- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

C Ó N H Ữ N G B À I C A … N Ợ … T Ì N H

28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1384)

     

co nhưng bai ca- trieu vu (5)
Chân dung tác giả TRIỆU VŨ



Triệu Vũ

CÓ NHỮNG BÀI CA… NỢ… TÌNH

 

 

 

Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nhèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…

Xa lắm rồi, tôi vẫn nhớ, cuối năm 1954, rời bỏ quê hương miền Bắc, theo đoàn người di cư vào Nam, gia đình tôi dừng chân tạm cư ở Đà-Nẵng và tôi ghi danh học lớp Đệ Tứ (lớp 9) tại trường Phan-Thanh-Giản niên khóa 1955-1956. Phan-Thanh-Giản là một tư thục, mới xây cất, khang trang nhất thị xã Đà-Nẵng thời đó. Đây là năm cuối cùng, tôi được học nhạc và nhạc sĩ Phạm-Thế-Mỹ chính là giáo sư phụ trách môn học này. Đã ba phần tư thế kỷ trôi qua, một thời khoảng khá dài, bây giờ tôi thực sự nhận ra mình không có một chút vốn liếng nào về môn học “phụ” này và những gì gọi là âm nhạc mà tôi tiếp thu được, suốt bốn niên học, chỉ mỗi tuần một tiếng đồng hồ (thực tế thì ít hơn), đã chắp cánh bay đi, hay nói khác hơn, với ý nghĩa hoang phí, vô tình và nuối tiếc là: chữ thầy trả thầy.

Có người bảo rằng tôi, cũng như bao người cùng trang lứa, đã sanh không đúng thời, không đúng lúc; một cách văn hoa mà cay đắng, cộng thêm một chút than thở là: lứa tuổi của chúng tôi đã sanh lầm thế kỷ”. Con đường dẫn tôi vào đời hình như không rực rỡ, ngập nắng vàng ban mai; không có những nụ tầm xuân hay bông hồng tươi thắm, đong đưa ngả nghiêng, lả lơi chào đón. Lứa tuổi chúng tôi ra đời vào lúc khởi diễn cuộc thế chiến thứ hai, cho nên bị cuốn hút theo dòng lịch sử của đất nước, nhiều biến động, nhiều tang thương trong bối cảnh rực lửa chiến tranh.

 Cuộc đời tôi, nổi trôi bồng bềnh theo vận nước, thấm thoắt đã 87 năm. Rời làng quê từ nhỏ, tôi không còn được nghe tiếng sáo diều vi vu trong những chiều lộng gió, không còn được nhìn thấy những em bé miền quê ngồi thổi sáo trên lưng trâu, khi hoàng hôn buông xuống, chậm rãi nối đuôi nhau, dọc con đê dài dẫn vào làng. Đặc biệt, tôi vẫn không quên thảm cảnh khinh hoàng của nạn đói năm Ất Dậu (1945). Ngày ấy, thuở ấu thơ, mới năm, sáu tuổi, tôi đã nhìn tận mắt, trên đường quê và dọc con phố huyện Bình-Giang, tỉnh Hải-Dương, những xác người chết vì đói ăn; thi thể rắc vôi bột màu trắng, có tấm chiếu cói đắp lên trên. Tiếp đến là phải chạy giặc Tây càn (lính Tây đi hành quân); rồi tản cư, rồi hồi cư về thị xã Hải-Dương năm1947. Năm1948, theo cha mẹ về lánh nạn tại huyện Cẩm-Giàng, và năm sau, 1949, trở lại thị xã Hải-Dương. Chưa yên, mùa hè năm 1951, tôi chỉ là cậu bé 11 tuổi, phải xa gia đình, rời Hải-Dương lên Hà-Nội trọ học. Thời gian tuy lùi xa rồi, tôi vẫn không quên, căn nhà tôi trọ học ở cuối phố Phạm-Hồng-Thái, khu Cửa Bắc, gần hồ Trúc-Bạch, gần Ngũ-Xã, gần chợ Châu-Long. Ở đây, tuy được đối xử rất tốt, coi như người thân trong gia đình, nhưng lòng tôi vẫn hướng về thị xã Hải-Dương.Và từ đó tôi mới hiểu, mới thấm được thế nào là “nhớ nhà”...


