- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Trần Huy Minh, Trải Nghiệm Những Hiện Thực Khác

08 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 114536)

Claire Simon thực hiện phỏng vấn

Trần Vũ dịch thuật 

Trần Huy Minh, trải nghiệm những hiện thực khác 

Chưa bao giờ truyện cổ tích trống vắng chủ đích, hay không lột trần sự bất nhẫn. Qua nhân vật Nam, một thanh niên Việt tỵ nạn tại Pháp, cô gái kể chuyện tìm thấy hoàng tử của lòng mình. Họ kết bạn, gặp lại, tâm sự, tự tạo ra một lãnh địa bí mật. Nhưng điều gì đó trốn tránh những động tác tình yêu: Thanh niên điển trai xem thiếu nữ như em gái.

Một thời gian sau, thiếu nữ theo cha mẹ về Việt Nam, lần trở về đầu tiên.

 
Hiện ra trước đôi mắt cô gái, sinh tại Pháp, được nuôi nấng, bảo dưỡng, tấm màn bấy lâu che kín đột ngột bị xé rách. Những bí mật lộ ra, những gặp gỡ phơi bày những thảm kịch mà người thân phải hứng chịu. Mà có thể Nam đã bỏ lại sau lưng…

 
Công chúa và ngư phủ vẽ nên một Việt Nam đầy hiện thực, cấm san sẻ, một xứ sở vô hình mà Trần Huy Minh thụ tinh sự trinh trắng giả tạo, đầy gìn giữ, một xã hội che giấu nỗi buồn sâu thẳm. Tác giả thêm vào danh sách buồn bã, sự hiện diện của người bạn trai khó khăn tìm lại, chỉ vì Lịch sử đã giẫm lên đất nước này. Hay giản dị là thời gian. Bạo liệt hơn những câu chuyện cổ kể lại…

Giới thiệu của Nxb Actes Sud

 

 

Trao đổi với một tài năng văn chương

 
Chỉ vừa mới 27 tuổi, Trần Huy Minh giữ chức phó tổng biên tập nguyệt san Magazine Littéraire (Giai phẩm Văn). Sớm đắm say văn chương, cô viết những trang văn xuôi đầu tiên dưới mái trường trung học, trước khi lao vào nghiệp ký giả. Thiếu nữ mà hầu hết xem là niềm hy vọng trẻ đã quay trở về với tình yêu ban đầu: Cho xuất bản Công chúa và ngư phủ, một tiểu thuyết mang chính hình ảnh của tác giả: nhạy cảm, gây ngạc nhiên và thông minh…


Vóc dáng mảnh mai, váy đầm nhẹ nhàng với nụ cười trên môi, Trần Huy Minh tiếp chúng tôi trong phòng khách, ở một góc nhà có tủ sách bề thế. Cô giãi bầy với đầy hào hứng, phân tích tinh diệu, vừa phơi trải lòng mình kín đáo trong một câu chuyện mà cô luân phiên sắm vai ký giả rồi nhà văn.

Claire Simon: Tập tiểu thuyết đầu tay này khá riêng tư và rất thành công, từ đâu xảy đến ý tưởng ‘‘nàng công chúa và chàng ngư phủ’’, và từ khi nào?


Trần Huy Minh: Nếu thao tác cú pháp đã chiếm của tôi một năm, mầm phôi tiểu thuyết đâm chồi vào những năm tôi hai mươi tuổi. Ý tưởng đến từ một mối tình đã diễn ra năm tôi tròn 15, qua một kỳ du ngoạn học ngoại ngữ, với một thanh niên từng là thuyền nhân. Tôi yêu anh, và rồi đánh mất anh; nhưng trong hoàn cảnh ít bi kịch hơn những gì tôi mô tả trong tiểu thuyết.

 
Tôi bắt đầu viết về câu chuyện đã cứa lòng mình, khi ấy cấu trúc đã có sẵn, nhưng chưa nhiều tầng đọc tác phẩm, với khung gia đình làm nền chưa thật trầm trọng. Tuy vậy hầu hết phần số của những người trong gia đình đều có thật. Ông nội tôi và cụ cố đã thật sự bị thủ tiêu; chi tiết này quan trọng đối với tôi vì cần tái tạo chúng dưới góc độ thật. Ngược lại, những hoạt cảnh làm nên tình tiết giữa đôi tình nhân trẻ, là sản phẩm của trí tưởng, ngoại trừ chi tiết bấp bênh nhất: Cuộc gặp gỡ giữa tôi và Haruki Murakami.


