- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Văn Chương Cần Trình Diễn Hay Trí Thức ?

09 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 112207)

Olivier Le Naire thực hiện

Trần Vũ dịch thuật 

Giới thiệu của người dịch: Kể từ sau Marguerite Duras, tiểu thuyết Pháp đánh mất dần phẩm chất. Sự lạm phát các giải thưởng văn học: Hàn lâm, Liên tỉnh, Hội chợ và Radio càng làm độc giả mất phương hướng. Ngay cả giải thưởng Goncourt toàn quốc cũng rơi vào nhiều bê bối tai tiếng. Tháng 5-2005, nhà văn kỳ cựu Richard Millet, được xem người giữ đền thờ văn chương từ Bossuet đến Claude Simon, đã đánh chuông gọi hồn các đồng nghiệp đang vùi dập ngôn ngữ. Hơn một tiếng chuông, những phát súng nhắm bắn trường phái « tiêu thụ nhanh ». Ngay sau khi Millet trả lời phỏng vấn « Chúng ta đã giết chết Pháp văn » trên báo Le Nouvel Observateur (Người Quan Sát Mới), lập tức những tác giả có sách bán chạy phản ứng. Ngày 23 tháng 5-2005, tuần san L’Express chủ trì bàn tròn tranh luận trực tiếp giữa Millet, người gác cổng văn hoá, và Beigbeder, đại biểu của thể loại tiểu thuyết hình sự, vụ án, sự cố khủng bố, xiển dương giới tính, từng đoạt giải nhất Independent Foreign Fiction Award 2005 trong lúc hai giải nhì đồng hạng trao cho nguyên Nobel 1998 José Saramago và Nobel tương lai 2006 Orhan Pamuk... Tường thuật tranh luận do Olivier Le Naire, ký giả phụ trách trang văn nghệ của L’Express ghi lại, với ngôn từ phủ quyết không dung thứ ở cả hai phía. Những vấn đề đặt ra, hai năm sau, còn nguyên tính thời sự đầy vĩnh cửu của mọi nền văn học trên thế giới.

 

*

Dẫn nhập của Olivier Le Naire:

Phải nghe quá nhiều những cáo trạng kết án văn chương đương đại, chúng ta bão hoà đến mức không quan tâm đến nữa. Trừ phi chính một nhà văn lỗi lạc, khó tánh và thông thường kín đáo, vừa là thành viên của hội đồng giám định của nhà xuất bản Gallimard, đã đích thân thông báo đám tang sắp đến của văn chương Pháp.

Không tuân thủ quy ước ngầm giữa các văn gia, Richard Millet - 52 tuổi và là tác giả của

ba chục đầu sách, trong số có tiểu thuyết Vinh quang của giòng họ Pythre (La Gloire des Pythre), Giữa những bóng mờ (Ma vie parmi les ombres) - đã đi thẳng vào vấn đề không quanh co.

Qua tập phỏng vấn Sách nhiễu văn chương (Harcèlement littéraire), Richard Millet đã tấn công các đồng nghiệp Jean Rouaud, Jean Echenoz, Michel Houellebecq, chê trách họ thiếu phong cách và cú pháp, tấn công cả những tác giả chạy theo trường phái phục vụ đại chúng kiểu Amélie Nothomb, và cả những tập đoàn xuất bản, truyền thông…

Qua lời mời của tuần san L’Express, Frédéric Beigbeder, một nhà văn vừa làm xuất bản, vừa viết phê bình, và cũng vừa in tác phẩm Kẻ ích kỷ lãng mạn (L’Egoïste romantique), đã chấp nhận tranh luận.

Olivier Le Naire: Hơn năm chục năm qua, từ Julien Gracq đến Pierre Jourde, đã không ngừng đả kích văn chương đương đại! Ông bổ sung thêm điều gì trong trận khai hoả này?

