- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

C Ó N H Ữ N G B À I C A … N Ợ … T Ì N H

28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 10073)

     

co nhưng bai ca- trieu vu (5)
Chân dung tác giả TRIỆU VŨ



Triệu Vũ

CÓ NHỮNG BÀI CA… NỢ… TÌNH

 

 

 

Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nhèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…

Xa lắm rồi, tôi vẫn nhớ, cuối năm 1954, rời bỏ quê hương miền Bắc, theo đoàn người di cư vào Nam, gia đình tôi dừng chân tạm cư ở Đà-Nẵng và tôi ghi danh học lớp Đệ Tứ (lớp 9) tại trường Phan-Thanh-Giản niên khóa 1955-1956. Phan-Thanh-Giản là một tư thục, mới xây cất, khang trang nhất thị xã Đà-Nẵng thời đó. Đây là năm cuối cùng, tôi được học nhạc và nhạc sĩ Phạm-Thế-Mỹ chính là giáo sư phụ trách môn học này. Đã ba phần tư thế kỷ trôi qua, một thời khoảng khá dài, bây giờ tôi thực sự nhận ra mình không có một chút vốn liếng nào về môn học “phụ” này và những gì gọi là âm nhạc mà tôi tiếp thu được, suốt bốn niên học, chỉ mỗi tuần một tiếng đồng hồ (thực tế thì ít hơn), đã chắp cánh bay đi, hay nói khác hơn, với ý nghĩa hoang phí, vô tình và nuối tiếc là: chữ thầy trả thầy.

Có người bảo rằng tôi, cũng như bao người cùng trang lứa, đã sanh không đúng thời, không đúng lúc; một cách văn hoa mà cay đắng, cộng thêm một chút than thở là: lứa tuổi của chúng tôi đã “sanh lầm thế kỷ”. Con đường dẫn tôi vào đời hình như không rực rỡ, ngập nắng vàng ban mai; không có những nụ tầm xuân hay bông hồng tươi thắm, đong đưa ngả nghiêng, lả lơi chào đón. Lứa tuổi chúng tôi ra đời vào lúc khởi diễn cuộc thế chiến thứ hai, cho nên bị cuốn hút theo dòng lịch sử của đất nước, nhiều biến động, nhiều tang thương trong bối cảnh rực lửa chiến tranh.

 Cuộc đời tôi, nổi trôi bồng bềnh theo vận nước, thấm thoắt đã 87 năm. Rời làng quê từ nhỏ, tôi không còn được nghe tiếng sáo diều vi vu trong những chiều lộng gió, không còn được nhìn thấy những em bé miền quê ngồi thổi sáo trên lưng trâu, khi hoàng hôn buông xuống, chậm rãi nối đuôi nhau, dọc con đê dài dẫn vào làng. Đặc biệt, tôi vẫn không quên thảm cảnh khinh hoàng của nạn đói năm Ất Dậu (1945). Ngày ấy, thuở ấu thơ, mới năm, sáu tuổi, tôi đã nhìn tận mắt, trên đường quê và dọc con phố huyện Bình-Giang, tỉnh Hải-Dương, những xác người chết vì đói ăn; thi thể rắc vôi bột màu trắng, có tấm chiếu cói đắp lên trên. Tiếp đến là phải chạy giặc Tây càn (lính Tây đi hành quân); rồi tản cư, rồi hồi cư về thị xã Hải-Dương năm1947. Năm1948, theo cha mẹ về lánh nạn tại huyện Cẩm-Giàng, và năm sau, 1949, trở lại thị xã Hải-Dương. Chưa yên, mùa hè năm 1951, tôi chỉ là cậu bé 11 tuổi, phải xa gia đình, rời Hải-Dương lên Hà-Nội trọ học. Thời gian tuy lùi xa rồi, tôi vẫn không quên, căn nhà tôi trọ học ở cuối phố Phạm-Hồng-Thái, khu Cửa Bắc, gần hồ Trúc-Bạch, gần Ngũ-Xã, gần chợ Châu-Long. Ở đây, tuy được đối xử rất tốt, coi như người thân trong gia đình, nhưng lòng tôi vẫn hướng về thị xã Hải-Dương.Và từ đó tôi mới hiểu, mới thấm được thế nào là “nhớ nhà”...


