- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Văn Chương Cần Trình Diễn Hay Trí Thức ?

09 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 108643)

Olivier Le Naire thực hiện

Trần Vũ dịch thuật 

Giới thiệu của người dịch: Kể từ sau Marguerite Duras, tiểu thuyết Pháp đánh mất dần phẩm chất. Sự lạm phát các giải thưởng văn học: Hàn lâm, Liên tỉnh, Hội chợ và Radio càng làm độc giả mất phương hướng. Ngay cả giải thưởng Goncourt toàn quốc cũng rơi vào nhiều bê bối tai tiếng. Tháng 5-2005, nhà văn kỳ cựu Richard Millet, được xem người giữ đền thờ văn chương từ Bossuet đến Claude Simon, đã đánh chuông gọi hồn các đồng nghiệp đang vùi dập ngôn ngữ. Hơn một tiếng chuông, những phát súng nhắm bắn trường phái « tiêu thụ nhanh ». Ngay sau khi Millet trả lời phỏng vấn « Chúng ta đã giết chết Pháp văn » trên báo Le Nouvel Observateur (Người Quan Sát Mới), lập tức những tác giả có sách bán chạy phản ứng. Ngày 23 tháng 5-2005, tuần san L’Express chủ trì bàn tròn tranh luận trực tiếp giữa Millet, người gác cổng văn hoá, và Beigbeder, đại biểu của thể loại tiểu thuyết hình sự, vụ án, sự cố khủng bố, xiển dương giới tính, từng đoạt giải nhất Independent Foreign Fiction Award 2005 trong lúc hai giải nhì đồng hạng trao cho nguyên Nobel 1998 José Saramago và Nobel tương lai 2006 Orhan Pamuk... Tường thuật tranh luận do Olivier Le Naire, ký giả phụ trách trang văn nghệ của L’Express ghi lại, với ngôn từ phủ quyết không dung thứ ở cả hai phía. Những vấn đề đặt ra, hai năm sau, còn nguyên tính thời sự đầy vĩnh cửu của mọi nền văn học trên thế giới.

 

*

Dẫn nhập của Olivier Le Naire:

Phải nghe quá nhiều những cáo trạng kết án văn chương đương đại, chúng ta bão hoà đến mức không quan tâm đến nữa. Trừ phi chính một nhà văn lỗi lạc, khó tánh và thông thường kín đáo, vừa là thành viên của hội đồng giám định của nhà xuất bản Gallimard, đã đích thân thông báo đám tang sắp đến của văn chương Pháp.

Không tuân thủ quy ước ngầm giữa các văn gia, Richard Millet - 52 tuổi và là tác giả của

ba chục đầu sách, trong số có tiểu thuyết Vinh quang của giòng họ Pythre (La Gloire des Pythre), Giữa những bóng mờ (Ma vie parmi les ombres) - đã đi thẳng vào vấn đề không quanh co.

Qua tập phỏng vấn Sách nhiễu văn chương (Harcèlement littéraire), Richard Millet đã tấn công các đồng nghiệp Jean Rouaud, Jean Echenoz, Michel Houellebecq, chê trách họ thiếu phong cách và cú pháp, tấn công cả những tác giả chạy theo trường phái phục vụ đại chúng kiểu Amélie Nothomb, và cả những tập đoàn xuất bản, truyền thông…

Qua lời mời của tuần san L’Express, Frédéric Beigbeder, một nhà văn vừa làm xuất bản, vừa viết phê bình, và cũng vừa in tác phẩm Kẻ ích kỷ lãng mạn (L’Egoïste romantique), đã chấp nhận tranh luận.

Olivier Le Naire: Hơn năm chục năm qua, từ Julien Gracq đến Pierre Jourde, đã không ngừng đả kích văn chương đương đại! Ông bổ sung thêm điều gì trong trận khai hoả này?

