- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bước Mãi Đến Thiên Thu

15 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 109628)

buoctoithienthu3_0_300x200_1Lê Thị Thanh Thảo dịch

Hai người lớn lên cạnh nhà nhau, tại rìa thành phố, nơi tiếp giáp cánh đồng, khu rừng và vườn cây trái, trong tầm nhìn cái tháp chuông xinh xắn của ngôi trường cho người mù.

 

Bây giờ họ đã hai mươi tuổi và dễ đến gần năm trời họ không gặp mặt nhau. Giữa hai người bao giờ cũng là sự ấm áp vui tươi và thư thái, nhưng chưa bao giờ họ nói đến tình yêu.

 

Tên anh là Newt. Tên cô là Catharine. Lúc xế trưa, Newt đến gõ cửa nhà Catharine.

 

Catharine ra mở cửa. Cô cầm trên tay cuốn tạp chí khổ lớn, màu sắc bóng láng cô đang đọc. Cuốn tạp chí dành trọn số đăng bài và hình ảnh về cô dâu. “Newt!” Cô kêu lên. Cô ngạc nhiên khi thấy anh.

 

“Em ra đi dạo được không?” Anh bảo cô. Anh là người có tính hay e thẹn, ngay cả với Catharine cũng thế. Anh che đậy tính hay thẹn của mình bằng cách nói trống không, như thể những điều thực sự liên quan đến anh đều nằm ngoài xa—như thể anh là một điệp viên tạm nghỉ chân trong một đặc vụ giữa những điểm đến xa xôi, đẹp đẽ nhưng hung hiểm. Xưa nay, đây vẫn là cách nói năng của Newt, ngay cả khi anh phải đương đầu với sự việc trong tuyệt vọng.

 

“Đi dạo à?” Catharine hỏi anh.

 

“Một chân trước, một chân sau,” anh trả lời cô, “giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

“Em không biết anh mới về.”

 

“Anh vừa về đến.”

 

“Vẫn còn trong quân đội à—em thấy rồi.”

 

“Còn bảy tháng nữa.” Anh bảo cô. Anh là binh nhất trong binh chủng Pháo binh. Bộ quân phục anh nhầu nhĩ. Đôi giày anh bụi bám đầy. Anh cần cạo râu. Anh đưa tay ra cầm lấy cuốn tạp chí. “Xem nào, cuốn

sách đẹp.”

 

Cô đưa cuốn báo cho anh. “Newt, em sắp lên xe hoa.” Cô bảo anh.

 

“Anh biết, mình đi dạo đi.”

 

“Newt, em bận lắm,” cô bảo anh. “Tuần tới là đám cưới.”

 

“Nếu ra đi dạo, em sẽ tươi hồng. Em sẽ là một cô dâu màu hồng.” Anh lật lật cuốn báo. “Một cô dâu màu hồng như cô này—cô này—cô này.” Anh nói, tay chỉ vào những cô dâu màu hồng.

 

Khuôn mặt Catharine bỗng ửng hồng, cô đang nghĩ đến những cô dâu màu hồng.

 

“Đấy là quà cưới của anh cho Henry Steward Chasens,” Newt bảo cô. “Đưa em đi dạo, anh sẽ tặng anh ta một cô dâu màu hồng.”

 

“Anh biết tên anh ấy?”

 

“Mẹ viết thư. Hôm đi Pittsburg thì phải?”

 

“Vâng,” cô bảo anh. “Anh sẽ thích anh ấy.”

 

“Có thể.”

 

“Newt, anh—anh đi dự đám cưới được chứ?” Cô hỏi anh.

 

“Chắc là không được.”

 

“Anh hết hạn nghỉ phép rồi sao?”

 

“Nghỉ phép?” Anh nói, mắt vẫn không rời trang quảng cáo những đồ dùng bằng bạc trong cuốn tạp chí. “Anh đâu được nghỉ phép.”

 

“Ô hay!”

 

“Anh trốn trại về.”

 

“Ô, Newt! Thật thế không?” Cô kêu lên.

 

“Thật đấy,” anh nói, mắt vẫn nhìn vào cuốn tạp chí.

 

“Tại sao vậy, Newt?”

 

“Anh cần biết em thích loại đồ bạc nào.” Anh đọc tên những mẫu hàng dao muỗng nĩa làm bằng bạc trong cuốn tạp chí. “Albemarle? Heather? Legend? Rambler Rose?” Anh ngước mặt lên, mỉm cười. “Anh định tặng vợ chồng em một cái thìa bạc.”