Ít năm sau, Hiệp-Định Geneve 20-7-1954 ra đời, đất nước chia đôi, tôi phải rời Hà-Nội về Hải-Dương để cùng Bố Mẹ và các em di cư vào phía Nam vĩ tuyến 17. Từ cuối năm 1954, gia đình tôi tạm cư ở Đà-Nẵng và mùa hè năm 1956, lại di chuyển vào Saigon-Gia Định. Không biết trên lá số tử vi của tôi, có gì đặc biệt, sao cứ long đong chuyển dịch? Đã xa quá rồi, xa cả ngàn cây số, đất Bắc quê hương bốn mùa bỏ lại. Vùng đất mới miền Nam, mưa nắng hai mùa, đầy ắp thân thương tình người. Tôi sống hồn nhiên, vô tư rạng rỡ trên nét mặt; tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống trước ngưỡng cửa vào đời…

        Rồi thời gian cứ vô tình, âm thầm trôi và do…duyên trời đã định, tôi gặp người con gái xứ Đoài. Đúng rồi! Tôi đã gặp được người “Em ở thành Sơn ..”! Tôi thầm cám ơn nhà thơ Quang-Dũng. Tôi cũng thầm cám ơn người nhạc sĩ tài hoa phổ thơ của ông và tôi không quên tạ ơn Ông Tơ & Bà Nguyệt cho chúng tôi “được” làm Lễ Tơ Hồng….

        Sống đời tự do yên bình chưa được bao lâu, chỉ it năm sau, khói lửa chiến tranh lan tràn khắp nẻo đường đất nước. Vì nhu cầu chiến trường, tôi cũng như hàng ngàn, hàng vạn thanh niên phải lên đường nhập ngũ. Không khí chiến tranh phủ khắp non sông. Những tiếng nổ ì ầm của bom đạn vang vọng khắp nơi. Suốt mười mấy năm lửa khói binh đao, đã có biết bao người nằm xuống. Mộ phần như nấm, đầy kín nghĩa trang. Cả vạn người tàn phế, một gánh nặng của xã hội. Thời gian cứ trôi. Tang thương vẫn bao trùm đất nước. Người ta thấy được, nghe được những thảm cảnh đau lòng, xảy ra hàng ngày. Ai cũng hiểu, cũng biết, hòa bình là nỗi khát vọng của mọi người. Và rồi cuộc chiến đã kết thúc bằng văn bản. Hiệp định Paris 27-1-1973 ra đời. Đó là sản phẩm của hội nghị kéo dài nhiều năm tại kinh thành ánh sáng Paris, thủ đô nước Pháp. Bất hạnh thay, văn kiện ấy, có đầy đủ chữ ký của các cường quốc, nhưng có nhiều điều khoản hoàn toàn bất lợi cho Việt-Nam Cộng-Hòa. Do vậy, chiến tranh chấm dứt nhưng khổ lụy của dân Việt còn kéo dài, với mất mát, chia ly, nước mắt đau thương, thù hận chưa nguôi! Hòa bình đến với dân Việt chỉ có trên văn bản, giấy tờ; thực tế bom đạn vẫn ì ầm, thây người vẫn ngã xuống trong rừng sâu, ngoài biển cả, giữa khe núi. Nhiều người bỏ nước ra đi, chấp nhận làm mồi cho cá biển và thú dữ còn hơn là phải sống trong tủi nhục, phân biệt đối xử. Cũng không có gì là quá đáng khi bảo rằng “Trận Chiến Chưa Tàn”, như tựa đề một tác phẩm của nhà văn Nguyên-Vũ. Biết bao người chỉ biết ngậm ngùi than thầm: Đó là vận nước!