Richard Millet: Chúng ta rơi vào kỷ nguyên Hậu văn chương. Hai ngàn năm văn minh từng tạo ra chúng ta ngày nay đang sụp đổ. Đã đến lúc phải chấm dứt giả vờ suy nghĩ là văn chương sẽ luôn hiện diện. Chúng ta đang sống trong một thời đại đáng tìm hiểu, bạo lực đặt biết bao câu hỏi cho từng nhà văn. Ngôn ngữ rơi vào sự lãng quên, giáo dục không còn làm tròn nhiệm vụ của mình. Mọi người chìm đắm trong kỷ nguyên không có sự chuyển tiếp, một kỷ nguyên của hàng mã. Trừ một số ít biệt lệ, những tác phẩm xuất bản hôm nay chỉ là một thứ tiền giả. Mà chưa bao giờ số lượng độc giả lại bị đánh lừa là hàng thật nhiều đến vậy. Lạm phát tác phẩm thể hiện sự lạm phát dân chủ, khiến ngự trị trong suy nghĩ của mỗi người ý niệm ai cũng có thể thành nhà văn và phải viết văn.

Frédéric Beigbeder: Đồng ý, văn chương đang bị đe dọa. Nhưng thay vì tấn công những nhà văn thật như Jean Echenoz hay Michel Houellebecq, những tiểu thuyết gia biết giũ bỏ phong cách, giặt giũ những định kiến, mà một cách vô tình thành công của họ đã đẩy lui ông vào bóng mờ, tốt hơn hết là ông nên tìm cách viết khác để bảo vệ chính loại văn chương của mình. Hãy nhìn Kundera! Trong Tấm màn (Le Rideau), từ một ghi nhận tương tự, ít nhất Kundera đã đề xuất những lối khai phá...

Olivier Le Naire: Khi Richard Millet tấn công loại “văn chương biểu diễn trên sân khấu”, Frédéric Beigbeder có tự cảm thấy bị nhắm bắn?

Frédéric Beigbeder: Tất nhiên! Mà tôi lại thấy tự hào được xếp ngang với những tay nguy hiểm đang phá hủy Pháp văn. Có lẽ, tôi nên làm nặng thêm trường hợp của mình! Nói chuyện nghiêm túc thì những đề tài, dự án, ngữ điệu, thế giới quan của chúng ta khác nhau. Tôi không trách cứ gì ông, Richard Millet, khi ông viết những cuốn sách tẻ nhạt, chán ngắt, vậy ông cũng đừng nên tấn công tôi bởi vì tôi viết truyện hiện thực.

Richard Millet: Vấn đề không phải ở đây! Vấn đề là hiện nay không còn tồn tại thứ bậc của những giá trị văn chương nhưng đang là một cao trào xuống cấp chung, mà mọi người ham muốn, vì lý do mặt trái hay khía cạnh đồi truỵ của khái niệm dân chủ đã khiến mọi thứ trở nên ngang giá. Hoặc mọi thứ đều không đáng giá và ngôn ngữ thật sự lâm nguy. Sắp tới, nên sáng tác bằng tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn! Điều mà các ông làm phiền tôi, là sự lạm dụng từ ngữ tiếng Anh, tiếng lóng thời thượng, những trò chơi chữ của loại báo Libération (Paris Giải Phóng) hay chương trình hoạt náo Inrockuptibles, tóm lại, một thứ văn hoá cấp thấp.

Frédéric Beigbeder: Nhà văn không chỉ có nhiệm vụ làm thẩm mỹ. Với phong cách nhịp ngoại và lược bớt chữ của mình, tôi mô tả thời gian của tôi, hơi theo khuynh hướng của Stendhal, người đã xem tiểu thuyết là một tấm gương mà thế gian đem theo dọc đường.

Richard Millet: Đối diện với sự vô vị chung, tôi thích các nhà văn nuôi dưỡng ngược lại một bút pháp với ngôn từ càng cách xa càng tốt so với đời thường. Phải dấy loạn trong văn phong, bằng cách dàn trải những ẩn ý và những mệnh đề phụ phức tạp mà vẫn hiểu được. Đó là cách thức tôi đương đầu với sự xuống cấp văn hoá. Tôi không chắc rằng các ông có thể quật ngã được con quái vật vô văn hoá này bằng loại văn xã hội học tạm bợ.