Claire Simon: Có thể xem đây là tự truyện?


Trần Huy Minh: Với tôi, đây là cách nhìn lại tuổi dậy thì của mình. Michel Schneider tuyên bố phân tâm học không đủ sức chạm đến sự thật, nhưng cho một phiên bản khác hứng chịu được hiện thực, khả dĩ có thể chấp nhận.

 
Viết tự truyện, tôi nghĩ cũng là cách riêng tái tạo phiên bản về mối tình giữa mình và người thanh niên thuyền nhân, mà đối với tôi thời ấy, anh mang trong mình những nghi hoặc sâu thẳm nhất: Mối tương quan giữa con người với nguồn gốc, gia đình, và ký ức. Tình yêu không trọn của đôi tình nhân còn ném trả cả hai về quê hương Việt Nam mà một đã đánh mất, còn một không thể tìm thấy, vì cô gái chưa bao giờ đặt chân đến.


Nhìn một cách rộng hơn, tôi viết tiểu thuyết để tri ân Murakami, tri ân đặc biệt điều mà dân tộc Nhật gọi là ‘‘mono no aware’’, ‘‘nỗi đau thắt buồn bã của sự việc’’, nỗi đau biểu tỏ thứ tình cảm phủ kín lấy chúng ta khi cánh rừng thu trút lá, hay cái chết của một người thân sau một quãng đường dài… Tôi muốn Công chúa và ngư phủ khiến người đọc cảm thấy hoài niệm những gì từng hiện hữu mà đã mất.

Claire Simon: Cô gái kể chuyện gần như giao tiếp không mệt mỏi với văn chương và cảm phục sâu sắc các nhà văn, có phải cũng là trường hợp của chính tác giả? Khâm phục nhiều như vậy có cản trở khi phóng bút?


Trần Huy Minh: Khi bắt đầu đọc sách tôi chẳng hề nghĩ sẽ viết văn. Tôi chỉ muốn sống những hiện thực khác với thực tế mà tôi đang chứng kiến, mà tôi không thấy thỏa mãn. Rồi khi trở thành nỗi đam mê thực thụ, tôi đọc đến bịnh hoạn: ban đêm đến những giờ khuya khoắt nhất, trong lúc ăn, trong lúc đi đứng… Sau đó xảy đến ý nghĩ hãy làm một nhà văn, nhưng giữa ước mơ và toại nguyện, tưởng tượng mình đang làm tác giả tỷ giảo với những hệ lụy, còn hơn một chặng đường dài phải vượt qua…

Còn tùy thuộc vào tâm tính mình nữa, tôi có những người bạn tuy đọc nhiều vô cùng, nhưng lại tin họ không có điều gì đặc biệt để trình bày. Tôi, tôi ước ao từ rất lâu muốn biết mình có đủ khả năng xây dựng thành một tác phẩm, hoàn chỉnh những sự việc mà ngoài cuộc đời chỉ là những bản nháp vô giá trị. Tôi nghĩ chính sự khâm phục các nhà văn, sau cùng đã biến thành động cơ nhiều hơn một thắng hãm. Khi giúp tôi khám phá ý niệm của họ về thế giới, các nhà văn đã giúp tôi xây cất lấy thế giới của riêng mình.

 
Claire Simon: Cô còn chịu ảnh hưởng văn học nào khác, ngoài Haruki Murakami?

 
Trần Huy Minh: Murakami giữ vị trí quan trọng trong cuốn tiểu thuyết này, vì đối với tôi, nhà văn này gắn liền với tuổi trẻ, gắn liền với nhiệt huyết không thể cưỡng lại nhấc bổng mình lên khi mình còn niên thiếu, khi mình nghĩ thế giới đang mở ra cho mình, tất cả đều khả thể.

