- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,615

Văn Chương Cần Trình Diễn Hay Trí Thức ?

09 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 78279)

Olivier Le Naire thực hiện

Trần Vũ dịch thuật 

Giới thiệu của người dịch: Kể từ sau Marguerite Duras, tiểu thuyết Pháp đánh mất dần phẩm chất. Sự lạm phát các giải thưởng văn học: Hàn lâm, Liên tỉnh, Hội chợ và Radio càng làm độc giả mất phương hướng. Ngay cả giải thưởng Goncourt toàn quốc cũng rơi vào nhiều bê bối tai tiếng. Tháng 5-2005, nhà văn kỳ cựu Richard Millet, được xem người giữ đền thờ văn chương từ Bossuet đến Claude Simon, đã đánh chuông gọi hồn các đồng nghiệp đang vùi dập ngôn ngữ. Hơn một tiếng chuông, những phát súng nhắm bắn trường phái « tiêu thụ nhanh ». Ngay sau khi Millet trả lời phỏng vấn « Chúng ta đã giết chết Pháp văn » trên báo Le Nouvel Observateur (Người Quan Sát Mới), lập tức những tác giả có sách bán chạy phản ứng. Ngày 23 tháng 5-2005, tuần san L’Express chủ trì bàn tròn tranh luận trực tiếp giữa Millet, người gác cổng văn hoá, và Beigbeder, đại biểu của thể loại tiểu thuyết hình sự, vụ án, sự cố khủng bố, xiển dương giới tính, từng đoạt giải nhất Independent Foreign Fiction Award 2005 trong lúc hai giải nhì đồng hạng trao cho nguyên Nobel 1998 José Saramago và Nobel tương lai 2006 Orhan Pamuk... Tường thuật tranh luận do Olivier Le Naire, ký giả phụ trách trang văn nghệ của L’Express ghi lại, với ngôn từ phủ quyết không dung thứ ở cả hai phía. Những vấn đề đặt ra, hai năm sau, còn nguyên tính thời sự đầy vĩnh cửu của mọi nền văn học trên thế giới.

 

*

Dẫn nhập của Olivier Le Naire:

Phải nghe quá nhiều những cáo trạng kết án văn chương đương đại, chúng ta bão hoà đến mức không quan tâm đến nữa. Trừ phi chính một nhà văn lỗi lạc, khó tánh và thông thường kín đáo, vừa là thành viên của hội đồng giám định của nhà xuất bản Gallimard, đã đích thân thông báo đám tang sắp đến của văn chương Pháp.

Không tuân thủ quy ước ngầm giữa các văn gia, Richard Millet - 52 tuổi và là tác giả của

ba chục đầu sách, trong số có tiểu thuyết Vinh quang của giòng họ Pythre (La Gloire des Pythre), Giữa những bóng mờ (Ma vie parmi les ombres) - đã đi thẳng vào vấn đề không quanh co.

Qua tập phỏng vấn Sách nhiễu văn chương (Harcèlement littéraire), Richard Millet đã tấn công các đồng nghiệp Jean Rouaud, Jean Echenoz, Michel Houellebecq, chê trách họ thiếu phong cách và cú pháp, tấn công cả những tác giả chạy theo trường phái phục vụ đại chúng kiểu Amélie Nothomb, và cả những tập đoàn xuất bản, truyền thông…

Qua lời mời của tuần san L’Express, Frédéric Beigbeder, một nhà văn vừa làm xuất bản, vừa viết phê bình, và cũng vừa in tác phẩm Kẻ ích kỷ lãng mạn (L’Egoïste romantique), đã chấp nhận tranh luận.

Olivier Le Naire: Hơn năm chục năm qua, từ Julien Gracq đến Pierre Jourde, đã không ngừng đả kích văn chương đương đại! Ông bổ sung thêm điều gì trong trận khai hoả này?