Olivier Le Naire: Có phải sách bán chạy đã cho phép Beigbeder đưa văn chương đến một chốn khác, ra khỏi thế giới cũ, nơi mà loại văn này không có chỗ đứng. Millet, ông không thấy vậy?

Richard Millet: Ngày nay, để tồn tại, một nhà văn cần phải có một gương mặt, cần phải phô trương và trình diễn. Tôi không thuộc về bất kỳ một thiểu số giới tính hay sắc tộc nào, tôi không thoát y trên truyền hình. Tôi làm một người Pháp tuyệt vọng trong một nước Pháp đang biến mất, vì thế tôi không là gì nữa. Tôi hiện hữu duy nhất bằng sách của mình.

Frédéric Beigbeder: Ngửi được hậu vị của chua chát! Tuy nhiên, nếu Anna Gavalda hay tôi không hiện diện, sách của ông cũng chẳng bán được nhiều thêm, ông “cháy” rồi!

Richard Millet: Tôi không chua chát và những tác phẩm của tôi có công chúng riêng. Mặt khác, những người mà ông đề cập đến, đối với tôi chưa phải là nhà văn, chỉ là những tác giả…

Frédéric Beigbeder: Không đồng ý. Ví dụ, Gavalda nằm trong dòng chảy với Françoise Sagan…

Richard Millet: …Đúng vậy, có-nghĩa-là số không!

Frédéric Beigbeder: Tiêu chuẩn của ông là bút pháp, nhưng sự duyên dáng quyến rũ, riềng mối cảm động cũng quan trọng. Hay ông xem chúng thuần tuý là những trò nhảm nhí kịch trường?

Richard Millet: Một nhà văn, nhà văn đích thực, cá cược đời sống của hắn trong ý nghĩa hắn sẽ chấm dứt sự hiện diện trên trái đất một khi ngừng viết, hoặc không tồn tại nếu không cầm bút. Sự tìm kiếm của họ gần như là sự vươn cao trí tuệ. Chúng ta ở rất xa thứ câu hỏi về cần thiết lôi cuốn bằng duyên dáng! Françoise Sagan, Anna Gavalda và những hóa thân của Amélie Nothomb là những phó sản dưới cấp văn học. Họ không tài nào so sánh với những nhà văn đích thực. Không có hai hình thái văn chương. Chỉ có Văn Chương – với vài tên tuổi trong một thế kỷ - và phần dư thừa. Tiểu thuyết đã trở thành thứ công cụ dùng để thăng tiến danh vọng trong xã hội, giống như nhạc rap ở các khu vực ngoại thành!

Frédéric Beigbeder: Đó là điều làm cho tôi khó chịu khi đọc tác phẩm của ông. Những ước mơ trong sáng…

Richard Millet: “Trong sáng”? Đây là một từ mà hiện nay còn tai tiếng hơn cả từ “ấu dâm”! Trên đất nước này đang có một sự thù hận Thiên chúa giáo mà những ngôn từ dùng rao giảng Phúc Âm bị xem là tà dâm. Hết sức lý thú. Dù sao, việc chối từ đạo Ki-Tô, bắt tôi, với tư cách một nhà văn, đặt câu hỏi về sự trong sáng.

Frédéric Beigbeder: Nhưng cũng cần phải có một vị trí cho dòng văn chương tinh nghịch, của tự do. Ông hãy dành lấy hết nặng nề, trong sáng, hãy để cho chúng tôi tính trào phúng, chất phù phiếm! Tôi nhận trách nhiệm đòi quyền thụ lý sự tầm phào như một giá trị chủ yếu. Tự trong thâm tâm, ông muốn làm một nhà văn bị nguyền rủa, một thứ văn hào siêu thực đại loại Antonin Artaud Champêtre, vừa muốn mình được quần chúng biết đến như Alexandre Dumas!