 
Chuyến vi hành không khả dĩ và Phía nam biên giới phía tây mặt trời của Murakami, đối với tôi là hai tiểu thuyết hải đăng tỏa sáng cho tuổi trẻ. Năm tôi 20, tôi chuộng Fitzgerald ở khía cạnh lãng mạn, nhưng tất cả mọi người đều ưa Fitzgerald ở tuổi hai mươi! Về sau, tôi không nghĩ mình chịu ảnh hưởng một tác giả nào, tuy tôi đọc khá nhiều nhưng không tìm thấy đam mê tận cùng nào với một nhà văn. Từng đoạn văn hay những hình ảnh chiếm giật chỗ này, chỗ kia, đeo đuổi ám ảnh tôi đúng hơn. Như với Công chúa và ngư phủ chẳng hạn, tôi chứa trong đầu mình một cuốn sách mỏng, tưởng chừng không liên quan gì đến tiểu thuyết đang viết, cuốn Sự im lặng biển cả của Vercors. Chỉ vì Vercors sử dụng ẩn dụ này: ‘‘Biển thật yên tĩnh trên bề mặt, thật phẳng mượt, vậy mà đang diễn ra dưới lòng sâu cảnh ăn tươi nuốt sống giữa bầy thủy quái…’’ Khi viết, tôi mang ý niệm này, mà tôi muốn dùng một văn phong thật kềm hãm, tránh mọi xúc cảm, để càng làm bật ra thêm thảm kịch với những giằng xé ở vài nhân vật.

 
Claire Simon: Tập tiểu thuyết hình thành dần dần theo ngòi bút hay đã hoàn tất sẵn trong đầu tác giả?

Trần Huy Minh: Ngay cả khi chúng ta có một ý định khá rõ rệt về cấu trúc muốn áp dụng, có thể nêu bất kỳ lý lẽ nào, sẽ chẳng bao giờ diễn tiến như dự tính! Đã lên khung sườn khá nhiều chương, tôi nhận ra mình không bao giờ theo được dàn bài đã thiết lập trước. Tuy nhiên những gì tôi chủ đích, cuối cùng tôi đều có thể lồng vào được ở đoạn này, hay đoạn khác. Lúc hoàn tất, hầu như các tình tiết dự phóng biến mất nhiều hơn là chúng đã xuất hiện. Tôi dự trù rất nhiều hoạt cảnh khá ăn khớp trong đầu mình, nhưng khi viết ra lại gượng ép. Mà đáng lẽ chỉ nên ngầm gợi ý với độc giả là những cảnh ấy đã xảy ra. Do vậy, công việc lao động bản thảo còn là nghệ thuật sử dụng kiếm sắt quan trọng mà tác giả phải biết chặt đi những khúc thịt thừa của đứa con mình.

 
Do cuốn sách không sinh ra một sớm chiều, nên tôi dùng lại các phiên bản cũ, cho phép nhiều giải pháp. Khởi hành trở lại trên cái nền của những văn bản cũ xưa, tạo ra sự hòa trộn giữa bản thể tôi ngày hôm qua với bản thể tôi bây giờ, khiến đôi khi khập khiễng, đôi khi thú vị.

 
Claire Simon: Cô đang làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn, chiếc cầu nối giữa ngành ký giả và ngành văn chương xây ra sao?


Trần Huy Minh: Điều mà trong nghề nhận ra trước tiên, là phải đào thải khá nhiều thói quen trong phong cách viết. Các ký giả thường xuyên lạm dụng một số công thức chuyển đoạn hầu viết nhanh. Hiển nhiên trong một cuốn sách, sự hợp lý nhất thời và sự hợp lý vĩnh cữu rất khác nhau. Cần rèn luyện nhiều mới có thể qua lại giữa hai bộ môn này, vừa gần, vừa rất xa. Đôi khi chúng tôi thấy như mình bị tâm thần… Khi chuyển thủ pháp ký giả sang thủ pháp văn chương, giống như chúng tôi đang làm một công việc trang hoàng bằng ngòi bút đột nhiên ngưng chữa lỗi mà phải chữa những thói tật.