Ít năm sau, Hiệp-Định Geneve 20-7-1954 ra đời, đất nước chia đôi, tôi phải rời Hà-Nội về Hải-Dương để cùng Bố Mẹ và các em di cư vào phía Nam vĩ tuyến 17. Từ cuối năm 1954, gia đình tôi tạm cư ở Đà-Nẵng và mùa hè năm 1956, lại di chuyển vào Saigon-Gia Định. Không biết trên lá số tử vi của tôi, có gì đặc biệt, sao cứ long đong chuyển dịch? Đã xa quá rồi, xa cả ngàn cây số, đất Bắc quê hương bốn mùa bỏ lại. Vùng đất mới miền Nam, mưa nắng hai mùa, đầy ắp thân thương tình người. Tôi sống hồn nhiên, vô tư rạng rỡ trên nét mặt; tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống trước ngưỡng cửa vào đời…

        Rồi thời gian cứ vô tình, âm thầm trôi và do…duyên trời đã định, tôi gặp người con gái xứ Đoài. Đúng rồi! Tôi đã gặp được người “Em ở thành Sơn ..”! Tôi thầm cám ơn nhà thơ Quang-Dũng. Tôi cũng thầm cám ơn người nhạc sĩ tài hoa phổ thơ của ông và tôi không quên tạ ơn Ông Tơ & Bà Nguyệt cho chúng tôi “được” làm Lễ Tơ Hồng….

        Sống đời tự do yên bình chưa được bao lâu, chỉ it năm sau, khói lửa chiến tranh lan tràn khắp nẻo đường đất nước. Vì nhu cầu chiến trường, tôi cũng như hàng ngàn, hàng vạn thanh niên phải lên đường nhập ngũ. Không khí chiến tranh phủ khắp non sông. Những tiếng nổ ì ầm của bom đạn vang vọng khắp nơi. Suốt mười mấy năm lửa khói binh đao, đã có biết bao người nằm xuống. Mộ phần như nấm, đầy kín nghĩa trang. Cả vạn người tàn phế, một gánh nặng của xã hội. Thời gian cứ trôi. Tang thương vẫn bao trùm đất nước. Người ta thấy được, nghe được những thảm cảnh đau lòng, xảy ra hàng ngày. Ai cũng hiểu, cũng biết, hòa bình là nỗi khát vọng của mọi người. Và rồi cuộc chiến đã kết thúc bằng văn bản. Hiệp định Paris 27-1-1973 ra đời. Đó là sản phẩm của hội nghị kéo dài nhiều năm tại kinh thành ánh sáng Paris, thủ đô nước Pháp. Bất hạnh thay, văn kiện ấy, có đầy đủ chữ ký của các cường quốc, nhưng có nhiều điều khoản hoàn toàn bất lợi cho Việt-Nam Cộng-Hòa. Do vậy, chiến tranh chấm dứt nhưng khổ lụy của dân Việt còn kéo dài, với mất mát, chia ly, nước mắt đau thương, thù hận chưa nguôi! Hòa bình đến với dân Việt chỉ có trên văn bản, giấy tờ; thực tế bom đạn vẫn ì ầm, thây người vẫn ngã xuống trong rừng sâu, ngoài biển cả, giữa khe núi. Nhiều người bỏ nước ra đi, chấp nhận làm mồi cho cá biển và thú dữ còn hơn là phải sống trong tủi nhục, phân biệt đối xử. Cũng không có gì là quá đáng khi bảo rằng “Trận Chiến Chưa Tàn”, như tựa đề một tác phẩm của nhà văn Nguyên-Vũ. Biết bao người chỉ biết ngậm ngùi than thầm: Đó là vận nước!