Richard Millet: Tôi không đi tìm sự quảng bá bình dân. Tôi yêu sách sự thanh lọc tinh hoa.

Frédéric Beigbeder: Đối với ông, nhà văn là một kẻ cố thủ trong hầm lũy, theo cách của Maurice Blanchot hay Salinger. Nhưng nếu chúng ta không tham vọng đẩy công trình của mình vào công chúng, sẽ có nguy cơ là chính chúng ta dự phần đóng góp làm biến mất văn chương. Còn một cách làm văn chương khác, đó là hòa nhập sự hữu ích vào sự ngoạn mục, bằng cách bảo vệ vị trí của chữ viết trong lòng thế giới hình ảnh. Từ chối, đồng nghĩa đầu hàng bằng thái độ kiêu kỳ và ngạo mạn, chấp nhận tuyệt vọng như một con khủng long cam chịu số phận của con thú lỗi thời một khi trái đất tiến hoá. Tôi, tôi xét mình phải đi đến cùng, ngay cả phải hứng chịu nguy cơ lố bịch.

Richard Millet: Những cuốn sách, những tác phẩm vi hành rất chậm. Chúng ta phải lựa chọn hoặc sự tức thời, với nguy cơ bán mất linh hồn, hoặc phải đánh cuộc với thời gian. Với rất ít những trường hợp ngoại lệ, như Philippe Sollers, người đã thành công dung hòa cả hai; ngày nay, cả thế giới muốn trở thành những tiểu tư sản trưởng giả như trong tác phẩm của Balzac. Bất chợt, văn chương đương thời biến thành văn chương của thế kỷ thứ 19, muốn tự kéo dài, tự trở nên vĩnh cửu, tự đối đáp. Chúng ta không thoát ra khỏi hiện trạng này. Siêu thực Artaud sẽ chán sống để mà xuất bản vào năm 2005!

Olivier Le Naire: Phê bình văn học cũng đang đưa ma, như ông viết…

Richard Millet: Không còn những kim chỉ nam vạch hướng, quy định và kê toa thuốc. Cũng không còn nữa những độc giả trở thành phê bình gạo cội như trường hợp Roland Barthes, cũng đã hết chỗ cho phê bình văn học thật sự trên báo. Chúng tôi, với vài đồng môn, là những nhà văn cuối cùng, và chúng tôi sẽ sống thời khắc chót cùng này một cách hùng vĩ, có thể, ngay cả bằng cách cười nhạo.

Frédéric Beigbeder: Trên tạp chí Voici, tôi đã có thể bàn về Georges Bataille hay về Mikhaïl Boulgakov phía sau bìa báo in hình công chúa ly hôn Stéphanie của vương quốc Monaco. Tôi đã cố gắng thật mô phạm và tôi tự hào làm được chuyện này, bất kỳ tai tiếng nào. Tôi đẩy văn chương đến bất cứ nơi nào khả dĩ. Cá nhân tôi chiến đấu như vậy.

Olivier Le Naire thực hiện

 

Trần Vũ dịch thuật

Trích Olivier Le Naire, Le croisé et le rusé, tuần san L’Express số ra ngày 23 tháng 5-2005

 

Phụ lục:

Richard Millet: Sinh năm 1953, giải thưởng tiểu luận của Hàn lâm viện Pháp năm 1994 với tập Tình cảm ngôn ngữ (Le Sentiment de la langue). Trong ban chung khảo giải Goncourt 2006, và là thành viên ban duyệt xét văn bản của nhà xuất bản Gallimard. Chịu ảnh hưởng Proust, được xem kế thừa dòng văn xuôi từ Bossuet đến Claude Simon. Tác phẩm xây dựng thường xuyên trên những vấn đề thời gian, cái chết, tôn giáo, ngôn ngữ. Với Richard Millet, văn chương là sự thăng hoa trí tuệ, bằng cách điệu ngôn ngữ qua thao tác cú pháp, giúp vượt ra khỏi sự tầm thường. Bị Frédéric Beigbeder xếp hạng văn chương bảo tàng viện, bám trụ, cố thủ vì ế ẩm.