Richard Millet: Chúng ta rơi vào kỷ nguyên Hậu văn chương. Hai ngàn năm văn minh từng tạo ra chúng ta ngày nay đang sụp đổ. Đã đến lúc phải chấm dứt giả vờ suy nghĩ là văn chương sẽ luôn hiện diện. Chúng ta đang sống trong một thời đại đáng tìm hiểu, bạo lực đặt biết bao câu hỏi cho từng nhà văn. Ngôn ngữ rơi vào sự lãng quên, giáo dục không còn làm tròn nhiệm vụ của mình. Mọi người chìm đắm trong kỷ nguyên không có sự chuyển tiếp, một kỷ nguyên của hàng mã. Trừ một số ít biệt lệ, những tác phẩm xuất bản hôm nay chỉ là một thứ tiền giả. Mà chưa bao giờ số lượng độc giả lại bị đánh lừa là hàng thật nhiều đến vậy. Lạm phát tác phẩm thể hiện sự lạm phát dân chủ, khiến ngự trị trong suy nghĩ của mỗi người ý niệm ai cũng có thể thành nhà văn và phải viết văn.

Frédéric Beigbeder: Đồng ý, văn chương đang bị đe dọa. Nhưng thay vì tấn công những nhà văn thật như Jean Echenoz hay Michel Houellebecq, những tiểu thuyết gia biết giũ bỏ phong cách, giặt giũ những định kiến, mà một cách vô tình thành công của họ đã đẩy lui ông vào bóng mờ, tốt hơn hết là ông nên tìm cách viết khác để bảo vệ chính loại văn chương của mình. Hãy nhìn Kundera! Trong Tấm màn (Le Rideau), từ một ghi nhận tương tự, ít nhất Kundera đã đề xuất những lối khai phá...

Olivier Le Naire: Khi Richard Millet tấn công loại “văn chương biểu diễn trên sân khấu”, Frédéric Beigbeder có tự cảm thấy bị nhắm bắn?

Frédéric Beigbeder: Tất nhiên! Mà tôi lại thấy tự hào được xếp ngang với những tay nguy hiểm đang phá hủy Pháp văn. Có lẽ, tôi nên làm nặng thêm trường hợp của mình! Nói chuyện nghiêm túc thì những đề tài, dự án, ngữ điệu, thế giới quan của chúng ta khác nhau. Tôi không trách cứ gì ông, Richard Millet, khi ông viết những cuốn sách tẻ nhạt, chán ngắt, vậy ông cũng đừng nên tấn công tôi bởi vì tôi viết truyện hiện thực.

Richard Millet: Vấn đề không phải ở đây! Vấn đề là hiện nay không còn tồn tại thứ bậc của những giá trị văn chương nhưng đang là một cao trào xuống cấp chung, mà mọi người ham muốn, vì lý do mặt trái hay khía cạnh đồi truỵ của khái niệm dân chủ đã khiến mọi thứ trở nên ngang giá. Hoặc mọi thứ đều không đáng giá và ngôn ngữ thật sự lâm nguy. Sắp tới, nên sáng tác bằng tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn! Điều mà các ông làm phiền tôi, là sự lạm dụng từ ngữ tiếng Anh, tiếng lóng thời thượng, những trò chơi chữ của loại báo Libération (Paris Giải Phóng) hay chương trình hoạt náo Inrockuptibles, tóm lại, một thứ văn hoá cấp thấp.

Frédéric Beigbeder: Nhà văn không chỉ có nhiệm vụ làm thẩm mỹ. Với phong cách nhịp ngoại và lược bớt chữ của mình, tôi mô tả thời gian của tôi, hơi theo khuynh hướng của Stendhal, người đã xem tiểu thuyết là một tấm gương mà thế gian đem theo dọc đường.

