- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Trần Huy Minh, Trải Nghiệm Những Hiện Thực Khác

08 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 111339)

Claire Simon thực hiện phỏng vấn

Trần Vũ dịch thuật 

Trần Huy Minh, trải nghiệm những hiện thực khác 

Chưa bao giờ truyện cổ tích trống vắng chủ đích, hay không lột trần sự bất nhẫn. Qua nhân vật Nam, một thanh niên Việt tỵ nạn tại Pháp, cô gái kể chuyện tìm thấy hoàng tử của lòng mình. Họ kết bạn, gặp lại, tâm sự, tự tạo ra một lãnh địa bí mật. Nhưng điều gì đó trốn tránh những động tác tình yêu: Thanh niên điển trai xem thiếu nữ như em gái.

Một thời gian sau, thiếu nữ theo cha mẹ về Việt Nam, lần trở về đầu tiên.

 
Hiện ra trước đôi mắt cô gái, sinh tại Pháp, được nuôi nấng, bảo dưỡng, tấm màn bấy lâu che kín đột ngột bị xé rách. Những bí mật lộ ra, những gặp gỡ phơi bày những thảm kịch mà người thân phải hứng chịu. Mà có thể Nam đã bỏ lại sau lưng…

 
Công chúa và ngư phủ vẽ nên một Việt Nam đầy hiện thực, cấm san sẻ, một xứ sở vô hình mà Trần Huy Minh thụ tinh sự trinh trắng giả tạo, đầy gìn giữ, một xã hội che giấu nỗi buồn sâu thẳm. Tác giả thêm vào danh sách buồn bã, sự hiện diện của người bạn trai khó khăn tìm lại, chỉ vì Lịch sử đã giẫm lên đất nước này. Hay giản dị là thời gian. Bạo liệt hơn những câu chuyện cổ kể lại…

Giới thiệu của Nxb Actes Sud

 

 

Trao đổi với một tài năng văn chương

 
Chỉ vừa mới 27 tuổi, Trần Huy Minh giữ chức phó tổng biên tập nguyệt san Magazine Littéraire (Giai phẩm Văn). Sớm đắm say văn chương, cô viết những trang văn xuôi đầu tiên dưới mái trường trung học, trước khi lao vào nghiệp ký giả. Thiếu nữ mà hầu hết xem là niềm hy vọng trẻ đã quay trở về với tình yêu ban đầu: Cho xuất bản Công chúa và ngư phủ, một tiểu thuyết mang chính hình ảnh của tác giả: nhạy cảm, gây ngạc nhiên và thông minh…


Vóc dáng mảnh mai, váy đầm nhẹ nhàng với nụ cười trên môi, Trần Huy Minh tiếp chúng tôi trong phòng khách, ở một góc nhà có tủ sách bề thế. Cô giãi bầy với đầy hào hứng, phân tích tinh diệu, vừa phơi trải lòng mình kín đáo trong một câu chuyện mà cô luân phiên sắm vai ký giả rồi nhà văn.

Claire Simon: Tập tiểu thuyết đầu tay này khá riêng tư và rất thành công, từ đâu xảy đến ý tưởng ‘‘nàng công chúa và chàng ngư phủ’’, và từ khi nào?


Trần Huy Minh: Nếu thao tác cú pháp đã chiếm của tôi một năm, mầm phôi tiểu thuyết đâm chồi vào những năm tôi hai mươi tuổi. Ý tưởng đến từ một mối tình đã diễn ra năm tôi tròn 15, qua một kỳ du ngoạn học ngoại ngữ, với một thanh niên từng là thuyền nhân. Tôi yêu anh, và rồi đánh mất anh; nhưng trong hoàn cảnh ít bi kịch hơn những gì tôi mô tả trong tiểu thuyết.

 
Tôi bắt đầu viết về câu chuyện đã cứa lòng mình, khi ấy cấu trúc đã có sẵn, nhưng chưa nhiều tầng đọc tác phẩm, với khung gia đình làm nền chưa thật trầm trọng. Tuy vậy hầu hết phần số của những người trong gia đình đều có thật. Ông nội tôi và cụ cố đã thật sự bị thủ tiêu; chi tiết này quan trọng đối với tôi vì cần tái tạo chúng dưới góc độ thật. Ngược lại, những hoạt cảnh làm nên tình tiết giữa đôi tình nhân trẻ, là sản phẩm của trí tưởng, ngoại trừ chi tiết bấp bênh nhất: Cuộc gặp gỡ giữa tôi và Haruki Murakami.