 Có nhiều khi, hồi tưởng thưở xa xưa, lần về quá khứ; từ lúc còn thơ dại, tôi đã thấm những lời ru của Mẹ, đưa tôi vào giấc ngủ. Lớn một chút, những câu ca dao, những vần thơ trữ tình, lãng mạn, tôi đã được học, được nghe, được đọc, tới nay còn in đậm trong tâm trí. Tiếc thay, tôi đã không đủ ngôn từ, không đủ khả năng diễn đạt những cảm xúc, suy tư. Không những “dốt”về nhạc, tôi còn không biết làm thơ. Tuy thế, thỉnh thoảng, lúc cao hứng, tâm hồn thư thái bay bổng, tôi cũng nghêu ngao “rên rỉ” một vài dòng của một bản nhạc nào đó hoặc ngân nga, ngâm mấy câu thơ, còn lưu trong trí thuở cắp sách đến trường. Dĩ nhiên chỉ “trình bầy” đủ cho mình tôi nghe…trong phòng kín. Chỉ có thế thôi, vậy mà, đôi lúc tôi thầm nghĩ và tự đánh giá: Hình như tôi có “tâm hồn nghệ sĩ”!? Trời! Xấu hổ quá! Thực không biết lượng sức mình!

Theo dòng thời gian, suốt chiều dài 87 năm đường đời, tôi có nhiều cơ duyên tao ngộ, tâm tình với nhiều nhà thơ, có tên và có tuổi. Nhưng trong lãnh vực âm nhạc, tôi ít có cơ hội gặp gỡ, hoặc quen biết giới nhạc sĩ. Đã lâu rồi, đã hơn 60 năm trước, khi còn sống ở quê nhà, tôi chỉ quen biết hai nhạc sĩ Hoàng-Nguyên và  Song-Ngọc. Anh Hoàng-Nguyên, cùng bị động viên theo học khóa 19 Sĩ Quan Trừ-Bị, chung một trung đội và ở chung một phòng. Anh tên là Cao-Cự-Phúc. Anh đã qua đời năm 1973 ở Việt-Nam. Bản nhạc “Sao Em Không Đến”, Hoàng-Nguyên sáng tác đầu năm 1965, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ-Binh Thủ-Đức. Anh trao cho Sinh-Viên Sĩ-Quan cùng phòng tên Minh-Mẫn, trình bày lần đầu trên sân khấu, tại Hội-Trường rộng lớn của Trường Bộ-Binh. Nhạc Hoàng-Nguyên được nhiều người hâm mộ, đặc biệt, những nhạc phẩm gợi nhớ xứ hoa đào. Riêng Anh Song-Ngọc, cùng học một khóa chuyên môn với tôi ở Đà-Lạt năm 1973, xếp chung một nhóm. Mãn khóa học, trước khi về đơn vị, Song-Ngọc khoe với chúng tôi vừa hoàn tất nhạc phẩm “Tình Yêu Như Bóng Mây”, diễn tả tâm trạng của người sắp giã từ Đà-Lạt. Song-Ngọc tên thực là Trần-Văn-Thưởng, cũng đã từ trần năm 2018 tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Trong kho tàng âm nhạc Việt, có nhiều sáng tác của Song-Ngọc, của Hoàng-Nguyên, đa dạng và phổ biến rộng rãi, nhiều người yêu thích.