 

“Newt, Newt—anh nói thật đi.” Cô bảo anh.

 

“Anh muốn đi dạo.”

 

Cô đan hai tay vào nhau trong tâm trạng lo âu của cô em gái. “Newt—anh đùa với em về chuyện anh trốn trại, phải không?”

 

Newt giả giọng khe khẽ làm tiếng còi hụ xe cảnh sát, anh nhướng đôi lông mày.

 

“Ở đâu—từ đâu ra?”

 

“Fort Bragg.”

 

“North Carolina?”

 

“Đúng đấy, gần Fayetteville—nơi Scarlett O'Hara đi học.”

 

“Newt, anh về bằng cách nào?” Cô hỏi anh.

 

Anh đưa ngón tay cái ra ngoắc ngoắc, ngầm bảo anh đi quá giang xe về.

 

“Mất hai hôm.” Anh bảo cô.

 

“Mẹ anh biết anh về chưa?”

 

“Anh về không phải để thăm mẹ.”

 

“Chứ để thăm ai?”

 

“Em.”

 

“Tại sao là em?”

 

“Bởi vì anh yêu em. Bây giờ mình đi dạo được chưa? Một chân trước, một chân sau—giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

-o-

 

Bây giờ hai người đang đi dạo, trong khu rừng trải thảm lá nâu khô.

 

Catharine giận lắm, người cô run lên, nước mắt chỉ chực trào ra. “Newt! Thật là điên, điên quá sức mất thôi.” Cô bảo anh.

 

“Điên như thế nào?” Newt hỏi lại.

 

“Chỉ có điên mới đúng ngay vào lúc này bảo yêu em. Trước đây anh có nói như thế bao giờ.” Cô bỗng dừng bước.

 

“Đi nữa đi em.” Anh bảo cô.

 

“Không! Em không đi nữa. Lẽ ra em chẳng nên đi ra ngoài với anh như thế này.”

 

“Em đi rồi đấy.”

 

“Để kéo anh ra khỏi nhà chứ có ai vô tình bước vào nghe anh nói chuyện với em như thế trước ngày đám cưới một tuần thì—”

 

“Họ sẽ nghĩ gì?” Anh hỏi cô.

 

“Họ sẽ nghĩ anh là người điên.”

 

“Tại sao?”

 

Catharine hít vào một hơi thở sâu, đoạn cô đọc một bài diễn văn. “Hãy cứ nói là em vô cùng vinh dự với hành động điên khùng này của anh. Em không thể nào tin nổi anh thật sự trốn trại về đây, nhưng có thể anh làm thế thật. Em cũng không tin nổi anh thật sự yêu em, nhưng anh có thể yêu em thật. Nhưng—”

 

“Anh yêu em thật,” Newt bảo cô.

 

“Ừ, em vô cùng vinh dự,” Catharine bảo anh, “và em rất quý mến anh như người bạn. Newt, em quý anh lắm—nhưng trễ quá rồi.” Cô lùi lại một bước ra xa anh. “Thậm chí anh chưa bao giờ hôn em,” cô bảo anh, cô đưa hai tay lên như tự vệ. “Em không có ý nói bây giờ anh nên hôn em, nhưng mọi chuyện xảy ra bất ngờ quá và em hoàn toàn không biết phải ứng phó như thế nào.”

 

“Đi thêm đoạn nữa,” Anh bảo cô. “Cứ việc thong thả.”

 

Hai người lại tiếp tục đi.

 

“Anh chờ đợi phản ứng gì từ em?” Cô hỏi anh.

 

“Làm sao anh biết anh chờ đợi điều gì?” Anh trả lời cô. “Anh chưa làm như thế này bao giờ.”

 

“Anh nghĩ là em sẽ chạy lại ôm chầm lấy anh ư?”

 

“Có thể.”

 

“Rất tiếc em đã làm anh thất vọng.”

 

“Anh không thất vọng. Anh không mong chuyện đó. Đi dạo thế này là tốt đẹp lắm rồi.”

 

Catharine lại dừng bước. “Anh biết chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp không?” Cô nói.

 

“Không.”

 

“Chúng mình bắt tay. Bắt tay xong chia tay như bạn. Đó là chuyện sẽ xảy ra kế tiếp.”

 

Newt gật đầu. “Được rồi.” Đoạn anh nói tiếp, “Thỉnh thoảng nhớ đến anh. Nhớ tình của anh cho em.”