Richard Millet: Chúng ta rơi vào kỷ nguyên Hậu văn chương. Hai ngàn năm văn minh từng tạo ra chúng ta ngày nay đang sụp đổ. Đã đến lúc phải chấm dứt giả vờ suy nghĩ là văn chương sẽ luôn hiện diện. Chúng ta đang sống trong một thời đại đáng tìm hiểu, bạo lực đặt biết bao câu hỏi cho từng nhà văn. Ngôn ngữ rơi vào sự lãng quên, giáo dục không còn làm tròn nhiệm vụ của mình. Mọi người chìm đắm trong kỷ nguyên không có sự chuyển tiếp, một kỷ nguyên của hàng mã. Trừ một số ít biệt lệ, những tác phẩm xuất bản hôm nay chỉ là một thứ tiền giả. Mà chưa bao giờ số lượng độc giả lại bị đánh lừa là hàng thật nhiều đến vậy. Lạm phát tác phẩm thể hiện sự lạm phát dân chủ, khiến ngự trị trong suy nghĩ của mỗi người ý niệm ai cũng có thể thành nhà văn và phải viết văn.

Frédéric Beigbeder: Đồng ý, văn chương đang bị đe dọa. Nhưng thay vì tấn công những nhà văn thật như Jean Echenoz hay Michel Houellebecq, những tiểu thuyết gia biết giũ bỏ phong cách, giặt giũ những định kiến, mà một cách vô tình thành công của họ đã đẩy lui ông vào bóng mờ, tốt hơn hết là ông nên tìm cách viết khác để bảo vệ chính loại văn chương của mình. Hãy nhìn Kundera! Trong Tấm màn (Le Rideau), từ một ghi nhận tương tự, ít nhất Kundera đã đề xuất những lối khai phá...

Olivier Le Naire: Khi Richard Millet tấn công loại “văn chương biểu diễn trên sân khấu”, Frédéric Beigbeder có tự cảm thấy bị nhắm bắn?

Frédéric Beigbeder: Tất nhiên! Mà tôi lại thấy tự hào được xếp ngang với những tay nguy hiểm đang phá hủy Pháp văn. Có lẽ, tôi nên làm nặng thêm trường hợp của mình! Nói chuyện nghiêm túc thì những đề tài, dự án, ngữ điệu, thế giới quan của chúng ta khác nhau. Tôi không trách cứ gì ông, Richard Millet, khi ông viết những cuốn sách tẻ nhạt, chán ngắt, vậy ông cũng đừng nên tấn công tôi bởi vì tôi viết truyện hiện thực.

Richard Millet: Vấn đề không phải ở đây! Vấn đề là hiện nay không còn tồn tại thứ bậc của những giá trị văn chương nhưng đang là một cao trào xuống cấp chung, mà mọi người ham muốn, vì lý do mặt trái hay khía cạnh đồi truỵ của khái niệm dân chủ đã khiến mọi thứ trở nên ngang giá. Hoặc mọi thứ đều không đáng giá và ngôn ngữ thật sự lâm nguy. Sắp tới, nên sáng tác bằng tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn! Điều mà các ông làm phiền tôi, là sự lạm dụng từ ngữ tiếng Anh, tiếng lóng thời thượng, những trò chơi chữ của loại báo Libération (Paris Giải Phóng) hay chương trình hoạt náo Inrockuptibles, tóm lại, một thứ văn hoá cấp thấp.

Frédéric Beigbeder: Nhà văn không chỉ có nhiệm vụ làm thẩm mỹ. Với phong cách nhịp ngoại và lược bớt chữ của mình, tôi mô tả thời gian của tôi, hơi theo khuynh hướng của Stendhal, người đã xem tiểu thuyết là một tấm gương mà thế gian đem theo dọc đường.

Richard Millet: Đối diện với sự vô vị chung, tôi thích các nhà văn nuôi dưỡng ngược lại một bút pháp với ngôn từ càng cách xa càng tốt so với đời thường. Phải dấy loạn trong văn phong, bằng cách dàn trải những ẩn ý và những mệnh đề phụ phức tạp mà vẫn hiểu được. Đó là cách thức tôi đương đầu với sự xuống cấp văn hoá. Tôi không chắc rằng các ông có thể quật ngã được con quái vật vô văn hoá này bằng loại văn xã hội học tạm bợ.