 Có nhiều khi, hồi tưởng thưở xa xưa, lần về quá khứ; từ lúc còn thơ dại, tôi đã thấm những lời ru của Mẹ, đưa tôi vào giấc ngủ. Lớn một chút, những câu ca dao, những vần thơ trữ tình, lãng mạn, tôi đã được học, được nghe, được đọc, tới nay còn in đậm trong tâm trí. Tiếc thay, tôi đã không đủ ngôn từ, không đủ khả năng diễn đạt những cảm xúc, suy tư. Không những “dốt”về nhạc, tôi còn không biết làm thơ. Tuy thế, thỉnh thoảng, lúc cao hứng, tâm hồn thư thái bay bổng, tôi cũng nghêu ngao “rên rỉ” một vài dòng của một bản nhạc nào đó hoặc ngân nga, ngâm mấy câu thơ, còn lưu trong trí thuở cắp sách đến trường. Dĩ nhiên chỉ “trình bầy” đủ cho mình tôi nghe…trong phòng kín. Chỉ có thế thôi, vậy mà, đôi lúc tôi thầm nghĩ và tự đánh giá: Hình như tôi có “tâm hồn nghệ sĩ”!? Trời! Xấu hổ quá! Thực không biết lượng sức mình!

Theo dòng thời gian, suốt chiều dài 87 năm đường đời, tôi có nhiều cơ duyên tao ngộ, tâm tình với nhiều nhà thơ, có tên và có tuổi. Nhưng trong lãnh vực âm nhạc, tôi ít có cơ hội gặp gỡ, hoặc quen biết giới nhạc sĩ. Đã lâu rồi, đã hơn 60 năm trước, khi còn sống ở quê nhà, tôi chỉ quen biết hai nhạc sĩ Hoàng-Nguyên và  Song-Ngọc. Anh Hoàng-Nguyên, cùng bị động viên theo học khóa 19 Sĩ Quan Trừ-Bị, chung một trung đội và ở chung một phòng. Anh tên là Cao-Cự-Phúc. Anh đã qua đời năm 1973 ở Việt-Nam. Bản nhạc “Sao Em Không Đến”, Hoàng-Nguyên sáng tác đầu năm 1965, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ-Binh Thủ-Đức. Anh trao cho Sinh-Viên Sĩ-Quan cùng phòng tên Minh-Mẫn, trình bày lần đầu trên sân khấu, tại Hội-Trường rộng lớn của Trường Bộ-Binh. Nhạc Hoàng-Nguyên được nhiều người hâm mộ, đặc biệt, những nhạc phẩm gợi nhớ xứ hoa đào. Riêng Anh Song-Ngọc, cùng học một khóa chuyên môn với tôi ở Đà-Lạt năm 1973, xếp chung một nhóm. Mãn khóa học, trước khi về đơn vị, Song-Ngọc khoe với chúng tôi vừa hoàn tất nhạc phẩm “Tình Yêu Như Bóng Mây”, diễn tả tâm trạng của người sắp giã từ Đà-Lạt. Song-Ngọc tên thực là Trần-Văn-Thưởng, cũng đã từ trần năm 2018 tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Trong kho tàng âm nhạc Việt, có nhiều sáng tác của Song-Ngọc, của Hoàng-Nguyên, đa dạng và phổ biến rộng rãi, nhiều người yêu thích.

Người đời thường bảo nghệ sĩ nói chung, nhạc sĩ nói riêng, tâm hồn đa sầu đa cảm và đặc biệt “đa tình”. Không ai biết trái tim nhạc sĩ có bao nhiêu ngăn và dung lượng có đủ để đong đầy những trái tim yêu thương? Nhưng phải thành thực công nhận, não bộ của nhạc sĩ rất bén nhạy và trí tưởng tượng của nhạc sĩ rất phong phú. Chỉ một cánh hoa bay bay, chỉ một chiếc lá lìa cành cuốn theo chiều gió, chỉ một gợn mây lơ lửng ngang trời; có khi chỉ một ánh mắt, một vạt áo tung bay v. v. cũng là những nguồn cảm hứng tuyệt vời để nhà soạn nhạc kết hợp âm thanh với ca từ, đưa tâm hồn người thưởng thức bay bổng, mơ màng, cảm xúc dâng trào. Nhà soạn nhạc còn chắp cánh cho những vần thơ vươn lên cao, lên cao đến nỗi đôi khi tác giả của những vần thơ thấy ngỡ ngàng, chưa từng mơ ước. Cùng nghe một bản nhạc, không phải cùng chung một cảm nghĩ, cùng một cung bậc cảm xúc. Người ta bảo đó là tùy trình độ thẩm âm hoặc tùy tâm trạng của người thưởng ngoạn. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến Cụ Nguyễn-Du, đã diễn tả tuyệt vời cảm xúc của Kim-Trọng khi nghe tiếng đàn của Thúy-Kiều : “Khi tựa gối, khi cúi đầu; khi vò chín khúc, khi chau đôi mày ..”