Richard Millet: Đối diện với sự vô vị chung, tôi thích các nhà văn nuôi dưỡng ngược lại một bút pháp với ngôn từ càng cách xa càng tốt so với đời thường. Phải dấy loạn trong văn phong, bằng cách dàn trải những ẩn ý và những mệnh đề phụ phức tạp mà vẫn hiểu được. Đó là cách thức tôi đương đầu với sự xuống cấp văn hoá. Tôi không chắc rằng các ông có thể quật ngã được con quái vật vô văn hoá này bằng loại văn xã hội học tạm bợ.

Olivier Le Naire: Có phải sách bán chạy đã cho phép Beigbeder đưa văn chương đến một chốn khác, ra khỏi thế giới cũ, nơi mà loại văn này không có chỗ đứng. Millet, ông không thấy vậy?

Richard Millet: Ngày nay, để tồn tại, một nhà văn cần phải có một gương mặt, cần phải phô trương và trình diễn. Tôi không thuộc về bất kỳ một thiểu số giới tính hay sắc tộc nào, tôi không thoát y trên truyền hình. Tôi làm một người Pháp tuyệt vọng trong một nước Pháp đang biến mất, vì thế tôi không là gì nữa. Tôi hiện hữu duy nhất bằng sách của mình.

Frédéric Beigbeder: Ngửi được hậu vị của chua chát! Tuy nhiên, nếu Anna Gavalda hay tôi không hiện diện, sách của ông cũng chẳng bán được nhiều thêm, ông “cháy” rồi!

Richard Millet: Tôi không chua chát và những tác phẩm của tôi có công chúng riêng. Mặt khác, những người mà ông đề cập đến, đối với tôi chưa phải là nhà văn, chỉ là những tác giả…

Frédéric Beigbeder: Không đồng ý. Ví dụ, Gavalda nằm trong dòng chảy với Françoise Sagan…

Richard Millet: …Đúng vậy, có-nghĩa-là số không!

Frédéric Beigbeder: Tiêu chuẩn của ông là bút pháp, nhưng sự duyên dáng quyến rũ, riềng mối cảm động cũng quan trọng. Hay ông xem chúng thuần tuý là những trò nhảm nhí kịch trường?

Richard Millet: Một nhà văn, nhà văn đích thực, cá cược đời sống của hắn trong ý nghĩa hắn sẽ chấm dứt sự hiện diện trên trái đất một khi ngừng viết, hoặc không tồn tại nếu không cầm bút. Sự tìm kiếm của họ gần như là sự vươn cao trí tuệ. Chúng ta ở rất xa thứ câu hỏi về cần thiết lôi cuốn bằng duyên dáng! Françoise Sagan, Anna Gavalda và những hóa thân của Amélie Nothomb là những phó sản dưới cấp văn học. Họ không tài nào so sánh với những nhà văn đích thực. Không có hai hình thái văn chương. Chỉ có Văn Chương – với vài tên tuổi trong một thế kỷ - và phần dư thừa. Tiểu thuyết đã trở thành thứ công cụ dùng để thăng tiến danh vọng trong xã hội, giống như nhạc rap ở các khu vực ngoại thành!

Frédéric Beigbeder: Đó là điều làm cho tôi khó chịu khi đọc tác phẩm của ông. Những ước mơ trong sáng…

Richard Millet: “Trong sáng”? Đây là một từ mà hiện nay còn tai tiếng hơn cả từ “ấu dâm”! Trên đất nước này đang có một sự thù hận Thiên chúa giáo mà những ngôn từ dùng rao giảng Phúc Âm bị xem là tà dâm. Hết sức lý thú. Dù sao, việc chối từ đạo Ki-Tô, bắt tôi, với tư cách một nhà văn, đặt câu hỏi về sự trong sáng.