Olivier Le Naire: Có phải sách bán chạy đã cho phép Beigbeder đưa văn chương đến một chốn khác, ra khỏi thế giới cũ, nơi mà loại văn này không có chỗ đứng. Millet, ông không thấy vậy?

Richard Millet: Ngày nay, để tồn tại, một nhà văn cần phải có một gương mặt, cần phải phô trương và trình diễn. Tôi không thuộc về bất kỳ một thiểu số giới tính hay sắc tộc nào, tôi không thoát y trên truyền hình. Tôi làm một người Pháp tuyệt vọng trong một nước Pháp đang biến mất, vì thế tôi không là gì nữa. Tôi hiện hữu duy nhất bằng sách của mình.

Frédéric Beigbeder: Ngửi được hậu vị của chua chát! Tuy nhiên, nếu Anna Gavalda hay tôi không hiện diện, sách của ông cũng chẳng bán được nhiều thêm, ông “cháy” rồi!

Richard Millet: Tôi không chua chát và những tác phẩm của tôi có công chúng riêng. Mặt khác, những người mà ông đề cập đến, đối với tôi chưa phải là nhà văn, chỉ là những tác giả…

Frédéric Beigbeder: Không đồng ý. Ví dụ, Gavalda nằm trong dòng chảy với Françoise Sagan…

Richard Millet: …Đúng vậy, có-nghĩa-là số không!

Frédéric Beigbeder: Tiêu chuẩn của ông là bút pháp, nhưng sự duyên dáng quyến rũ, riềng mối cảm động cũng quan trọng. Hay ông xem chúng thuần tuý là những trò nhảm nhí kịch trường?

Richard Millet: Một nhà văn, nhà văn đích thực, cá cược đời sống của hắn trong ý nghĩa hắn sẽ chấm dứt sự hiện diện trên trái đất một khi ngừng viết, hoặc không tồn tại nếu không cầm bút. Sự tìm kiếm của họ gần như là sự vươn cao trí tuệ. Chúng ta ở rất xa thứ câu hỏi về cần thiết lôi cuốn bằng duyên dáng! Françoise Sagan, Anna Gavalda và những hóa thân của Amélie Nothomb là những phó sản dưới cấp văn học. Họ không tài nào so sánh với những nhà văn đích thực. Không có hai hình thái văn chương. Chỉ có Văn Chương – với vài tên tuổi trong một thế kỷ - và phần dư thừa. Tiểu thuyết đã trở thành thứ công cụ dùng để thăng tiến danh vọng trong xã hội, giống như nhạc rap ở các khu vực ngoại thành!

Frédéric Beigbeder: Đó là điều làm cho tôi khó chịu khi đọc tác phẩm của ông. Những ước mơ trong sáng…

Richard Millet: “Trong sáng”? Đây là một từ mà hiện nay còn tai tiếng hơn cả từ “ấu dâm”! Trên đất nước này đang có một sự thù hận Thiên chúa giáo mà những ngôn từ dùng rao giảng Phúc Âm bị xem là tà dâm. Hết sức lý thú. Dù sao, việc chối từ đạo Ki-Tô, bắt tôi, với tư cách một nhà văn, đặt câu hỏi về sự trong sáng.

Frédéric Beigbeder: Nhưng cũng cần phải có một vị trí cho dòng văn chương tinh nghịch, của tự do. Ông hãy dành lấy hết nặng nề, trong sáng, hãy để cho chúng tôi tính trào phúng, chất phù phiếm! Tôi nhận trách nhiệm đòi quyền thụ lý sự tầm phào như một giá trị chủ yếu. Tự trong thâm tâm, ông muốn làm một nhà văn bị nguyền rủa, một thứ văn hào siêu thực đại loại Antonin Artaud Champêtre, vừa muốn mình được quần chúng biết đến như Alexandre Dumas!