Người đời thường bảo nghệ sĩ nói chung, nhạc sĩ nói riêng, tâm hồn đa sầu đa cảm và đặc biệt “đa tình”. Không ai biết trái tim nhạc sĩ có bao nhiêu ngăn và dung lượng có đủ để đong đầy những trái tim yêu thương? Nhưng phải thành thực công nhận, não bộ của nhạc sĩ rất bén nhạy và trí tưởng tượng của nhạc sĩ rất phong phú. Chỉ một cánh hoa bay bay, chỉ một chiếc lá lìa cành cuốn theo chiều gió, chỉ một gợn mây lơ lửng ngang trời; có khi chỉ một ánh mắt, một vạt áo tung bay v. v. cũng là những nguồn cảm hứng tuyệt vời để nhà soạn nhạc kết hợp âm thanh với ca từ, đưa tâm hồn người thưởng thức bay bổng, mơ màng, cảm xúc dâng trào. Nhà soạn nhạc còn chắp cánh cho những vần thơ vươn lên cao, lên cao đến nỗi đôi khi tác giả của những vần thơ thấy ngỡ ngàng, chưa từng mơ ước. Cùng nghe một bản nhạc, không phải cùng chung một cảm nghĩ, cùng một cung bậc cảm xúc. Người ta bảo đó là tùy trình độ thẩm âm hoặc tùy tâm trạng của người thưởng ngoạn. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến Cụ Nguyễn-Du, đã diễn tả tuyệt vời cảm xúc của Kim-Trọng khi nghe tiếng đàn của Thúy-Kiều : “Khi tựa gối, khi cúi đầu; khi vò chín khúc, khi chau đôi mày ..”

Một kỷ niệm đã xa rồi nhưng tôi vẫn không quên; hơn năm mươi năm trước đây, trong buổi hội thảo nơi giảng đường của một trường Đại-Học Quân Sự ở Đà-Lạt, có sự tham dự của nhiều nhân vật cao cấp. Nhà thơ nổi tiếng của miền Nam, Tô.K.Ng, từng là thành viên của chương trình ngâm thơ trên đài phát thanh Saigon năm nào, cấp bậc Thiếu-Tá, điều hợp sinh hoạt. Nhà thơ ấy đề nghị tôi nói đôi điều về chủ đề: cổ vũ, tác động tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Dĩ nhiên, để tránh hiểu lầm, tránh ngộ nhận, lời nói đầu tiên là khen ngợi, ca tụng những nỗ lực của phần vụ chuyên trách lãnh vực này. Tuy nhiên, tôi, mạnh dạn đưa ra, nêu lên những suy nghĩ của cá nhân tôi về lời ca của một số nhạc phẩm; và đề nghị giới chức thẩm quyền cần phải duyệt xét lại trước khi phổ biến rộng rãi trên những cơ quan truyền thông. Theo tôi, thực tế, có những bản nhạc, lời ca giọng điệu căm hờn, sắt máu; chỉ có chém giết và chém giết, rồi vươn lên nhà máy với công trường v.v. nghe phảng phất đâu đây không  phải và không phù hợp với chính sách nhân bản và chính nghĩa của quân dân miền Nam. Đừng quên chúng ta luôn mở rộng vòng tay và chủ trương “ Đem đại-nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân thay cường bạo ”.Tôi cũng đã nêu ý kiến cá nhân tôi và tha thiết đề nghị: không phổ biến rộng rãi những nhạc phẩm mang nội dung làm chiến sĩ mềm lòng hay nhụt chí, trước khi lên đường vào nơi lửa đạn. Làm gì còn hăng say, làm gì còn hùng khí, quyết tâm ra chiến trường giết giặc lập công, khi trong tim trong óc còn vang vọng những tâm sự của người yêu lúc chia tay, lúc giã từ; và còn mang theo hình ảnh người yêu, quấn khăn tang trắng, gục đầu bên chiếc quan tài phủ quốc kỳ. Các chiến binh oai hùng liệu có an lòng khi người yêu rưng rưng ngấn lệ trước giờ chia tay: “Em hỏi anh…bao giờ trở lại ..Anh trở về trên đôi nạng gỗ”  “Anh …trở về có khi là hòm gỗ cài hoa …” Tôi nói nhiều, nhưng thời gian đã quá xa, nên không nhớ hết. Đã có rất nhiều ý kiến về những bản nhạc có ca từ thuộc dạng này. Người thì cho là phản chiến, người thì cứng rắn nghiêm khắc hơn, cho là “đâm sau lưng chiến sĩ”. Riêng tôi, hôm ấy chỉ nêu lên suy nghĩ cá nhân là có những bản nhạc chỉ nên hát cho nhau nghe, trong chỗ riêng tư; không nên phổ biến rộng rãi, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Những phát biểu của tôi hôm ấy, hoàn toàn chỉ là thành ý, nhưng hình như quan khách tham dự và đặc biệt, các nhân viên của khối Chiến-Tranh Chính-Trị nhìn tôi với ánh mắt khác thường. Đó là những kỷ niệm của thời xa xưa, cách nay trên bảy chục năm…