Do đã viết nhiều bản thảo trước đây, tôi không gặp nhiều vấn đề. Khó khăn nằm trong chính quan hệ giữa nhà văn với văn giới. Văn bản không được đọc cùng một cách, cho dù là những nhà văn yêu quý bạn, hay những nhà văn không ưa bạn chút nào.

 
Claire Simon: Vừa là nhà văn, vừa là ký giả, có thuận lợi hơn trong lĩnh vực truyền thông khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay?


Trần Huy Minh: Cho đến bây giờ, vị trí ký giả đã không giúp ích tôi nhiều. Ví dụ nhiều nhật trình năm nay, theo quy chế nghề nghiệp, quyết định không điểm tiểu thuyết do ký giả viết, nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc tuyển chọn, ngay cả khi rủi ro sẽ thành thiên vị thái quá trong chiều hướng ngược lại là có thật. Tất nhiên không có gì bi thảm. Trớ trêu là những người nhiệt tình hỗ trợ tôi lại là những người tôi không quen biết, hoặc quen biết mà ở ngoài giới phê bình-xuất bản-hội đoàn hay các hiệu sách.


Claire Simon: Dự tính tương lai của nhà văn?

 
Trần Huy Minh: Tôi vừa hoàn tất chương đầu của tiểu thuyết thứ nhì. Chủ đề hoàn toàn khác. Một câu chuyện phỉnh lừa tình yêu và nghệ thuật. Hiễn nhiên giảm tính chất tự truyện, tuy vẫn dựa trên các sự việc có thật: Một trò đánh tráo trong giới nhạc sư cổ điển từng làm trò cười cho dư luận. Nhà xuất bản Actes Sud cũng đã đề nghị tôi in tiếp theo một tập truyện cổ tích Việt Nam. Và tôi đã nhận lời.

Claire Simon thực hiện

Trần Vũ dịch thuật

 

Nguồn: Trang "Thời sự Văn học" của tuần san Evénement (Sư kiện) tháng 8-2007

http://www.evene.fr/livres/actualite/minh-tran-huy-princesse-pecheur-rentree-litteraire-907.php

 

đăng lần đầu trên talawas tháng 9-2008.


Cước chú của người dịch:

 Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1979 tại Clamart, ngoại ô Paris, song thân Việt Nam, Trần Huy Minh trở về quê hương lần đầu rồi cho xuất bản tiểu thuyết La princesse et le pecheur, nêu bật bi kịch của người Việt trong một xã hội tàn nhẫn mà lịch sử giẫm đạp không thương tiếc, trên nền truyện cổ tích dân gian. Công chúa và ngư phủ là một trong 3 tiểu thuyết bán chạy nhất trong năm 2007. Giải thưởng Prix Riviera, giải thưởng Tân truyện Prix Gironde-Nouvelles écritures, giải thưởng Prix Emmanuel Roblès, giải thưởng Ngũ châu lục Prix des Cinq Continents, giải thưởng Khám phá Tài năng Bourse de la Découverte de la Fondation Pierre de Monaco, vào chung khảo Giải Văn chương Toàn quốc cho tiểu thuyết đầu tay Prix Goncourt 2007… Trần Huy Minh hiện làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn (Magazine Littéraire), chủ biên chuyên đề Văn học Trung Hoa từ Khổng Tử đến Cao Hành Kiện, trong ban giám khảo tuyển chọn dự án phim truyện cho đài truyền hình d'ARTE France Cinéma, giữ mục chroniqueur cho nhiều tuần san, phụ trách chương trình tivi Lời của đêm (Mots de nuit). Tác phẩm thứ nhì: Le Lac né en une nuit et autres légendes du Vietnam (Mặt hồ sinh trong đêm và những truyện kỳ khắc của Việt Nam).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 139760)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 159275)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 109018)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 5915)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 14909)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 20814)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19875)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 4282)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 4096)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 6041)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 4792)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 3295)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 4511)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 4210)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 4139)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
06 Tháng Mười Một 20263:37 CH(Xem: 181)
Cảnh chen lấn xô đẩy liên tục khiến tôi có cảm tưởng máy bay chở quá tải. Có vẻ như số hành khách nhiều hơn số ghế. Khi đã tạm yên vị, nhìn chung quanh mới biết mình lầm. Tôi ngồi bên bìa trái của hàng giữa, bìa phải là một bà đầm, giữa tôi và bà là 2 ghế trống. Trước mặt tôi còn một ghế trống, phía xa hơn cũng thấy trống nhiều. Đây là chuyến bay Hong Kong-Toronto của hãng Cathay Pacific nên nhìn đâu cũng thấy tóc đen da vàng và tóc vàng da vàng, tóc vàng da trắng trở thành lẻ loi. Tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Việt trộn lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn rất chói tai, át hẳn tiếng động cơ phản lực. Giả điếc, cài dây an toàn, tìm một thế ngồi thoải mái. Tôi nhắm mắt cố nghĩ đến những chuyện khác đễ khỏi bận tâm.
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 3352)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 4885)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 5048)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
05 Tháng Mười Một 2026(Xem: 795)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
04 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1171)
Nhân cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2026 tại Hoa Kỳ, nhìn vào sức mạnh của lá phiếu người dân, tôi chợt thấm thía hơn câu nói của người xưa: “Ý Dân Là Ý Trời”. Trong một nền dân chủ, một lá phiếu có thể góp phần làm thay đổi tương quan quyền lực. Một cuộc bầu cử có thể khiến những người đang nắm quyền phải nhìn lại vị trí của mình. Và quan trọng hơn, nó nhắc nhở giới lãnh đạo rằng quyền lực không phải tài sản riêng, càng không phải thứ được mặc nhiên sở hữu vĩnh viễn. Người dân có thể trao quyền, nhưng cũng có thể lấy lại quyền ấy bằng lá phiếu. Từ câu chuyện nước Mỹ, tôi chợt nghĩ về Việt Nam.
02 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1385)
Có những phát biểu của các nhà lãnh đạo khiến người ta phải suy nghĩ. Cũng có những phát biểu khiến người ta không biết nên cười hay nên khóc. Hôm 1 tháng 11 năm 2026, tại cuộc vận động tranh cử giữa kỳ ở Dubuque, tiểu bang Iowa, Tổng thống Donald Trump đưa ra một nhận định đáng chú ý: ông có thể đã chiến thắng cuộc chiến Việt Nam chỉ trong vòng một tuần. Một tuần!
31 Tháng Mười 2026(Xem: 1710)
Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986. Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 7968)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 16947)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 34261)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 40016)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 3901)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 14919)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 795)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
(Xem: 1749)
Có những bài thơ không cần cất cao tiếng nói, bởi chính sự lặng lẽ của chúng đã đủ làm lòng người đau nhói. Đầy Tháng Con của Thành Tôn đưa chúng ta trở về một Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh 1954–1975, nơi một đứa trẻ vừa chào đời, người cha đã ở phương xa trong cuộc chiến. Tiếng khóc đầu đời hòa lẫn với tiếng súng, tiếng kêu đau đớn của những người bị thương và tiếng khóc của những người mẹ, người bà tiễn biệt người thân.
(Xem: 8561)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 13434)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 12893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
28 Tháng Mười 202612:41 SA(Xem: 2268)
PHÂN ƯU Vô cùng thương tiếc khi được tin / Nhà văn TRIỆU VŨ / tên thật VŨ NGỰ TRIỆU Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ. Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi.
27 Tháng Mười 202610:38 CH(Xem: 1945)
Nhận được tin buồn Phu quân của bà Lê Thị Nguyệt Minh Cụ ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ.
27 Tháng Mười 20266:25 CH(Xem: 2491)
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần Our family is deeply saddened to announce to all relatives and friends, near and far, the passing of our beloved: Cụ Ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Chồng, Cha, Anh, Ông Nội, Ông Ngoại của chúng tôi – Husband, Father, Brother, Grandfather. Sinh ngày: 15 tháng 11 năm 1939 tại Phụng Viện Thượng, Bình Giang, Hải Dương, Việt Nam – Born: November 15, 1939 Đã từ trần, ngày 25 tháng 10 năm 2026, tại Houston, TX – Passed away on October 25, 2026 Nhằm ngày 16 tháng 9 năm Bính Ngọ Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi – At the age of 87