Richard Millet: Tôi không đi tìm sự quảng bá bình dân. Tôi yêu sách sự thanh lọc tinh hoa.

Frédéric Beigbeder: Đối với ông, nhà văn là một kẻ cố thủ trong hầm lũy, theo cách của Maurice Blanchot hay Salinger. Nhưng nếu chúng ta không tham vọng đẩy công trình của mình vào công chúng, sẽ có nguy cơ là chính chúng ta dự phần đóng góp làm biến mất văn chương. Còn một cách làm văn chương khác, đó là hòa nhập sự hữu ích vào sự ngoạn mục, bằng cách bảo vệ vị trí của chữ viết trong lòng thế giới hình ảnh. Từ chối, đồng nghĩa đầu hàng bằng thái độ kiêu kỳ và ngạo mạn, chấp nhận tuyệt vọng như một con khủng long cam chịu số phận của con thú lỗi thời một khi trái đất tiến hoá. Tôi, tôi xét mình phải đi đến cùng, ngay cả phải hứng chịu nguy cơ lố bịch.

Richard Millet: Những cuốn sách, những tác phẩm vi hành rất chậm. Chúng ta phải lựa chọn hoặc sự tức thời, với nguy cơ bán mất linh hồn, hoặc phải đánh cuộc với thời gian. Với rất ít những trường hợp ngoại lệ, như Philippe Sollers, người đã thành công dung hòa cả hai; ngày nay, cả thế giới muốn trở thành những tiểu tư sản trưởng giả như trong tác phẩm của Balzac. Bất chợt, văn chương đương thời biến thành văn chương của thế kỷ thứ 19, muốn tự kéo dài, tự trở nên vĩnh cửu, tự đối đáp. Chúng ta không thoát ra khỏi hiện trạng này. Siêu thực Artaud sẽ chán sống để mà xuất bản vào năm 2005!

Olivier Le Naire: Phê bình văn học cũng đang đưa ma, như ông viết…

Richard Millet: Không còn những kim chỉ nam vạch hướng, quy định và kê toa thuốc. Cũng không còn nữa những độc giả trở thành phê bình gạo cội như trường hợp Roland Barthes, cũng đã hết chỗ cho phê bình văn học thật sự trên báo. Chúng tôi, với vài đồng môn, là những nhà văn cuối cùng, và chúng tôi sẽ sống thời khắc chót cùng này một cách hùng vĩ, có thể, ngay cả bằng cách cười nhạo.

Frédéric Beigbeder: Trên tạp chí Voici, tôi đã có thể bàn về Georges Bataille hay về Mikhaïl Boulgakov phía sau bìa báo in hình công chúa ly hôn Stéphanie của vương quốc Monaco. Tôi đã cố gắng thật mô phạm và tôi tự hào làm được chuyện này, bất kỳ tai tiếng nào. Tôi đẩy văn chương đến bất cứ nơi nào khả dĩ. Cá nhân tôi chiến đấu như vậy.

Olivier Le Naire thực hiện

 

Trần Vũ dịch thuật

Trích Olivier Le Naire, Le croisé et le rusé, tuần san L’Express số ra ngày 23 tháng 5-2005

 

Phụ lục:

Richard Millet: Sinh năm 1953, giải thưởng tiểu luận của Hàn lâm viện Pháp năm 1994 với tập Tình cảm ngôn ngữ (Le Sentiment de la langue). Trong ban chung khảo giải Goncourt 2006, và là thành viên ban duyệt xét văn bản của nhà xuất bản Gallimard. Chịu ảnh hưởng Proust, được xem kế thừa dòng văn xuôi từ Bossuet đến Claude Simon. Tác phẩm xây dựng thường xuyên trên những vấn đề thời gian, cái chết, tôn giáo, ngôn ngữ. Với Richard Millet, văn chương là sự thăng hoa trí tuệ, bằng cách điệu ngôn ngữ qua thao tác cú pháp, giúp vượt ra khỏi sự tầm thường. Bị Frédéric Beigbeder xếp hạng văn chương bảo tàng viện, bám trụ, cố thủ vì ế ẩm.