 

Không tự chủ được nữa, Catharine bật lên khóc. Cô quay lưng lại Newt, hướng về phía cây rừng đan nhau chạy dài sâu hút đến vô tận.

 

“Thế này nghĩa là gì?” Newt hỏi cô.

 

“Tức chết được chứ gì nữa!” Catharine trả lời anh, hai tay cô nắm chặt. “Anh không có quyền gì—”

 

“Anh sẽ phải tìm ra thôi,” anh bảo cô.

 

“Nếu em yêu anh thì em đã để lộ ra cho anh thấy từ trước đây rồi.”

 

“Thế à?”

 

“Chứ còn gì nữa,” cô bảo anh. Cô quay lại đối diện anh, nhìn lên anh, mặt cô đỏ gay. “Anh phải biết.”

 

“Cách nào anh biết?”

 

“Anh phải nhìn thấy. Đàn bà không khéo che giấu tình cảm của mình.”

 

Newt nhìn sát mặt cô. Cô bỗng hoảng vía bởi cô nhận ra điều cô vừa nói là sự thật, đàn bà khó có thể che giấu được tình yêu.

 

Giờ đây Newt nhìn thấy tình yêu.

 

Anh làm điều anh phải làm. Anh hôn cô.

 

-o-

 

“Anh thật là quá sức!” Cô bảo anh sau khi anh buông cô ra.

 

“Anh quá sức gì?”

 

“Anh không nên làm thế.”

 

“Em không thích à?”

 

“Anh muốn gì? Tình yêu say đắm, cuồng nhiệt chăng?”

 

“Anh bảo em rồi, anh không bao giờ biết chuyện gì xảy ra kế tiếp.”

 

“Mình chia tay.” Cô bảo anh.

 

Anh khẽ nhíu mày. “Được rồi.” Anh bảo cô.

 

Cô lại đọc bài diễn văn khác. “Rất tiếc chúng mình hôn nhau. Nó ngọt ngào lắm. Nên hôn nhau chứ, chúng mình thân thiết nhau quá mà. Newt, em sẽ luôn luôn nhớ đến anh. Thôi, chúc anh may mắn.”

 

“Em cũng thế.” Newt bảo cô.

 

“Newt, cám ơn anh.”

 

“Ba mươi ngày.”

 

“Gì cơ?”

 

“Ba mươi ngày bị nhốt,” anh bảo cô— “đó là cái giá anh phải trả cho một nụ hôn.”

 

“Em—em rất tiếc, nhưng em có bảo anh trốn trại bao giờ đâu.”

 

“Anh biết.”

 

“Nhưng anh cũng không xứng đáng nhận lãnh huy chương anh hùng cho việc làm ngu ngốc đó của anh.” Cô bảo anh.

 

“Làm anh hùng thì thích thật. Henry Steward Chasens có là anh hùng không?”

 

“Có thể lắm chứ, nếu anh ấy có cơ hội,” Catharine bảo anh. Cô ngượng ngùng nhận ra hai người lại tiếp tục cất bước. Cuộc chia tay bị bỏ quên.

 

“Em yêu anh ta thật không?” Newt hỏi cô.

 

“Chắc chắn em yêu anh ấy chứ.” Giọng nói cô quả quyết. “Nếu không yêu thì em đâu chịu lấy anh ấy.”

 

“Cái gì tốt đẹp nơi con người anh ta?” Newt lại hỏi.

 

“Nói thật này!” Cô kêu lên, lại dừng bước. “Anh có biết anh đang tọc mạch lắm không? Có thật nhiều, nhiều, nhiều điều tốt đẹp về Henry! Vâng, và có lẽ cũng có thật nhiều, nhiều, nhiều điều xấu nữa. Nhưng nó chẳng liên quan gì đến anh. Em yêu Henry, và em chẳng cần phải cãi cọ với anh về đức hạnh của anh ấy làm gì.”

 

“Xin lỗi em.” Newt bảo cô.

 

“Em nói thật đấy!”

 

Newt lại hôn cô. Anh hôn cô lần nữa bởi cô muốn như thế.

 

Bây giờ hai người đang đứng trong một vườn cây rộng.

 

“Newt! Mình đi xa nhà quá rồi.” Catharine bảo anh.

 

“Một chân trước, một chân sau—giẵm lên lá cây, bước qua cầu—”

 

“Một bước, hai bước nối tiếp nhau, cứ thế đi mãi.” Cô bảo anh.