Một kỷ niệm đã xa rồi nhưng tôi vẫn không quên; hơn năm mươi năm trước đây, trong buổi hội thảo nơi giảng đường của một trường Đại-Học Quân Sự ở Đà-Lạt, có sự tham dự của nhiều nhân vật cao cấp. Nhà thơ nổi tiếng của miền Nam, Tô.K.Ng, từng là thành viên của chương trình ngâm thơ trên đài phát thanh Saigon năm nào, cấp bậc Thiếu-Tá, điều hợp sinh hoạt. Nhà thơ ấy đề nghị tôi nói đôi điều về chủ đề: cổ vũ, tác động tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Dĩ nhiên, để tránh hiểu lầm, tránh ngộ nhận, lời nói đầu tiên là khen ngợi, ca tụng những nỗ lực của phần vụ chuyên trách lãnh vực này. Tuy nhiên, tôi, mạnh dạn đưa ra, nêu lên những suy nghĩ của cá nhân tôi về lời ca của một số nhạc phẩm; và đề nghị giới chức thẩm quyền cần phải duyệt xét lại trước khi phổ biến rộng rãi trên những cơ quan truyền thông. Theo tôi, thực tế, có những bản nhạc, lời ca giọng điệu căm hờn, sắt máu; chỉ có chém giết và chém giết, rồi vươn lên nhà máy với công trường v.v. nghe phảng phất đâu đây không  phải và không phù hợp với chính sách nhân bản và chính nghĩa của quân dân miền Nam. Đừng quên chúng ta luôn mở rộng vòng tay và chủ trương “ Đem đại-nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân thay cường bạo ”.Tôi cũng đã nêu ý kiến cá nhân tôi và tha thiết đề nghị: không phổ biến rộng rãi những nhạc phẩm mang nội dung làm chiến sĩ mềm lòng hay nhụt chí, trước khi lên đường vào nơi lửa đạn. Làm gì còn hăng say, làm gì còn hùng khí, quyết tâm ra chiến trường giết giặc lập công, khi trong tim trong óc còn vang vọng những tâm sự của người yêu lúc chia tay, lúc giã từ; và còn mang theo hình ảnh người yêu, quấn khăn tang trắng, gục đầu bên chiếc quan tài phủ quốc kỳ. Các chiến binh oai hùng liệu có an lòng khi người yêu rưng rưng ngấn lệ trước giờ chia tay: “Em hỏi anh…bao giờ trở lại ..Anh trở về trên đôi nạng gỗ”  “Anh …trở về có khi là hòm gỗ cài hoa …” Tôi nói nhiều, nhưng thời gian đã quá xa, nên không nhớ hết. Đã có rất nhiều ý kiến về những bản nhạc có ca từ thuộc dạng này. Người thì cho là phản chiến, người thì cứng rắn nghiêm khắc hơn, cho là “đâm sau lưng chiến sĩ”. Riêng tôi, hôm ấy chỉ nêu lên suy nghĩ cá nhân là có những bản nhạc chỉ nên hát cho nhau nghe, trong chỗ riêng tư; không nên phổ biến rộng rãi, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Những phát biểu của tôi hôm ấy, hoàn toàn chỉ là thành ý, nhưng hình như quan khách tham dự và đặc biệt, các nhân viên của khối Chiến-Tranh Chính-Trị nhìn tôi với ánh mắt khác thường. Đó là những kỷ niệm của thời xa xưa, cách nay trên bảy chục năm…