Claire Simon: Có thể xem đây là tự truyện?


Trần Huy Minh: Với tôi, đây là cách nhìn lại tuổi dậy thì của mình. Michel Schneider tuyên bố phân tâm học không đủ sức chạm đến sự thật, nhưng cho một phiên bản khác hứng chịu được hiện thực, khả dĩ có thể chấp nhận.

 
Viết tự truyện, tôi nghĩ cũng là cách riêng tái tạo phiên bản về mối tình giữa mình và người thanh niên thuyền nhân, mà đối với tôi thời ấy, anh mang trong mình những nghi hoặc sâu thẳm nhất: Mối tương quan giữa con người với nguồn gốc, gia đình, và ký ức. Tình yêu không trọn của đôi tình nhân còn ném trả cả hai về quê hương Việt Nam mà một đã đánh mất, còn một không thể tìm thấy, vì cô gái chưa bao giờ đặt chân đến.


Nhìn một cách rộng hơn, tôi viết tiểu thuyết để tri ân Murakami, tri ân đặc biệt điều mà dân tộc Nhật gọi là ‘‘mono no aware’’, ‘‘nỗi đau thắt buồn bã của sự việc’’, nỗi đau biểu tỏ thứ tình cảm phủ kín lấy chúng ta khi cánh rừng thu trút lá, hay cái chết của một người thân sau một quãng đường dài… Tôi muốn Công chúa và ngư phủ khiến người đọc cảm thấy hoài niệm những gì từng hiện hữu mà đã mất.

Claire Simon: Cô gái kể chuyện gần như giao tiếp không mệt mỏi với văn chương và cảm phục sâu sắc các nhà văn, có phải cũng là trường hợp của chính tác giả? Khâm phục nhiều như vậy có cản trở khi phóng bút?


Trần Huy Minh: Khi bắt đầu đọc sách tôi chẳng hề nghĩ sẽ viết văn. Tôi chỉ muốn sống những hiện thực khác với thực tế mà tôi đang chứng kiến, mà tôi không thấy thỏa mãn. Rồi khi trở thành nỗi đam mê thực thụ, tôi đọc đến bịnh hoạn: ban đêm đến những giờ khuya khoắt nhất, trong lúc ăn, trong lúc đi đứng… Sau đó xảy đến ý nghĩ hãy làm một nhà văn, nhưng giữa ước mơ và toại nguyện, tưởng tượng mình đang làm tác giả tỷ giảo với những hệ lụy, còn hơn một chặng đường dài phải vượt qua…

Còn tùy thuộc vào tâm tính mình nữa, tôi có những người bạn tuy đọc nhiều vô cùng, nhưng lại tin họ không có điều gì đặc biệt để trình bày. Tôi, tôi ước ao từ rất lâu muốn biết mình có đủ khả năng xây dựng thành một tác phẩm, hoàn chỉnh những sự việc mà ngoài cuộc đời chỉ là những bản nháp vô giá trị. Tôi nghĩ chính sự khâm phục các nhà văn, sau cùng đã biến thành động cơ nhiều hơn một thắng hãm. Khi giúp tôi khám phá ý niệm của họ về thế giới, các nhà văn đã giúp tôi xây cất lấy thế giới của riêng mình.

 
Claire Simon: Cô còn chịu ảnh hưởng văn học nào khác, ngoài Haruki Murakami?

 
Trần Huy Minh: Murakami giữ vị trí quan trọng trong cuốn tiểu thuyết này, vì đối với tôi, nhà văn này gắn liền với tuổi trẻ, gắn liền với nhiệt huyết không thể cưỡng lại nhấc bổng mình lên khi mình còn niên thiếu, khi mình nghĩ thế giới đang mở ra cho mình, tất cả đều khả thể.