Frédéric Beigbeder: Nhưng cũng cần phải có một vị trí cho dòng văn chương tinh nghịch, của tự do. Ông hãy dành lấy hết nặng nề, trong sáng, hãy để cho chúng tôi tính trào phúng, chất phù phiếm! Tôi nhận trách nhiệm đòi quyền thụ lý sự tầm phào như một giá trị chủ yếu. Tự trong thâm tâm, ông muốn làm một nhà văn bị nguyền rủa, một thứ văn hào siêu thực đại loại Antonin Artaud Champêtre, vừa muốn mình được quần chúng biết đến như Alexandre Dumas!

Richard Millet: Tôi không đi tìm sự quảng bá bình dân. Tôi yêu sách sự thanh lọc tinh hoa.

Frédéric Beigbeder: Đối với ông, nhà văn là một kẻ cố thủ trong hầm lũy, theo cách của Maurice Blanchot hay Salinger. Nhưng nếu chúng ta không tham vọng đẩy công trình của mình vào công chúng, sẽ có nguy cơ là chính chúng ta dự phần đóng góp làm biến mất văn chương. Còn một cách làm văn chương khác, đó là hòa nhập sự hữu ích vào sự ngoạn mục, bằng cách bảo vệ vị trí của chữ viết trong lòng thế giới hình ảnh. Từ chối, đồng nghĩa đầu hàng bằng thái độ kiêu kỳ và ngạo mạn, chấp nhận tuyệt vọng như một con khủng long cam chịu số phận của con thú lỗi thời một khi trái đất tiến hoá. Tôi, tôi xét mình phải đi đến cùng, ngay cả phải hứng chịu nguy cơ lố bịch.

Richard Millet: Những cuốn sách, những tác phẩm vi hành rất chậm. Chúng ta phải lựa chọn hoặc sự tức thời, với nguy cơ bán mất linh hồn, hoặc phải đánh cuộc với thời gian. Với rất ít những trường hợp ngoại lệ, như Philippe Sollers, người đã thành công dung hòa cả hai; ngày nay, cả thế giới muốn trở thành những tiểu tư sản trưởng giả như trong tác phẩm của Balzac. Bất chợt, văn chương đương thời biến thành văn chương của thế kỷ thứ 19, muốn tự kéo dài, tự trở nên vĩnh cửu, tự đối đáp. Chúng ta không thoát ra khỏi hiện trạng này. Siêu thực Artaud sẽ chán sống để mà xuất bản vào năm 2005!

Olivier Le Naire: Phê bình văn học cũng đang đưa ma, như ông viết…

Richard Millet: Không còn những kim chỉ nam vạch hướng, quy định và kê toa thuốc. Cũng không còn nữa những độc giả trở thành phê bình gạo cội như trường hợp Roland Barthes, cũng đã hết chỗ cho phê bình văn học thật sự trên báo. Chúng tôi, với vài đồng môn, là những nhà văn cuối cùng, và chúng tôi sẽ sống thời khắc chót cùng này một cách hùng vĩ, có thể, ngay cả bằng cách cười nhạo.

Frédéric Beigbeder: Trên tạp chí Voici, tôi đã có thể bàn về Georges Bataille hay về Mikhaïl Boulgakov phía sau bìa báo in hình công chúa ly hôn Stéphanie của vương quốc Monaco. Tôi đã cố gắng thật mô phạm và tôi tự hào làm được chuyện này, bất kỳ tai tiếng nào. Tôi đẩy văn chương đến bất cứ nơi nào khả dĩ. Cá nhân tôi chiến đấu như vậy.

Olivier Le Naire thực hiện

 

Trần Vũ dịch thuật

Trích Olivier Le Naire, Le croisé et le rusé, tuần san L’Express số ra ngày 23 tháng 5-2005

 

Phụ lục:

Richard Millet: Sinh năm 1953, giải thưởng tiểu luận của Hàn lâm viện Pháp năm 1994 với tập Tình cảm ngôn ngữ (Le Sentiment de la langue). Trong ban chung khảo giải Goncourt 2006, và là thành viên ban duyệt xét văn bản của nhà xuất bản Gallimard. Chịu ảnh hưởng Proust, được xem kế thừa dòng văn xuôi từ Bossuet đến Claude Simon. Tác phẩm xây dựng thường xuyên trên những vấn đề thời gian, cái chết, tôn giáo, ngôn ngữ. Với Richard Millet, văn chương là sự thăng hoa trí tuệ, bằng cách điệu ngôn ngữ qua thao tác cú pháp, giúp vượt ra khỏi sự tầm thường. Bị Frédéric Beigbeder xếp hạng văn chương bảo tàng viện, bám trụ, cố thủ vì ế ẩm.