Frédéric Beigbeder: Sinh năm 1965, viết phê bình văn học cho các tạp chí quần chúng Elle, Paris Match, Voici, VSD và Playboy. Từng làm cố vấn văn hoá cho tổng thư ký đảng Cộng Sản Pháp Robert Hue khi ra tranh cử tổng thống năm 2002. Chủ trương văn chương phải biểu dương phái tính, bám sát thực tế, thời sự, và tiếp cận độc giả bằng mọi phương tiện. Dùng văn nói pha trộn tiếng lóng và Anh ngữ. Đoạt nhiều giải thưởng văn chương. Tuy bị Richard Millet phê phán phong cách biểu diễn sân khấu, văn chương thoát y truyền hình, không câu cú, Frédéric Beigbeder là tác giả có sách bán chạy kỷ lục (380.000 bản) và quay thành phim. Tháng 12-2007, tạp chí L'Atelier du Roman (Phân xưởng thử nghiệm tiểu thuyết) xem Beigbeder là bước ngoặc sống động, quốc tế và thời đại của văn chương Pháp. Nhà văn bị tạm giam ngày-29 01-2008 vì dùng ma túy.

 

Amélie Nothomb:
Sinh 1967, là một nhà văn Bỉ sử dụng tiếng Pháp. Kể từ 1992 đã xuất bản 16 tiểu thuyết. Giải thưởng của Hàn lâm viện Pháp năm 1999 cho tiểu thuyết Đê mê và Run rẩy (Stupeur et Tremblements). Sinh ra tại Nhật Bản, rồi sinh sống qua nhiều quốc gia Hoa kỳ, Trung Hoa, Đông Nam Á, Nothomb thường xuyên đưa vào truyện phong vị lạ châu Á. Hiện tượng tại Pháp, làm phát sinh tĩnh từ ‘‘Nothombesque’’, tuy bị giới đồng nghiệp châm biếm ‘‘xẩy thai tác phẩm’’ do bà sáng tác 3 tiểu thuyết một năm tuy chỉ chọn in 1. ‘‘Thế giới của Nothomb’’ đã trở thành một thành ngữ trong tiếng Pháp và đều đặn best-sellers hằng năm. ‘‘Sung sướng là một sự tuyệt vời đã dạy tôi biết tôi chính là mình’’ là cách diễn ý tiêu biểu của Nothomb. 

Anna Gavalda:
Sinh 1970, thuộc thế hệ nhà văn trẻ. Giải thưởng Radio France Inter 1992 với Lá thư tình đẹp nhất (La plus belle lettre d’amour). Giải thưởng Radio RTL-Lire năm 2000 với tiểu thuyết Em mong ai đó chờ em một nơi nào (Je voudrais que quelqu'un m'attende quelque part), tái bản 12 lần, và được dịch sang 27 thứ tiếng. Trở thành Quỳnh Dao của Pháp sau Em yêu chàng (Je l’aimais). Với trên 200.000 sách bán hàng năm, gần đây Gavalda đã mỉa mai: ‘‘Những trang tiểu thuyết diễm tình giá trị hơn những tấm chi phiếu nhiều số’’, sau khi đã kiêu kỳ từ chối lời đề nghị in sách của những nhà xuất bản văn học uy tín từng khước từ cô lúc trước.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1086)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1261)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1459)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1921)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2000)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1798)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10491)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17318)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16386)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2000)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1971)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2756)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1260)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1551)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1086)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1459)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1921)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1797)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3274)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3266)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3819)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2366)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14010)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30122)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36254)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13136)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3041)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4361)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4307)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4799)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5377)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8463)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.