 
Chuyến vi hành không khả dĩPhía nam biên giới phía tây mặt trời của Murakami, đối với tôi là hai tiểu thuyết hải đăng tỏa sáng cho tuổi trẻ. Năm tôi 20, tôi chuộng Fitzgerald ở khía cạnh lãng mạn, nhưng tất cả mọi người đều ưa Fitzgerald ở tuổi hai mươi! Về sau, tôi không nghĩ mình chịu ảnh hưởng một tác giả nào, tuy tôi đọc khá nhiều nhưng không tìm thấy đam mê tận cùng nào với một nhà văn. Từng đoạn văn hay những hình ảnh chiếm giật chỗ này, chỗ kia, đeo đuổi ám ảnh tôi đúng hơn. Như với Công chúa và ngư phủ chẳng hạn, tôi chứa trong đầu mình một cuốn sách mỏng, tưởng chừng không liên quan gì đến tiểu thuyết đang viết, cuốn Sự im lặng biển cả của Vercors. Chỉ vì Vercors sử dụng ẩn dụ này: ‘‘Biển thật yên tĩnh trên bề mặt, thật phẳng mượt, vậy mà đang diễn ra dưới lòng sâu cảnh ăn tươi nuốt sống giữa bầy thủy quái…’’ Khi viết, tôi mang ý niệm này, mà tôi muốn dùng một văn phong thật kềm hãm, tránh mọi xúc cảm, để càng làm bật ra thêm thảm kịch với những giằng xé ở vài nhân vật.

 
Claire Simon: Tập tiểu thuyết hình thành dần dần theo ngòi bút hay đã hoàn tất sẵn trong đầu tác giả?

Trần Huy Minh: Ngay cả khi chúng ta có một ý định khá rõ rệt về cấu trúc muốn áp dụng, có thể nêu bất kỳ lý lẽ nào, sẽ chẳng bao giờ diễn tiến như dự tính! Đã lên khung sườn khá nhiều chương, tôi nhận ra mình không bao giờ theo được dàn bài đã thiết lập trước. Tuy nhiên những gì tôi chủ đích, cuối cùng tôi đều có thể lồng vào được ở đoạn này, hay đoạn khác. Lúc hoàn tất, hầu như các tình tiết dự phóng biến mất nhiều hơn là chúng đã xuất hiện. Tôi dự trù rất nhiều hoạt cảnh khá ăn khớp trong đầu mình, nhưng khi viết ra lại gượng ép. Mà đáng lẽ chỉ nên ngầm gợi ý với độc giả là những cảnh ấy đã xảy ra. Do vậy, công việc lao động bản thảo còn là nghệ thuật sử dụng kiếm sắt quan trọng mà tác giả phải biết chặt đi những khúc thịt thừa của đứa con mình.

 
Do cuốn sách không sinh ra một sớm chiều, nên tôi dùng lại các phiên bản cũ, cho phép nhiều giải pháp. Khởi hành trở lại trên cái nền của những văn bản cũ xưa, tạo ra sự hòa trộn giữa bản thể tôi ngày hôm qua với bản thể tôi bây giờ, khiến đôi khi khập khiễng, đôi khi thú vị.

 
Claire Simon: Cô đang làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn, chiếc cầu nối giữa ngành ký giả và ngành văn chương xây ra sao?


Trần Huy Minh: Điều mà trong nghề nhận ra trước tiên, là phải đào thải khá nhiều thói quen trong phong cách viết. Các ký giả thường xuyên lạm dụng một số công thức chuyển đoạn hầu viết nhanh. Hiển nhiên trong một cuốn sách, sự hợp lý nhất thời và sự hợp lý vĩnh cữu rất khác nhau. Cần rèn luyện nhiều mới có thể qua lại giữa hai bộ môn này, vừa gần, vừa rất xa. Đôi khi chúng tôi thấy như mình bị tâm thần… Khi chuyển thủ pháp ký giả sang thủ pháp văn chương, giống như chúng tôi đang làm một công việc trang hoàng bằng ngòi bút đột nhiên ngưng chữa lỗi mà phải chữa những thói tật.