 Thế rồi, vật đổi sao dời, dòng đời cứ trôi. Gia đình tôi cũng trôi giạt đến một đất nước xa lạ, nằm bên bờ đông biển Thái-Bình, cách xa quê hương nửa vòng trái đất. Sau hơn ba mươi năm định cư nơi xứ người, nay ở độ tuổi người ta gọi là xế chiều hay hoàng hôn gì đó và chuyện chiến tranh, chuyện đời quân ngũ, đối với tôi chỉ còn nằm trong ký ức. Hôm nay, trong căn phòng khách nhỏ, bình thường như mọi ngày, tôi tựa lưng vào chiếc ghế da, để đầu óc thư giãn, tâm hồn lắng xuống, yên vui tuổi già. Thực bất ngờ, từ máy thu hình mỏng treo trên tường đối diện, vang lên tiếng hát của một nữ ca sĩ, hoàn toàn không vương mùi thuốc súng, không vang vọng tiếng đạn pháo ì ầm, mà đang nức nở, nghẹn ngào, có thể nói là “nhói buốt” con tim. Lời ca phổ từ một bài thơ ngắn phản ảnh tâm sự của hai người yêu nhau mà không được chung sống bên nhau. Họ có duyên mà không có nợ, nên khi chia xa đã kêu gào thảm thiết. Thơ hòa quyện trong nhạc. Lòng tôi chùng xuống, mơ màng, đưa trí tưởng nhớ lại một câu chuyện tình thưở xa xưa, không phải của cá nhân tôi…

-“Ông lại uống lộn thuốc nữa rồi à?” Giật mình, tôi ngơ ngác. Người bạn đời, tay cầm ly cà phê tỏa hương thơm đang ngồi kế bên. Chưa kịp trả lời, nàng tiếp :

-“Hôm trước, Ông ngân nga thơ phú gì đó; hết văn, đến thơ, giờ lại tới nhạc. Sao Ông nhiều chuyện quá!? Thế Ông còn nợ ai vậy?” Không đợi tôi trả lời, nàng trao ly cà phê cho tôi và tiếp:

-“Ông uống cà phê trước đã, rồi trả nợ sau nhé!” Tôi hơi bối rối, đón ly cà phê uống một chút để lấy lại bình tĩnh và chậm rãi, nhẹ nhàng phân trần với người bạn đời: bản nhạc vừa nghe qua máy thu hình, làm tôi nhớ đến câu chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B, một Sĩ-Quan cộng sự của tôi và cô hàng sách Th-L ngày nào…

Ngày xưa ấy, đơn vị tôi, đồn trú cách Saigon gần 60 km về phía Bắc; cứ mỗi độ Xuân về, có đoàn nữ sinh thủ đô lên thăm. Sự kiện sinh hoạt này nằm trong kế hoạch lớn của cấp trên. Tôi giao Sĩ quan phụ tá, kiêm Chiến-Tranh-Chính-Trị, Đại-Úy Huỳnh-Khắc-B. lo liên lạc, chuẩn bị từ phương tiện đưa đón đến ẩm thực, nơi nghỉ ngơi, địa điểm giao lưu hội ngộ v.v Không ai phủ nhận được, những chuyến viếng thăm tiền đồn, nơi đóng quân, hay những cánh thư của em gái hậu phương đã có những tác động đáng kể đến tinh thần quân sĩ. Phải chứng kiến niềm hân hoan gặp gỡ hay lúc bịn rịn, lưu luyến khi chia tay, mới thấm được, mới hiểu được tình người chiến sĩ tiền tuyến và các em gái hậu phương. Những tà áo dài của các em nữ sinh, xen lẫn những bộ áo trận bạc màu, tựa như những cánh bướm trong vườn cây xanh lá. Những nụ cười hồn nhiên, những tiếng hát vang vang, kết hợp tiếng vỗ tay nhịp nhàng làm bầu không khí rộn ràng, vui tươi, thắm đượm tình quân dân. Có những ánh mắt trao nhau trìu mến; có những cánh tay vững chắc, bàn tay xạm nắng nâng niu ngón tay thon gọn, ngọc ngà …Tiếc quá! Tôi không phải nhà thơ, nhà văn nên không biết diễn tả sao cho hết ý nghĩa của khoảnh khắc hội ngộ đáng nhớ ấy, giữa người lính tiền tuyến xa xôi và các em gái hậu phương. Người ta ghi nhận đã có nhiều mối tình, mối lương duyên phát sinh từ những buổi gặp gỡ ủy lạo chiến sĩ, những chuyến viếng thăm tiền đồn…

 Thời đó, tình trạng chiến tranh, vì nhu cầu chiến trường, biết bao nhân tài, tinh hoa đất nước, phải lên đường nhập ngũ. Cũng không ngạc nhiên khi các em nữ sinh dễ thương, duyên dáng, đón nhận …tình yêu của những sĩ quan trẻ. Huỳnh-Khắc-B, người Sĩ-Quan phụ tá của tôi, vừa được thăng cấp Đại-Úy. Trước khi nhập ngũ, B. từng làm việc ở Bộ Thông-Tin, nay tuổi đời chưa tới ba mươi, còn độc thân, người cũng “dễ coi”..