Frédéric Beigbeder: Sinh năm 1965, viết phê bình văn học cho các tạp chí quần chúng Elle, Paris Match, Voici, VSD và Playboy. Từng làm cố vấn văn hoá cho tổng thư ký đảng Cộng Sản Pháp Robert Hue khi ra tranh cử tổng thống năm 2002. Chủ trương văn chương phải biểu dương phái tính, bám sát thực tế, thời sự, và tiếp cận độc giả bằng mọi phương tiện. Dùng văn nói pha trộn tiếng lóng và Anh ngữ. Đoạt nhiều giải thưởng văn chương. Tuy bị Richard Millet phê phán phong cách biểu diễn sân khấu, văn chương thoát y truyền hình, không câu cú, Frédéric Beigbeder là tác giả có sách bán chạy kỷ lục (380.000 bản) và quay thành phim. Tháng 12-2007, tạp chí L'Atelier du Roman (Phân xưởng thử nghiệm tiểu thuyết) xem Beigbeder là bước ngoặc sống động, quốc tế và thời đại của văn chương Pháp. Nhà văn bị tạm giam ngày-29 01-2008 vì dùng ma túy.

 

Amélie Nothomb:
Sinh 1967, là một nhà văn Bỉ sử dụng tiếng Pháp. Kể từ 1992 đã xuất bản 16 tiểu thuyết. Giải thưởng của Hàn lâm viện Pháp năm 1999 cho tiểu thuyết Đê mê và Run rẩy (Stupeur et Tremblements). Sinh ra tại Nhật Bản, rồi sinh sống qua nhiều quốc gia Hoa kỳ, Trung Hoa, Đông Nam Á, Nothomb thường xuyên đưa vào truyện phong vị lạ châu Á. Hiện tượng tại Pháp, làm phát sinh tĩnh từ ‘‘Nothombesque’’, tuy bị giới đồng nghiệp châm biếm ‘‘xẩy thai tác phẩm’’ do bà sáng tác 3 tiểu thuyết một năm tuy chỉ chọn in 1. ‘‘Thế giới của Nothomb’’ đã trở thành một thành ngữ trong tiếng Pháp và đều đặn best-sellers hằng năm. ‘‘Sung sướng là một sự tuyệt vời đã dạy tôi biết tôi chính là mình’’ là cách diễn ý tiêu biểu của Nothomb. 

Anna Gavalda:
Sinh 1970, thuộc thế hệ nhà văn trẻ. Giải thưởng Radio France Inter 1992 với Lá thư tình đẹp nhất (La plus belle lettre d’amour). Giải thưởng Radio RTL-Lire năm 2000 với tiểu thuyết Em mong ai đó chờ em một nơi nào (Je voudrais que quelqu'un m'attende quelque part), tái bản 12 lần, và được dịch sang 27 thứ tiếng. Trở thành Quỳnh Dao của Pháp sau Em yêu chàng (Je l’aimais). Với trên 200.000 sách bán hàng năm, gần đây Gavalda đã mỉa mai: ‘‘Những trang tiểu thuyết diễm tình giá trị hơn những tấm chi phiếu nhiều số’’, sau khi đã kiêu kỳ từ chối lời đề nghị in sách của những nhà xuất bản văn học uy tín từng khước từ cô lúc trước.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6188)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30693)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81715)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.