nướng. Những tảng máu chưa đông rịn đỏ hai mép. Tôi thấy đầu mình ung ung. Những hình ảnh như những mảnh vỡ lộn xộn va đập vào nhau liên hồi ...