 Vào buổi sáng đầu Xuân năm ấy, tay cầm một bìa cứng trong có nhiều giấy tờ, B. lên văn phòng tôi và trình bày muốn lập hồ sơ kết hôn. Người yêu của B. tên Th-L, là cựu nữ sinh trường áo tím Gia-Long ở Saigon. Th-L gặp Đại-Úy B. trong chuyến viếng thăm đơn vị tôi trước đây và đã “phải lòng” nhau. Người ta thường nói “Con tim có lý lẽ riêng cuả nó”! B. cho biết: Sau khi học hết trung học, Th-L phụ gia đình trông coi tiệm sách ở trung tâm thành phố Saigon. Biết bao chàng trai trẻ ghé qua mua sách, còn được ngắm “cô hàng sách” duyên dáng, thân thiện. Sợ mất người yêu, B.lo thủ tục kết hôn gấp.Tôi duyệt hồ sơ và chỉ thị chuyển ngay lên phòng An-Ninh Quân-Đội. Hồ sơ kết hôn chỉ còn chờ giấy xác nhận điều chuẩn an ninh gủi về thì ngày 30 tháng Tư ập đến. Và rồi, như sét đánh ngang tai, Tổng-Tư-Lệnh quân đội ra lệnh: Buông súng đầu hàng! B. buông súng và rời đơn vị. Trên đường tìm về Saigon, B. bị chặn lại, đưa đi ... tù, rồi bị đày ra miền Bắc, không kịp chia tay người yêu. Suốt tám năm tù đày, không nhận tin tức gì về Th-L, kể cả hung tin. Khi được phóng thích, B. đi tìm lại người yêu. Than ôi… cửa hàng sách xưa kia, nay là cửa hàng kim khí điện máy và cô hàng sách không biết trôi giạt phương trời nào. Thành phố thủ đô trước đây đã thay đổi quá nhiều!  Các tiệm bán sách và dụng cụ văn phòng thân thương ngày xưa, các quầy bán sách báo, băng nhạc dọc theo đại lộ náo nhiệt giữa Saigon, sau 1975 không còn nữa. Cả thành phố, nay chỉ có một vài nơi bán sách báo, mang bảng hiệu mới:

Trung tâm phát hành sách. Người ta kể lại sau 1975, nhiều cư dân Saigon phải đi tái định cư, lao động sản xuất ở vùng sâu, vùng xa. Căn nhà Th-L ở ngày xưa, nay là trụ sở đồn Công-An nên B chỉ đi ngang qua mà không dám ghé vào dò thăm tin tức. Người cựu tù B.đã tìm Th-L khắp nơi. Từ những con đường ở trung tâm Saigon, B. đã lê bước chân đến vùng xa xôi gọi là “Khu kinh tế mới”. Từ Đồng-Ban Tây-Ninh đến Đồng-Hiệp, Phương-Lâm, Định-Quán, qua Long-Khánh, Xuân-Lộc v.v  nhưng không có được một tin tức nào!

Những ngày còn vất vả, long đong nơi quê nhà, vài lần, B. ghé thăm gia đình tôi và cho biết vẫn chưa có tin tức gì của Th-L. Cuối thập niên 1980, chương trình định cư các cựu tù ra đời, B. chần chừ, không lập hồ sơ ngay, muốn kéo dài thời gian ở lại quê nhà để tiếp tục đi tìm người yêu. Gia đình tôi rời Việt-Nam, định cư tại Hoa-Kỳ từ mùa Xuân năm 1990, thoắt đã 36 năm; không biết giờ này B. có tìm được và đã trả được nợ tình cho cô hàng sách dễ thương Th-L chưa ?