 

Tiếng chuông đổ vọng lại từ tháp chuông ngôi trường cho người mù gần đó.

 

“Trường học cho người mù.” Newt nói.

 

“Trường học cho người mù.” Catharine đáp lời. Cô lắc đầu trong nỗi kinh ngạc mê muội. “Em phải về nhà ngay thôi.”

 

“Mình chào nhau,” Newt bảo cô.

 

“Hình như mỗi lần làm thế, em lại bị hôn.”

 

Newt ngồi xuống thảm cỏ mới cắt xén dưới gốc một cây táo. “Ngồi xuống đây đi em,” anh bảo Catharine.

 

“Không.”

 

“Anh sẽ không chạm vào em đâu.” Anh bảo cô.

 

“Em không tin anh.”

 

Cô ngồi xuống dưới gốc cây táo khác cách xa chỗ anh sáu bảy thước. Hai mắt cô nhắm lại.

 

“Nhắm mắt mơ về Henry Steward Chasens đi.” Newt bảo cô.

 

“Gì cơ?” Cô hỏi lại anh.

 

“Mơ về người chồng tương lai tuyệt diệu đi.”

 

“Được rồi, anh không cần nhắc em.” Cô nhắm hai mắt chặt hơn, thoáng thấy hình ảnh người chồng tương lai của mình hiện ra.

 

Newt ngáp dài.

 

Có tiếng ong vo ve trên tàn cây, Catharine suýt trôi vào giấc ngủ. Lúc mở mắt cô thấy Newt đã ngủ say tự lúc nào không biết.

 

Anh bắt đầu ngáy khe khẽ.

 

Catharine để Newt ngủ cả giờ đồng hồ, và trong lúc anh ngủ cô thấy lòng mình ngập tràn nỗi niềm thương yêu.

 

Bóng những cây táo càng lúc càng ngả về hướng Đông. Tiếng chuông từ ngôi trường cho người mù lại đổ.

 

“Chíc-cà-đi-đi-đi,” tiếng hót của con chim chickadee nghe lanh lảnh đâu đây.

 

Từ khoảng cách xa xa vọng lại tiếng một chiếc xe đang nổ máy, rồ lên rồi lại tắt, mấy lần và cuối cùng im bặt.

 

Catharine bước ra khỏi gốc cây táo, cô đến quỳ xuống bên cạnh Newt.

 

“Newt?” Cô gọi anh.

 

“Hử?” Anh mở choàng mắt.

 

“Trễ rồi.” Cô bảo anh.

 

“Catharine.”

 

“Newt.”

 

“Anh yêu em.” Anh bảo cô.

 

“Em biết.”

 

“Trễ quá rồi.” Anh bảo cô.

 

“Trễ quá rồi.” Cô lặp lại.

 

Anh đứng lên, vươn vai. “Thật là một buổi đi dạo thích thú.” Anh bảo cô.

 

“Em cũng thấy thế.”

 

“Mình chia tay nơi đây?” Anh hỏi cô.

 

“Anh định đi đâu?” Cô hỏi anh.

 

“Quá giang xe vào thị trấn rồi ra trình diện.”

 

“Chúc anh may mắn.”

 

“Em cũng thế.” Anh bảo cô. “Catharine, lấy anh đi.”

 

“Không.” Cô trả lời anh.

 

Miệng anh nở nụ cười, anh nhìn thật sâu vào mặt cô một lúc lâu, đoạn quay lưng bước nhanh.

 

Catharine nhìn anh nhỏ dần dọc theo đường viễn ảnh của bóng chiều và hàng cây, cô biết nếu anh dừng chân và quay lại ngay lúc này, nếu anh gọi tên cô thì cô sẽ chạy lại anh mất thôi. Cô không có chọn lựa nào khác. 

Newt dừng chân thật. Anh quay người lại thật. Anh gọi tên cô thật. 

“Catharine,” anh gọi cô. 

Cô chạy lại, ôm chầm lấy anh, không thốt được lời nào. 

Lê Thị Thanh Thảo dịch

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 57308)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 138367)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 157951)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 108109)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13193)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19601)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18587)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1496)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1649)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2156)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2288)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1376)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2115)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1880)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1939)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1244)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2286)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2509)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2302)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 127)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 709)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 915)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 999)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6334)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1366)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13852)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6812)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10585)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9772)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9904)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10703)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3396)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11064)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi