- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tháng Ba, Ngó Lại (nhân đọc Tháng Ba Gãy Súng Của Cao Xuân Huy)

25 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 123661)

1

Tháng Ba là một tháng vô duyên trong 12 tháng của một năm. Không lễ hội không sắc màu, tháng Ba chỉ có cái nóng. Mà khi đã ra nước ngoài ngó lại, tháng nào của Việt Nam mà chả nóng.

Vừa nóng vừa mưa, nhưng tháng Sáu có phượng thắm đỏ với những hàng lưu bút xanh dòng trên trang giấy trắng. Mùa hè đến, bao nhiêu là chuyện để làm để chơi. Ghi tên học Toán Lý Hóa Anh văn. Học bơi ở hồ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến sân Phan Đình Phùng coi bóng rổ học thể dục. Tha hồ mặc áo thung quần jean đi dép da, sơ mi quần tây sa-bô, tạm quên đồng phục trong ba tháng. Sau một ngày vất vả ngược xuôi buôn bán, tối về đạp xe qua nhà bạn tán dóc, mượn truyện về xem. Khi đã vào đại học, tháng Bảy đi xi nê về dưới mưa có nụ hôn ướt át vụng về mà say lòng son trẻ.

Hè chưa kịp nhìn thì đã tựu trường. Xôn xao thời khóa biểu. Lục đục sách giáo khoa, giấy mực dụng cụ học đường. Lồng đèn xanh đỏ Trung Thu cất lúc nào cũng chẳng biết. Rồi là kiểu quần nào mới phim nào hay. Lá me đường Trần Quí Cáp đã xanh ngắt vòm cây sau mùa mưa. Mộng mơ chờ thư bồ gửi đến hộp thơ của trường khi đã vào đại học. Chớp mắt đã thấy mình đi trên đường Lê Lợi tìm mấy cái thiệp Giáng Sinh tí hon tặng bạn bè. Rồi năm mới mơ mộng mới. Khi ngồi cắt râu củ kiệu rửa rổ dưa hành thì Tết như đã qua rồi mà ngày chưa thực đến.

Tháng Ba, có chi để nhớ. Mình nghĩ chỉ ai có sinh nhật trong tháng đó mới nhớ đến tháng Ba. Và một người lính không sinh tháng Ba. Không sinh tháng Ba nên chỉ nhớ một tháng Ba năm ấy. Tháng Ba năm ấy của người lính ấy, ra sao?

 

 

2.

Mười năm sau khi hai chân đã đứng được trên xứ người thì bắt đầu thương nhớ. Nhớ mẹ cha anh chị em bè bạn. Nhớ mái nhà góc bếp hè xưa. Thương thân mình như cọng ngò bị bứt rời góc vườn nhà đem vùi trên xứ lạ. Trong nỗi thương nhớ mình tìm đọc những quyển bút ký chiến trường xưa. Đã thương thân giờ thêm nỗi thương những người lính vô danh đã chết cho mình cho quê hương mà giờ mình mới biết thương tưởng. Rồi là nhận định, phân tích. Rồi là tự bạch tự minh tự nổ tự thuật. Bút ký chiến trường tha hồ được trưng dẫn bán buôn khi tác giả vẫn tù mòn lưng trong hầm kiên giam. Tưng bừng thương nhớ xót xa. Hân hoan đội mũ cho nhau. Sôi sục. Người lính vô danh không có lời. Điên tiết. Và người lính không sinh tháng Ba ấy viết lại tháng Ba của mình. Viết như nhìn lại mình và nói với đồng đội mình những người đã chết, rằng chúng ta không phải là anh hùng nhưng chưa bao giờ hèn, bại chứ không hàng. Viết để nói với mọi người rằng chúng tôi đã chiến đấu như thế đấy, và đã bị bỏ rơi như thế đấy. Vết thương chiến tranh chưa kịp khép đã lại banh ra toác hoác đỏ lòm. Rõ ràng mình là kẻ vô can mà nỗi hận chiến bại sao như quấn ruột. Nhắm mắt lại, tháng Ba vô duyên, tháng Ba năm ấy của người lính ấy, thôi hãy qua đi…

 

 

3.

Hơn ba mươi năm sau, ghé thăm quận Cam tình cờ mà đụng người lính tháng Ba. Quen cũ chiến trường xưa, họ gặp nhau thật hân hoan rộn rã. Diện ăn có đi theo ngồi chung bàn tha hồ mà nghe mà quan sát người của tháng Ba. Mắt đã đục, tóc đã phai thưa, nhưng lưng còn thẳng và giọng cười còn sảng khoái. Bọt bèo đôi chuyện văn chương chữ nghĩa, dóc lác mua vui chuyện thiên hạ sự, và rải rác đó đây những mảnh đời chinh chiến xa mờ. Sao như có gì lấn cấn. Người lính ấy, và tháng Ba năm ấy, ra sao? Cũng tới lúc mình nhìn lại vết thương cũ quên đi giận hờn mà trả nỗi buồn chiến bại về với quá khứ. Rụt rè thong thả, mình dở lại từng trang tháng Ba xưa.

Một trăm ba mươi trang sách nhỏ, cũng không nhiều. Điểm đáng chú ý đầu tiên là khác biệt lớn lao trong giọng văn.

Lời tựa chất chứa những bực bội giận hờn uất ức, giọng văn cay đắng mang chút nghiệt ngã lộ cái thương thân xót đồng đội bỏ mình oan uổng vì những cấp chỉ huy bất xứng và những quyết định vô lý. Trả lời phỏng vấn cuối sách thì có giọng bất cần thách đố, như một quả lựu đạn đã rút chốt sẵn chờ, ai đó rủi ro xấu số mà trúng phải thì đừng than trách. Đầu và cuối sách đầy những cuồng nộ cảm xúc, nhưng những gì kể lại bên trong thì thật giản dị bình lặng. Sự việc được kể thứ tự, đó đây kèm những nhận xét, xúc cảm, suy tư. Không thiếu lời mỉa mai than trách, nhưng mọi thứ đó được viết xuống như một ghi nhận thẳng thắn không cường điệu lên gân. Rất khác biệt, nhưng có lẽ bình thản là điều tác giả đã tự giới hạn mình để đạt mức trung thực tối đa cho những dòng hồi ký với lời khẳng định trách nhiệm. Vẫn là cung cách một quân nhân, một cấp chỉ huy dù thấp nhưng thực thụ và trọn trách nhiệm.

Điểm đáng chú ý thứ hai là cách người ấy kể lại câu chuyện.

Không viết văn chương không làm dáng chữ nghĩa. Chữ giản dị lời ngắn gọn cách kể chuyện thong thả. Không khó đọc nhưng đọc phải suy nghĩ. Viết thong thả đâm ra đọc cũng phải thong thả, không thích chuyện chiến tranh dễ bỏ qua chi tiết. Mà chi tiết là tất cả mà người ấy muốn ta thấy, không đưa ra tình cờ.

Và đứng chỗ nào để kể. Không phải là tự thuật về mình với mọi diễn biến xoay quanh “tôi”, cũng không phải là tường thuật của người đứng đó tai nghe mắt thấy những quyết định những phản ứng những tình huống đã diễn ra quanh mình nhưng không thực sự tham dự. Bút ký này của người trực tiếp tham dự đứng ra ngoài ghi lại. Chút khác biệt đó tạo nên cái vừa sôi động vừa lạnh lùng, đưa ra một góc cận ảnh của bức tranh lịch sử mà tìm trong đó thấy có “tôi”.

 

 

4.

Tháng Ba của người lính ấy thật ra chỉ 11 ngày. Nửa đầu quyển sách là nhật ký hành quân giản lược của 10 ngày, mở ra với vài ngày tiên khởi của một cái vòng luẩn quẩn, tiến dần đến việc từng ngày, rồi từng giờ từng lúc. Cái vòng luẩn quẩn bắt đầu khi đang tự gia hạn phép lại tìm mọi cách trở ra tuyến đầu cùng đồng đội đang đụng trận. Từ nơi tuyến đầu ấy lại cùng đồng đội vượt sống chết để về lại chốn mình vừa từ chối vì không muốn là một người lính hèn. Mười ngày ấy là một đời binh lửa, ghi lại cái chết thật anh hùng mà cũng thật vô danh của đồng đội, cũng là luật chơi của cuộc chiến - không tao thì mày, chúng ta trả giá cho chỗ đứng của mình bằng máu.

Ngày sau cùng, chiếm nửa sau quyển sách, là ngày người lính trưởng thành và tốt nghiệp trường đại học làm người, người trai thời loạn. Cái vòng luẩn quẩn đứt khúc giữa đường, và sau năm năm tù người ấy mới về lại đến nơi đã khởi hành. Một ngày dài như một kiếp người. Bao kiếp người. Người lính người dân bị bỏ lại trên đường tháo chạy như một đống rác khổng lồ.

Năm tháng đã qua, đúng hay sai và chính xác cỡ nào thì đồng đội còn sống có thể xác minh hay bác bỏ. Oan hay ưng, những người được nhắc đến nhiều người vẫn còn đây. Khi vết thương chiến tranh còn nóng hổi thì việc từng ngày từng giờ từng lúc sẽ làm sôi động tâm can và lòng người ta sẽ cảm xúc theo từng cái hoang mang thê thảm của đoạn đường tháo chạy ấy. Nhưng khi thời gian đã làm mờ phai cảm xúc, những bức cận ảnh đó là những chứng cứ hào hùng, và đau thương, với đầy đủ thân phận con người (không như những câu chuyện anh hùng phi nhân bịa đặt) ghi lại những ngày binh biến cuối của Việt Nam Cộng Hòa.

Có bức hình ghi lại “đống rác” dân và quân trên đường tháo chạy bị dập vùi trên sóng nước. Sóng tung cuốn dập vùi rồi lại tung cuốn dập vùi. Mạng người tơi tả như những cọng rác không hồn trên sóng.

Có bức hình ghi lại cảnh hỗn mang với bản năng của loài thú sống dậy trong từng người trong cuộc tranh sống sau cùng. Đủ mọi cách tranh sống và đủ mọi kiểu chết.

Có bức ghi lại cái hoang mang cùng cực và nỗi tuyệt vọng tràn lan như bệnh dịch với vòng tự sát bằng lựu đạn mau dần và to dần rồi gói vào một tâm điểm lạnh ngắt: Phước râu đòi tự tử vì “tụi nó tự tử nhiều quá,” và Khải máy đồng tình vì “mình chạy như vầy để làm cái gì…”

Bức vẽ lại mình và đồng đội càng thú vị. Những người lính ba gai với đủ mọi tật xấu đủ mọi trò cà chớn ma le được nhắc đến một cách oang oang thẳng thắn không vòng vo giấu diếm. Lạ là kể xấu nhưng thằng bị kể và người nghe không có gì để hổ, chỉ làm đậm rõ tính người và làm cho những mất mát của họ đáng trân trọng; trong khi có nhiều lời khen tặng mà đọc phải thấy ngượng cho người viết và người được khen. Những người lính hèn mọn ấy trong cơn tuyệt vọng tìm lẽ sống không bỏ bạn bỏ ông thầy. Những lúc chạy chết lạc nhau thì ba thằng “cao bồi” luôn đi tìm ông thầy. Bưởi luôn đỡ lưng và Khải máy lấy thân mình che cho 520 nương chạy, các đại bàng đã tung cánh bay xa. Họ, những người hèn mọn ấy, nếu biết truyện Tàu sẽ như Đơn Hùng Tín than rằng “hậu lâm nguy bất kiến chỉ huy.” (Xin quí vị còn ở lại với lính nhận lời tạ lỗi và tri ân của kẻ dân hèn.) Bị bắt tới nơi, trò xúi thầy chối trách nhiệm chỉ huy để còn được ở tù chung mà lo cho ông thầy. Chỗ này chợt nhớ phim “The last emperor” vua Phổ Nghi bị Cộng Sản Trung Hoa thảy vào tù. Trong tù vẫn có đệ tử trung thành đưa bàn chải kem đánh răng phục vụ, lấy cơm, v.v… dĩ nhiên chúng lôi đi chứ đâu để cho yên. Các anh em dù có xấu cũng không có gì để hổ, không hùng gì hơn ai nhưng chắc chắn không hèn.

Với mình và với nhau thì vậy. Với cấp chỉ huy bất xứng và lệnh vô lý đưa anh em vào chỗ chết, Huy râu ứa nước mắt thương anh em chết oan, uất hận mình đứng đó mà không cứu được đồng đội. Huy mập thoát chết không mừng mà khóc rống vì tức tối. Buồn cười. Cười rồi buồn.

Còn với kẻ thù? Được làm vua thua làm giặc. Những người lính hèn mọn ấy nói “bắn thì bắn…” nhất định không làm hàng binh. Không những vậy, thua trận vẫn chưa bỏ cuộc: bị bắt xỏ xâu chưa vào tù thì thầy đã tính kế vượt thoát cùng trò, đâu dễ dàng chịu bó tay. Dù chọn binh nghiệp hay bị cái ách chiến tranh nó quàng vào cổ thì khi ra trận các anh em vẫn đánh đến kẻ thù phải khiếp danh. Trang 108 và 109 là những hình ảnh chiến đấu oai dũng xuất sắc, và là những dòng xuất sắc.

Trang 108, Trâu Điên kẹt sâu trong vùng địch thì lệnh cho Kình Ngư vào giải vây nhẹ như bông gòn: “ông đem con cái vô đó!”

 Quân giặc bạt ngàn như kiến cỏ

 Gươm thần lồng lộn gạt trường thương… (Vô Ngã)

Trâu Điên “vẫn tả xung hữu đột chiến đấu như đang thực tập một bài chiến thuật trong quân trường.”

Khi bắt tay được với Kình Ngư vào giải vây, các anh em chỉ một lời: “đánh giặc đã quá ông thầy.” Bao máu xương mất mát, bao sinh tử cận kề mà chỉ một lời như vừa chơi xong một trận tranh tài football hay basketball, vòng loại. Các anh, đã thật.

Trang 109 là một bức tranh vẽ ra cái hào khí khốc liệt trong thinh lặng lạnh lùng. Các anh Hắc Long cùng đường vẫn chiến đấu dai hơn “đỉa”. Không mũ không giầy không giáp, vẫn “vừa đánh vừa cười nói bô bô.” “Chết sớm dzậy mảy,” anh khác tiến lên, ngã xuống, lại anh khác tiến lên…Người đánh quên mình và người chứng quên thân.

 Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường

Không đao to búa lớn vậy nhưng điều thực đã hơn vậy, hai chữ hào hùng thường đã bị lạm dụng. Cô nhi quả phụ của các anh Hắc Long, xin hãnh diện. Người lính tháng Ba với những dòng chữ đơn sơ ngắn gọn đã làm rực sáng những nét kiêu hùng.

 

 

5.

Tháng Ba, cái “tôi” không phải là trọng tâm dù được nói đến. Nhưng bóng dáng người viết vẫn từ từ rõ nét.

Những bút ký chiến trường xưa in dáng vẻ một người lữ khách cô đơn. Dẫu chiến đấu cùng đồng đội hay đơn độc qua các mặt trận các chiến trường, người ấy vẫn cô đơn. Một ba lô một điếu thuốc - người bạn thiết thân của lính, người ấy nói lên lẽ thật tuyên xưng cái thiện và nêu lên biết bao những nét hào hùng của người lính. Mà vẫn có bóng dáng cô đơn, vẫn có cái vẻ nặng nặng buồn buồn của những cánh chim trên phá Tam Giang, có cái giọng ai oán của người dân Quảng Trị. Ít khi người ta hút chung một điếu thuốc.

Trong tháng Ba thấp thoáng bóng dáng anh hùng Lương Sơn Bạc, sống cùng đồng đội và trong vòng tay đồng đội. Rượu say khà một tiếng quên hết sự đời. Trốn phép thì sáng xỉn chiều say. Hùng hục về tới đơn vị, nhậu. Đi tăng phái, nhậu. Đêm rải tuyến, nhậu. Chạy qua cầu Tràng Tiền ngó lại lần cuối, cũng nhậu. Thoát chết lên bờ, ờ thì nhậu. Ngồi giữa chợ mà nhậu, mà bàng quan thiên hạ sự. Không mấy khi người ta nhậu một mình. Nhậu, và cười. Cười quan bóp cổ cười lính anh hùng cười dê cỏn buồn sừng cười mình xua lính đánh giặc mồm. Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.

Lương Sơn Bạc, nhưng chỉ là thư sinh lớn gan đi đánh giặc. Không biết lớn gan vì uống hay vì uống mà lớn gan, nhưng đánh giặc thì làm được trung úy cũng phải thôi. Sức đâu mà chạy như lính mà bay xa như quan. Moi năm ba cái lỗ tí hon thì được, chứ hố cá nhân thì lính nó phải đào giùm, có chết chỉ cần lấp cát.