Nghe tôi kể lại chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B. và cô hàng sách, người bạn đời buông tiếng thở dài, cảm thương cho số phận của bao đôi tình nhân, vì hoàn cảnh đất nước mà không được chung đường chung lối. Âu cũng là Ý Trời! Họ có duyên gặp gỡ, nhưng tiếc thay không có cơ hội để trả nợ… tình cho nhau; trong lòng họ còn nhiều tiếc nuối, còn nhiều kỷ niệm đẹp của cuộc tình dang dở, không trọn vẹn…Bởi thế, đã vang vọng những lời kêu gào thảm thiết, ai oán, thổn thức con tim, Tôi thầm cám ơn Trời Phật, đã phù hộ tôi sáng suốt, tỉnh táo, chừng mực và may mắn không mang món nợ nào, kể cả nợ tình. Tuy vậy, tôi không thể nào quên, có một thời xa xưa lắm, sau ngày đau buồn cuối tháng Tư năm ấy, ai đó đã áp đặt cho chúng tôi, những cựu Sĩ-Quan miền Nam, đi trình diện để tù cải tạo, không phải vì lý do đã mang món “nợ tình” nào đó, mà vì có “nợ máu” với .. ? Thực bó tay!

Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, người đẹp và tình yêu có lẽ là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng tuyệt vời, vô tận, lan tỏa trong mọi lãnh vực sáng tác của nghệ sĩ. Riêng trong kho tàng âm nhạc Việt, chắc chắn rằng rất nhiều người đã từng nghe những bản nhạc “Cô hàng nước”, “Cô hàng cà phê”, “Cô láng giềng”, “Cô hái mơ”, “Cô hàng xóm”, “Cô lái đò”; nhưng không biết có ai đã nghe nhạc phẩm nào nhắc đến ngày xưa, có một cô em tươi trẻ, duyên dáng, thân thiện bán sách báo giữa lòng thành phố Saigon không nhỉ? Biết đâu chừng, có thể lắm, trong tương lai, một bài ca có tựa đề “Cô hàng sách” ra đời, làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc Việt-Nam.

 