Frédéric Beigbeder: Sinh năm 1965, viết phê bình văn học cho các tạp chí quần chúng Elle, Paris Match, Voici, VSD và Playboy. Từng làm cố vấn văn hoá cho tổng thư ký đảng Cộng Sản Pháp Robert Hue khi ra tranh cử tổng thống năm 2002. Chủ trương văn chương phải biểu dương phái tính, bám sát thực tế, thời sự, và tiếp cận độc giả bằng mọi phương tiện. Dùng văn nói pha trộn tiếng lóng và Anh ngữ. Đoạt nhiều giải thưởng văn chương. Tuy bị Richard Millet phê phán phong cách biểu diễn sân khấu, văn chương thoát y truyền hình, không câu cú, Frédéric Beigbeder là tác giả có sách bán chạy kỷ lục (380.000 bản) và quay thành phim. Tháng 12-2007, tạp chí L'Atelier du Roman (Phân xưởng thử nghiệm tiểu thuyết) xem Beigbeder là bước ngoặc sống động, quốc tế và thời đại của văn chương Pháp. Nhà văn bị tạm giam ngày-29 01-2008 vì dùng ma túy.

 

Amélie Nothomb:
Sinh 1967, là một nhà văn Bỉ sử dụng tiếng Pháp. Kể từ 1992 đã xuất bản 16 tiểu thuyết. Giải thưởng của Hàn lâm viện Pháp năm 1999 cho tiểu thuyết Đê mê và Run rẩy (Stupeur et Tremblements). Sinh ra tại Nhật Bản, rồi sinh sống qua nhiều quốc gia Hoa kỳ, Trung Hoa, Đông Nam Á, Nothomb thường xuyên đưa vào truyện phong vị lạ châu Á. Hiện tượng tại Pháp, làm phát sinh tĩnh từ ‘‘Nothombesque’’, tuy bị giới đồng nghiệp châm biếm ‘‘xẩy thai tác phẩm’’ do bà sáng tác 3 tiểu thuyết một năm tuy chỉ chọn in 1. ‘‘Thế giới của Nothomb’’ đã trở thành một thành ngữ trong tiếng Pháp và đều đặn best-sellers hằng năm. ‘‘Sung sướng là một sự tuyệt vời đã dạy tôi biết tôi chính là mình’’ là cách diễn ý tiêu biểu của Nothomb. 