Do đã viết nhiều bản thảo trước đây, tôi không gặp nhiều vấn đề. Khó khăn nằm trong chính quan hệ giữa nhà văn với văn giới. Văn bản không được đọc cùng một cách, cho dù là những nhà văn yêu quý bạn, hay những nhà văn không ưa bạn chút nào.

 
Claire Simon: Vừa là nhà văn, vừa là ký giả, có thuận lợi hơn trong lĩnh vực truyền thông khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay?


Trần Huy Minh: Cho đến bây giờ, vị trí ký giả đã không giúp ích tôi nhiều. Ví dụ nhiều nhật trình năm nay, theo quy chế nghề nghiệp, quyết định không điểm tiểu thuyết do ký giả viết, nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc tuyển chọn, ngay cả khi rủi ro sẽ thành thiên vị thái quá trong chiều hướng ngược lại là có thật. Tất nhiên không có gì bi thảm. Trớ trêu là những người nhiệt tình hỗ trợ tôi lại là những người tôi không quen biết, hoặc quen biết mà ở ngoài giới phê bình-xuất bản-hội đoàn hay các hiệu sách.


Claire Simon: Dự tính tương lai của nhà văn?

 
Trần Huy Minh: Tôi vừa hoàn tất chương đầu của tiểu thuyết thứ nhì. Chủ đề hoàn toàn khác. Một câu chuyện phỉnh lừa tình yêu và nghệ thuật. Hiễn nhiên giảm tính chất tự truyện, tuy vẫn dựa trên các sự việc có thật: Một trò đánh tráo trong giới nhạc sư cổ điển từng làm trò cười cho dư luận. Nhà xuất bản Actes Sud cũng đã đề nghị tôi in tiếp theo một tập truyện cổ tích Việt Nam. Và tôi đã nhận lời.

Claire Simon thực hiện

Trần Vũ dịch thuật

 

Nguồn: Trang "Thời sự Văn học" của tuần san Evénement (Sư kiện) tháng 8-2007

http://www.evene.fr/livres/actualite/minh-tran-huy-princesse-pecheur-rentree-litteraire-907.php

 

đăng lần đầu trên talawas tháng 9-2008.


Cước chú của người dịch:

 Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1979 tại Clamart, ngoại ô Paris, song thân Việt Nam, Trần Huy Minh trở về quê hương lần đầu rồi cho xuất bản tiểu thuyết La princesse et le pecheur, nêu bật bi kịch của người Việt trong một xã hội tàn nhẫn mà lịch sử giẫm đạp không thương tiếc, trên nền truyện cổ tích dân gian. Công chúa và ngư phủ là một trong 3 tiểu thuyết bán chạy nhất trong năm 2007. Giải thưởng Prix Riviera, giải thưởng Tân truyện Prix Gironde-Nouvelles écritures, giải thưởng Prix Emmanuel Roblès, giải thưởng Ngũ châu lục Prix des Cinq Continents, giải thưởng Khám phá Tài năng Bourse de la Découverte de la Fondation Pierre de Monaco, vào chung khảo Giải Văn chương Toàn quốc cho tiểu thuyết đầu tay Prix Goncourt 2007… Trần Huy Minh hiện làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn (Magazine Littéraire), chủ biên chuyên đề Văn học Trung Hoa từ Khổng Tử đến Cao Hành Kiện, trong ban giám khảo tuyển chọn dự án phim truyện cho đài truyền hình d'ARTE France Cinéma, giữ mục chroniqueur cho nhiều tuần san, phụ trách chương trình tivi Lời của đêm (Mots de nuit). Tác phẩm thứ nhì: Le Lac né en une nuit et autres légendes du Vietnam (Mặt hồ sinh trong đêm và những truyện kỳ khắc của Việt Nam).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 247)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 223)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 402)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 349)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 487)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 622)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1033)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1104)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1712)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2036)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 622)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17716)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16766)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 402)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 487)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2036)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2554)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 349)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2430)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2194)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2786)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1033)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1104)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1644)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2417)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 246)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 223)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1712)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2265)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3093)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14420)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30487)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36771)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12190)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13532)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3959)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5998)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5472)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6036)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6682)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9000)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8295)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11234)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.