TRIỆU  VŨ  ( 23-02-2026 ) 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 139792)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 159297)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 109050)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 5960)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 14929)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 20840)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19896)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 4373)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 4180)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 6089)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 4826)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 3356)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 4576)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 4246)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 4189)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
06 Tháng Mười Một 20263:37 CH(Xem: 1011)
Cảnh chen lấn xô đẩy liên tục khiến tôi có cảm tưởng máy bay chở quá tải. Có vẻ như số hành khách nhiều hơn số ghế. Khi đã tạm yên vị, nhìn chung quanh mới biết mình lầm. Tôi ngồi bên bìa trái của hàng giữa, bìa phải là một bà đầm, giữa tôi và bà là 2 ghế trống. Trước mặt tôi còn một ghế trống, phía xa hơn cũng thấy trống nhiều. Đây là chuyến bay Hong Kong-Toronto của hãng Cathay Pacific nên nhìn đâu cũng thấy tóc đen da vàng và tóc vàng da vàng, tóc vàng da trắng trở thành lẻ loi. Tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Việt trộn lẫn thành một thứ âm thanh hỗn độn rất chói tai, át hẳn tiếng động cơ phản lực. Giả điếc, cài dây an toàn, tìm một thế ngồi thoải mái. Tôi nhắm mắt cố nghĩ đến những chuyện khác đễ khỏi bận tâm.
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 3429)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 4986)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 5110)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
05 Tháng Mười Một 2026(Xem: 983)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
04 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1363)
Nhân cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2026 tại Hoa Kỳ, nhìn vào sức mạnh của lá phiếu người dân, tôi chợt thấm thía hơn câu nói của người xưa: “Ý Dân Là Ý Trời”. Trong một nền dân chủ, một lá phiếu có thể góp phần làm thay đổi tương quan quyền lực. Một cuộc bầu cử có thể khiến những người đang nắm quyền phải nhìn lại vị trí của mình. Và quan trọng hơn, nó nhắc nhở giới lãnh đạo rằng quyền lực không phải tài sản riêng, càng không phải thứ được mặc nhiên sở hữu vĩnh viễn. Người dân có thể trao quyền, nhưng cũng có thể lấy lại quyền ấy bằng lá phiếu. Từ câu chuyện nước Mỹ, tôi chợt nghĩ về Việt Nam.
02 Tháng Mười Một 2026(Xem: 1498)
Có những phát biểu của các nhà lãnh đạo khiến người ta phải suy nghĩ. Cũng có những phát biểu khiến người ta không biết nên cười hay nên khóc. Hôm 1 tháng 11 năm 2026, tại cuộc vận động tranh cử giữa kỳ ở Dubuque, tiểu bang Iowa, Tổng thống Donald Trump đưa ra một nhận định đáng chú ý: ông có thể đã chiến thắng cuộc chiến Việt Nam chỉ trong vòng một tuần. Một tuần!
31 Tháng Mười 2026(Xem: 1879)
Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986. Dựa trên các công trình nghiên cứu về kinh tế chính trị Việt Nam, cùng những số liệu về tăng trưởng, phân phối thu nhập và tập trung tài sản, bài viết phân tích sự tương phản giữa thành tựu phát triển kinh tế và tình trạng phân phối không đồng đều những thành quả ấy. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh rằng bất bình đẳng kinh tế, tự nó, chưa đủ để chứng minh sự tồn tại hoặc tác động của một giai cấp đặc quyền chính trị. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát mối quan hệ giữa quyền lực công và lợi ích tư, đặc biệt qua hiện tượng tư bản đỏ bè cánh (red crony capitalism), đồng thời đặt ra những vấn đề về tính minh bạch thể chế và trách nhiệm giải trình trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 7993)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 16972)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 34365)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 40039)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 3978)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 14938)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 983)
Có những chuyện tưởng đã khép lại theo thời gian, nhưng càng nhìn kỹ, người ta càng thấy chưa thể bỏ qua. Nhạc sĩ Phú Quang đã qua đời. Những tình khúc của ông vẫn tiếp tục được trình diễn, phát hành và khai thác trên các nền tảng âm nhạc. Người yêu nhạc vẫn nhớ ông qua những giai điệu trữ tình, sâu lắng. Nhưng có một câu chuyện liên quan đến ca khúc Đâu phải bởi mùa thu mà tôi nghĩ chúng ta cần nhắc lại. Bởi vì đôi khi, người đã khuất vẫn có thể bị mang tiếng thay cho những người đang sống.
(Xem: 1784)
Có những bài thơ không cần cất cao tiếng nói, bởi chính sự lặng lẽ của chúng đã đủ làm lòng người đau nhói. Đầy Tháng Con của Thành Tôn đưa chúng ta trở về một Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh 1954–1975, nơi một đứa trẻ vừa chào đời, người cha đã ở phương xa trong cuộc chiến. Tiếng khóc đầu đời hòa lẫn với tiếng súng, tiếng kêu đau đớn của những người bị thương và tiếng khóc của những người mẹ, người bà tiễn biệt người thân.
(Xem: 8586)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 13508)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 12933)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
28 Tháng Mười 202612:41 SA(Xem: 2315)
PHÂN ƯU Vô cùng thương tiếc khi được tin / Nhà văn TRIỆU VŨ / tên thật VŨ NGỰ TRIỆU Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ. Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi.
27 Tháng Mười 202610:38 CH(Xem: 1981)
Nhận được tin buồn Phu quân của bà Lê Thị Nguyệt Minh Cụ ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ.
27 Tháng Mười 20266:25 CH(Xem: 2546)
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần Our family is deeply saddened to announce to all relatives and friends, near and far, the passing of our beloved: Cụ Ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Chồng, Cha, Anh, Ông Nội, Ông Ngoại của chúng tôi – Husband, Father, Brother, Grandfather. Sinh ngày: 15 tháng 11 năm 1939 tại Phụng Viện Thượng, Bình Giang, Hải Dương, Việt Nam – Born: November 15, 1939 Đã từ trần, ngày 25 tháng 10 năm 2026, tại Houston, TX – Passed away on October 25, 2026 Nhằm ngày 16 tháng 9 năm Bính Ngọ Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi – At the age of 87