Anna Gavalda:
Sinh 1970, thuộc thế hệ nhà văn trẻ. Giải thưởng Radio France Inter 1992 với Lá thư tình đẹp nhất (La plus belle lettre d’amour). Giải thưởng Radio RTL-Lire năm 2000 với tiểu thuyết Em mong ai đó chờ em một nơi nào (Je voudrais que quelqu'un m'attende quelque part), tái bản 12 lần, và được dịch sang 27 thứ tiếng. Trở thành Quỳnh Dao của Pháp sau Em yêu chàng (Je l’aimais). Với trên 200.000 sách bán hàng năm, gần đây Gavalda đã mỉa mai: ‘‘Những trang tiểu thuyết diễm tình giá trị hơn những tấm chi phiếu nhiều số’’, sau khi đã kiêu kỳ từ chối lời đề nghị in sách của những nhà xuất bản văn học uy tín từng khước từ cô lúc trước.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 139760)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 159275)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 109022)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 5920)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 14912)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 20820)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19879)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 4285)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 4117)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 6043)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 4796)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 3300)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 4516)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 4214)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 4143)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
06 Tháng Mười Một 20263:37 CH(Xem: 580)
Cảnh chen lấn xô đẩy liên tục khiến tôi có cảm tưởng máy bay chở quá tải. Có vẻ như số hành khách nhiều hơn số ghế. Khi đã tạm yên vị, nhìn chung quanh mới biết mình lầm. Tôi ngồi bên bìa trái của hàng giữa, bìa phải là một bà đầm, giữa tôi và bà là 2 ghế trống. Trước mặt tôi còn một ghế trống, phía xa hơn cũng thấy trống nhiều. Đây là chuyến bay Hong Kong-Toronto của hãng Cathay Pacific nên nhìn đâu cũng thấy tóc đen da vàng và tóc vàng da vàng, tóc vàng da trắng trở thành lẻ loi. Tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Việt trộn lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn rất chói tai, át hẳn tiếng động cơ phản lực. Giả điếc, cài dây an toàn, tìm một thế ngồi thoải mái. Tôi nhắm mắt cố nghĩ đến những chuyện khác đễ khỏi bận tâm.
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 3355)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 4888)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 5049)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
05 Tháng Mười Một 2026(Xem: 856)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
04 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1217)
Nhân cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2026 tại Hoa Kỳ, nhìn vào sức mạnh của lá phiếu người dân, tôi chợt thấm thía hơn câu nói của người xưa: “Ý Dân Là Ý Trời”. Trong một nền dân chủ, một lá phiếu có thể góp phần làm thay đổi tương quan quyền lực. Một cuộc bầu cử có thể khiến những người đang nắm quyền phải nhìn lại vị trí của mình. Và quan trọng hơn, nó nhắc nhở giới lãnh đạo rằng quyền lực không phải tài sản riêng, càng không phải thứ được mặc nhiên sở hữu vĩnh viễn. Người dân có thể trao quyền, nhưng cũng có thể lấy lại quyền ấy bằng lá phiếu. Từ câu chuyện nước Mỹ, tôi chợt nghĩ về Việt Nam.
02 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1431)
Có những phát biểu của các nhà lãnh đạo khiến người ta phải suy nghĩ. Cũng có những phát biểu khiến người ta không biết nên cười hay nên khóc. Hôm 1 tháng 11 năm 2026, tại cuộc vận động tranh cử giữa kỳ ở Dubuque, tiểu bang Iowa, Tổng thống Donald Trump đưa ra một nhận định đáng chú ý: ông có thể đã chiến thắng cuộc chiến Việt Nam chỉ trong vòng một tuần. Một tuần!
31 Tháng Mười 2026(Xem: 1761)
Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986. Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 7972)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 16953)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 34263)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 40021)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 3905)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 14923)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 856)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
(Xem: 1751)
Có những bài thơ không cần cất cao tiếng nói, bởi chính sự lặng lẽ của chúng đã đủ làm lòng người đau nhói. Đầy Tháng Con của Thành Tôn đưa chúng ta trở về một Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh 1954–1975, nơi một đứa trẻ vừa chào đời, người cha đã ở phương xa trong cuộc chiến. Tiếng khóc đầu đời hòa lẫn với tiếng súng, tiếng kêu đau đớn của những người bị thương và tiếng khóc của những người mẹ, người bà tiễn biệt người thân.
(Xem: 8566)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 13456)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 12894)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
28 Tháng Mười 202612:41 SA(Xem: 2271)
PHÂN ƯU Vô cùng thương tiếc khi được tin / Nhà văn TRIỆU VŨ / tên thật VŨ NGỰ TRIỆU Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ. Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi.
27 Tháng Mười 202610:38 CH(Xem: 1947)
Nhận được tin buồn Phu quân của bà Lê Thị Nguyệt Minh Cụ ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ.
27 Tháng Mười 20266:25 CH(Xem: 2496)
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần Our family is deeply saddened to announce to all relatives and friends, near and far, the passing of our beloved: Cụ Ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Chồng, Cha, Anh, Ông Nội, Ông Ngoại của chúng tôi – Husband, Father, Brother, Grandfather. Sinh ngày: 15 tháng 11 năm 1939 tại Phụng Viện Thượng, Bình Giang, Hải Dương, Việt Nam – Born: November 15, 1939 Đã từ trần, ngày 25 tháng 10 năm 2026, tại Houston, TX – Passed away on October 25, 2026 Nhằm ngày 16 tháng 9 năm Bính Ngọ Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi – At the age of 87