 Thế rồi, vật đổi sao dời, dòng đời cứ trôi. Gia đình tôi cũng trôi giạt đến một đất nước xa lạ, nằm bên bờ đông biển Thái-Bình, cách xa quê hương nửa vòng trái đất. Sau hơn ba mươi năm định cư nơi xứ người, nay ở độ tuổi người ta gọi là xế chiều hay hoàng hôn gì đó và chuyện chiến tranh, chuyện đời quân ngũ, đối với tôi chỉ còn nằm trong ký ức. Hôm nay, trong căn phòng khách nhỏ, bình thường như mọi ngày, tôi tựa lưng vào chiếc ghế da, để đầu óc thư giãn, tâm hồn lắng xuống, yên vui tuổi già. Thực bất ngờ, từ máy thu hình mỏng treo trên tường đối diện, vang lên tiếng hát của một nữ ca sĩ, hoàn toàn không vương mùi thuốc súng, không vang vọng tiếng đạn pháo ì ầm, mà đang nức nở, nghẹn ngào, có thể nói là “nhói buốt” con tim. Lời ca phổ từ một bài thơ ngắn phản ảnh tâm sự của hai người yêu nhau mà không được chung sống bên nhau. Họ có duyên mà không có nợ, nên khi chia xa đã kêu gào thảm thiết. Thơ hòa quyện trong nhạc. Lòng tôi chùng xuống, mơ màng, đưa trí tưởng nhớ lại một câu chuyện tình thưở xa xưa, không phải của cá nhân tôi…

-“Ông lại uống lộn thuốc nữa rồi à?” Giật mình, tôi ngơ ngác. Người bạn đời, tay cầm ly cà phê tỏa hương thơm đang ngồi kế bên. Chưa kịp trả lời, nàng tiếp :

-“Hôm trước, Ông ngân nga thơ phú gì đó; hết văn, đến thơ, giờ lại tới nhạc. Sao Ông nhiều chuyện quá!? Thế Ông còn nợ ai vậy?” Không đợi tôi trả lời, nàng trao ly cà phê cho tôi và tiếp:

-“Ông uống cà phê trước đã, rồi trả nợ sau nhé!” Tôi hơi bối rối, đón ly cà phê uống một chút để lấy lại bình tĩnh và chậm rãi, nhẹ nhàng phân trần với người bạn đời: bản nhạc vừa nghe qua máy thu hình, làm tôi nhớ đến câu chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B, một Sĩ-Quan cộng sự của tôi và cô hàng sách Th-L ngày nào…

Ngày xưa ấy, đơn vị tôi, đồn trú cách Saigon gần 60 km về phía Bắc; cứ mỗi độ Xuân về, có đoàn nữ sinh thủ đô lên thăm. Sự kiện sinh hoạt này nằm trong kế hoạch lớn của cấp trên. Tôi giao Sĩ quan phụ tá, kiêm Chiến-Tranh-Chính-Trị, Đại-Úy Huỳnh-Khắc-B. lo liên lạc, chuẩn bị từ phương tiện đưa đón đến ẩm thực, nơi nghỉ ngơi, địa điểm giao lưu hội ngộ v.v Không ai phủ nhận được, những chuyến viếng thăm tiền đồn, nơi đóng quân, hay những cánh thư của em gái hậu phương đã có những tác động đáng kể đến tinh thần quân sĩ. Phải chứng kiến niềm hân hoan gặp gỡ hay lúc bịn rịn, lưu luyến khi chia tay, mới thấm được, mới hiểu được tình người chiến sĩ tiền tuyến và các em gái hậu phương. Những tà áo dài của các em nữ sinh, xen lẫn những bộ áo trận bạc màu, tựa như những cánh bướm trong vườn cây xanh lá. Những nụ cười hồn nhiên, những tiếng hát vang vang, kết hợp tiếng vỗ tay nhịp nhàng làm bầu không khí rộn ràng, vui tươi, thắm đượm tình quân dân. Có những ánh mắt trao nhau trìu mến; có những cánh tay vững chắc, bàn tay xạm nắng nâng niu ngón tay thon gọn, ngọc ngà …Tiếc quá! Tôi không phải nhà thơ, nhà văn nên không biết diễn tả sao cho hết ý nghĩa của khoảnh khắc hội ngộ đáng nhớ ấy, giữa người lính tiền tuyến xa xôi và các em gái hậu phương. Người ta ghi nhận đã có nhiều mối tình, mối lương duyên phát sinh từ những buổi gặp gỡ ủy lạo chiến sĩ, những chuyến viếng thăm tiền đồn…

 Thời đó, tình trạng chiến tranh, vì nhu cầu chiến trường, biết bao nhân tài, tinh hoa đất nước, phải lên đường nhập ngũ. Cũng không ngạc nhiên khi các em nữ sinh dễ thương, duyên dáng, đón nhận …tình yêu của những sĩ quan trẻ. Huỳnh-Khắc-B, người Sĩ-Quan phụ tá của tôi, vừa được thăng cấp Đại-Úy. Trước khi nhập ngũ, B. từng làm việc ở Bộ Thông-Tin, nay tuổi đời chưa tới ba mươi, còn độc thân, người cũng “dễ coi”..

 Vào buổi sáng đầu Xuân năm ấy, tay cầm một bìa cứng trong có nhiều giấy tờ, B. lên văn phòng tôi và trình bày muốn lập hồ sơ kết hôn. Người yêu của B. tên Th-L, là cựu nữ sinh trường áo tím Gia-Long ở Saigon. Th-L gặp Đại-Úy B. trong chuyến viếng thăm đơn vị tôi trước đây và đã “phải lòng” nhau. Người ta thường nói “Con tim có lý lẽ riêng cuả nó”! B. cho biết: Sau khi học hết trung học, Th-L phụ gia đình trông coi tiệm sách ở trung tâm thành phố Saigon. Biết bao chàng trai trẻ ghé qua mua sách, còn được ngắm “cô hàng sách” duyên dáng, thân thiện. Sợ mất người yêu, B.lo thủ tục kết hôn gấp.Tôi duyệt hồ sơ và chỉ thị chuyển ngay lên phòng An-Ninh Quân-Đội. Hồ sơ kết hôn chỉ còn chờ giấy xác nhận điều chuẩn an ninh gủi về thì ngày 30 tháng Tư ập đến. Và rồi, như sét đánh ngang tai, Tổng-Tư-Lệnh quân đội ra lệnh: Buông súng đầu hàng! B. buông súng và rời đơn vị. Trên đường tìm về Saigon, B. bị chặn lại, đưa đi ... tù, rồi bị đày ra miền Bắc, không kịp chia tay người yêu. Suốt tám năm tù đày, không nhận tin tức gì về Th-L, kể cả hung tin. Khi được phóng thích, B. đi tìm lại người yêu. Than ôi… cửa hàng sách xưa kia, nay là cửa hàng kim khí điện máy và cô hàng sách không biết trôi giạt phương trời nào. Thành phố thủ đô trước đây đã thay đổi quá nhiều!  Các tiệm bán sách và dụng cụ văn phòng thân thương ngày xưa, các quầy bán sách báo, băng nhạc dọc theo đại lộ náo nhiệt giữa Saigon, sau 1975 không còn nữa. Cả thành phố, nay chỉ có một vài nơi bán sách báo, mang bảng hiệu mới:

Trung tâm phát hành sách. Người ta kể lại sau 1975, nhiều cư dân Saigon phải đi tái định cư, lao động sản xuất ở vùng sâu, vùng xa. Căn nhà Th-L ở ngày xưa, nay là trụ sở đồn Công-An nên B chỉ đi ngang qua mà không dám ghé vào dò thăm tin tức. Người cựu tù B.đã tìm Th-L khắp nơi. Từ những con đường ở trung tâm Saigon, B. đã lê bước chân đến vùng xa xôi gọi là “Khu kinh tế mới”. Từ Đồng-Ban Tây-Ninh đến Đồng-Hiệp, Phương-Lâm, Định-Quán, qua Long-Khánh, Xuân-Lộc v.v  nhưng không có được một tin tức nào!

Những ngày còn vất vả, long đong nơi quê nhà, vài lần, B. ghé thăm gia đình tôi và cho biết vẫn chưa có tin tức gì của Th-L. Cuối thập niên 1980, chương trình định cư các cựu tù ra đời, B. chần chừ, không lập hồ sơ ngay, muốn kéo dài thời gian ở lại quê nhà để tiếp tục đi tìm người yêu. Gia đình tôi rời Việt-Nam, định cư tại Hoa-Kỳ từ mùa Xuân năm 1990, thoắt đã 36 năm; không biết giờ này B. có tìm được và đã trả được nợ tình cho cô hàng sách dễ thương Th-L chưa ?

Nghe tôi kể lại chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B. và cô hàng sách, người bạn đời buông tiếng thở dài, cảm thương cho số phận của bao đôi tình nhân, vì hoàn cảnh đất nước mà không được chung đường chung lối. Âu cũng là Ý Trời! Họ có duyên gặp gỡ, nhưng tiếc thay không có cơ hội để trả nợ… tình cho nhau; trong lòng họ còn nhiều tiếc nuối, còn nhiều kỷ niệm đẹp của cuộc tình dang dở, không trọn vẹn…Bởi thế, đã vang vọng những lời kêu gào thảm thiết, ai oán, thổn thức con tim, Tôi thầm cám ơn Trời Phật, đã phù hộ tôi sáng suốt, tỉnh táo, chừng mực và may mắn không mang món nợ nào, kể cả nợ tình. Tuy vậy, tôi không thể nào quên, có một thời xa xưa lắm, sau ngày đau buồn cuối tháng Tư năm ấy, ai đó đã áp đặt cho chúng tôi, những cựu Sĩ-Quan miền Nam, đi trình diện để tù cải tạo, không phải vì lý do đã mang món “nợ tình” nào đó, mà vì có “nợ máu” với .. ? Thực bó tay!

Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, người đẹp và tình yêu có lẽ là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng tuyệt vời, vô tận, lan tỏa trong mọi lãnh vực sáng tác của nghệ sĩ. Riêng trong kho tàng âm nhạc Việt, chắc chắn rằng rất nhiều người đã từng nghe những bản nhạc “Cô hàng nước”, “Cô hàng cà phê”, “Cô láng giềng”, “Cô hái mơ”, “Cô hàng xóm”, “Cô lái đò”; nhưng không biết có ai đã nghe nhạc phẩm nào nhắc đến ngày xưa, có một cô em tươi trẻ, duyên dáng, thân thiện bán sách báo giữa lòng thành phố Saigon không nhỉ? Biết đâu chừng, có thể lắm, trong tương lai, một bài ca có tựa đề “Cô hàng sách” ra đời, làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc Việt-Nam.

 

TRIỆU  VŨ  ( 23-02-2026 ) 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 637)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 446)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 528)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 527)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 412)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 475)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1630)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1349)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1886)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2401)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7685)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14913)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13685)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14169)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 446)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 412)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1884)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 2064)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
(Xem: 1384)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2401)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1688)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2296)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 528)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 527)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 475)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1630)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 636)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1344)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1420)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2081)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10317)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26835)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33346)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33384)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8095)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10429)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1884)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3434)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3386)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3242)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3577)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 5104)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4563)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5956)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.