Cái lấn cấn khi gặp người của tháng Ba đã rõ. Thật ra anh đã chết rồi tháng Ba năm ấy.

 Ai đi Tây Tiến mùa Xuân ấy

 Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Anh đã để lại hồn mình. Nghe nói chuyện thấy ngờ ngợ. Đọc xong tháng Ba hóa ra có chỗ mình chưa đọc đã biết vì chính là đời anh gói lại đó đây. Gấp sách lại, tưởng như anh đã đóng nắp hầm cho những anh em chọn ở lại, đắp mặt cho những anh em phơi thây, và hứa một chỗ cho mình. Tưởng như anh muốn nói - không chung số nhưng đồng phận, chúng ta đã sống trọn phận mình; tụi bay chờ, tao tới; anh em, chờ tôi với, 520 rồi sẽ đến.

Tháng Ba, thôi quên đi… 

Lưu Na

nhân đọc Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy
2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 125760)
Trong đời hoạt động của Hồ Chí Minh–ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911–mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris–do Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] dàn xếp–là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Hồ giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ QTCS chuyên nghiệp [agitprop = political agitation and propaganda].
04 Tháng Mười Hai 200912:00 SA(Xem: 143901)
* Viết tặng linh hồn Nhà báo Đặng Ngọc Khoa Buổi chiều mưa vụt tắt Tôi vớt điểm những vì sao là lững nơi chân mây.
20 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 136348)
LTG: M ới đây, một số cơ quan ngôn luận trong nước–do Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] làm chủ–đã can đảm nhắc đến vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Dân biểu/sử gia Dương Trung Quốc từng kêu gọi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phải tường trình đầy đủ về vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa. Báo Tuổi Trẻ (Sài Gòn) còn đăng cả ký ức của cựu Thượng sỉ HQ Lữ Công Bảy về trận hải chiến 30 phút, hơn 35 năm trước.
15 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 140165)
Chán đời, y đi buôn màu sắc Gặp ai, y cũng rao mời “Mua màu không? Tôi bán cho!”
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 121413)
Claude Lévi-Strauss, từ trần hôm nay thứ ba 03/11/2009, hưởng thọ 101 tuổi, là cây đại thụ đã thủ một vai trò quan trọng và rộng lớn trong nền văn học Pháp và thế giới hơn nửa thế kỉ vừa qua, từ giữa thế kỉ XX cho đến đầu kỉ XXI này.
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 127793)
Khách phong lưu vẫn ngồi ở quán cà phê bên hồ vắng. Không thấy mẹ nàng đâu. Có lẽ mẹ nàng đi kiếm củi trên dãy núi bên hồ chưa kịp về. Nàng cũng không còn ngồi xoã tóc. Nàng lúi húi bên tách cà phê đang pha dở cho khách. Mùi cà phê ủ trọn cái lạnh giá đầu mùa đông, quyện chặt lại, nén hương rồi dậy lên trong mê muội.
01 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 134539)
Có phải đêm dang đẩm ướt sương Anh lại về trong mơ đầy nổi nhớ Con đường xưa bên dòng sông như lụa Cỏ ven bờ rối rít những nụ hôn
20 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 126870)
Gần đây tôi có dịp đọc một số tài liệu của người trong nước viết về văn học miền Nam 1954-1975. Rải rác đó đây không ít, nhưng gom vào một mối thì có thể kể ra hai nguồn. Thứ nhất là bài phỏng vấn khá thú vị của chị Thụy Khuê, đài RFI bên Pháp, với nhà phê bình Vương Trí Nhàn, hiện sống tại Hànội, xung quanh đề tài văn học miền Nam từ 1954-1975 (*).
17 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 116129)
Vào những giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.
15 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 109638)
Hai người lớn lên cạnh nhà nhau, tại rìa thành phố, nơi tiếp giáp cánh đồng, khu rừng và vườn cây trái, trong tầm nhìn cái tháp chuông xinh xắn của ngôi trường cho người mù.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3782)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13196)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19609)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18590)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1515)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1688)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2191)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2300)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1401)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2144)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1886)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1942)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1270)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2303)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2523)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2312)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 153)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 721)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 943)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1013)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6355)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15836)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32090)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38805)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1375)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13854)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6825)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10614)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9805)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9928)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10729)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3416)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11073)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10299)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi