- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tĩnh Lặng Một Người Và Gió

03 Tháng Mười Một 20253:42 CH(Xem: 14740)
tranh LE MINH PHONG- 11
tranh LÊ MINH PHONG

 

 

Đào Duy Anh

NHỮNG LINH HỒN BIẾT YÊU KHÔNG CẦN NƠI Ở


Chúng ta – những linh hồn phiêu lạc / đi tìm mái nhà trong tiếng thở của nhau
Em tựa đầu vào tôi / như thể muốn trú ngụ tạm thời / và tôi – kẻ không có quê hương – dang tay ra như một chỗ ở mong manh

Tình yêu là hành trình / không phải đích đến / chỉ có những ngọn lửa soi sáng cho đến khi chính nó tàn / chúng ta hứa sẽ không rời bỏ / nhưng chính thời gian đã phản bội / khi buộc mọi ngọn lửa phải nguội lạnh, để còn lại tro

Em đi rồi / tôi vẫn ngồi / như một linh hồn giữ chỗ / tôi biết / mọi cuộc yêu đều chỉ là ngụ cư của bản thể / mỗi nụ hôn – một bản hợp đồng ngắn hạn với sự cô đơn / và khi hết hạn / ta trở lại với chính mình, trần trụi và vô ngôn

===

Đào Duy Anh

Tĩnh Lặng Một Người Và Gió

 

có một người không nói, mà hoa cười

không bước đi, mà gió cũng theo về

không hẹn trước, mà chiều như đã đợi

một bóng hình đằm thắm giữa cơn mê.

 

góc hồ ấy, mây trôi qua không vướng

nước lặng thầm, sóng cũng biết im hơi

người ngồi đó như hương xưa chậm bước

gieo xuống đời… một lặng lẽ chơi vơi

 

không cần tiếng — chiều thôi đành nín lặng

chỉ ánh nhìn trầm mặc nói nên thơ

có lẽ gió cũng quên mình từng lặng

để ru êm một áo mỏng bơ vơ.

 

 

Đào Duy Anh
EM TRẦN GIAN LẠI


đêm ngồi lên bậu cửa
sơn lại nỗi buồn bằng màu em từng dùng cho móng tay
bản nhạc cũ không còn ngân nữa
chỉ là thôi khóc trước gối nằm khâu vụng

có gì còn lại sau một lần vẫy tay
cơn gió có thật không? hay một nếp gấp cảm xúc
em vươn tay tìm giấc mơ –
mà sáng nay nó đã kịp uống hết ly cà phê rồi đi mất

đừng đổ lỗi cho im lặng
chỉ là đang giữ lại chút gì chưa sẵn sàng hóa thành tiếng
và đôi môi – cũ kỹ như một con tem dán ngược –
giữ lại bản tình ca chưa gửi

em biết
bàn tay không thể che nổi giấc ngủ có gió giật
nhưng trong nỗi ngơ ngác đó
cánh đồng vẫn âm thầm mọc xanh –
sau câu kinh anh đọc

em trần gian lại
===

Đào Duy Anh
LỜI XƯNG TỘI CỦA THÂN XÁC

 

em đã đến
trong căn phòng không có ánh sáng
nơi chiếc giường là bàn thờ bị quên lãng
và thân thể em – một con chiên đã mất đức tin
run lên như một lời cầu nguyện không còn Thần để lắng nghe

người đàn ông đó
không phải là tình yêu
anh ta là bàn tay cuối cùng của nhân loại
lần mò qua bóng tối để tìm một nhịp tim còn sót lại
chúng tôi không yêu nhau
chúng tôi thẩm vấn nhau bằng khoái cảm

anh ta hỏi:
– em còn tin vào sự cứu rỗi không
em thì thầm:
– nếu còn, chắc nó đã nằm giữa hai chân em
anh ta bật cười
rồi khóc
rồi tan vào trong em
như một thánh lễ cuối cùng mà không ai đến dự

em nằm lại
một mình
giữa những tàn tích ẩm ướt của thân thể
chẳng có gì cứu chuộc được em
ngoài nỗi đau được nâng niu bởi chính nó
em sờ vào ngực mình –
chỗ đó từng có tim
giờ là ổ gió lạnh không tên

em gọi tên em –
em gào lên bằng tất cả những ngôn ngữ em từng học
và nhận ra:
ngôn ngữ cũng là một cái xác chết chưa được chôn

Thượng đế im lặng
tình yêu câm lặng
chỉ còn dục vọng – vẫn gào thét như một con thú không học được lời

em hiểu rồi:
chúng ta không cần tình yêu
chúng ta chỉ cần một ai đó chịu cắt sâu hơn cơn đói của linh hồn

===


Đào Duy Anh

Cơn Mê Giữa Hai Cặp Đùi

Anh vào em —
như một kẻ hành hương cuối cùng
gục ngã bên cổng đền đã đóng.
Không thắp nến.

Không quỳ.
Chỉ trượt xuống như một lời cầu nguyện
không bao giờ được gửi đi.

Thân thể em — vùng đất không còn thánh thần cư trú
mọc lên cỏ hoang, những vết sẹo,
và những câu thơ đã bị thiêu
trong giấc mơ ẩm thấp

Đùi em mở ra như hai cánh cổng địa ngục
và anh không sợ —
vì anh đã chết từ lâu
trong từng cái chạm

Lưỡi anh lê lên em
như dải lụa đen quấn quanh cổ một thánh nữ đang sắp sửa rên rỉ.
Anh tìm ngôn ngữ
không phải trong sách
mà trong nơi mà tất cả các triết gia đã thất bại:
" hơi thở giữa hai đùi em."

Ngón tay anh — là loài rắn chưa từng bị trục xuất
bò dọc theo lịch sử của dục vọng,
chạm vào nơi mà Eva từng cắn trái cấm
và không bao giờ tha thứ cho chính mình.

Cơn cực khoái đến
không như lũ, không như sét
mà như vết rạn từ trong thớ thịt Chúa
nơi ngài từng là người, từng yêu, và từng bật khóc.

Em cào anh
rạch lên lưng những dòng máu
như thể viết lại Kinh Cựu Ước bằng móng tay và thịt da.
Mỗi dòng chảy ra
là một lời: “hãy tha thứ cho tình yêu vì nó quá thật.”

Chúng ta cuộn lại trong nhau
như hai xác chết muốn tái sinh trong cùng một hình hài
hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng
nơi cả thơ lẫn tiếng rên đều bị bóp chết trong một khoảnh khắc của cơn co thắt cuối cùng.

Chúng ta làm tình
không phải để sống sót
mà để xác nhận mình đã từng tồn tại
trong một thế giới mà mọi tình yêu đều bị đóng dấu tội lỗi.

===

Đào Duy Anh

TỔ TÔNG VÀ BẢN ÁN CỦA DA THỊT


Chúng ta chưa bao giờ rời khỏi Eden
chúng ta mang Eden theo mình –
trong xương chậu, trong cổ họng, trong mỗi cơn co rút đau đớn sau cực khoái

Tội tổ tông không phải là ăn trái cấm
mà là tin vào tình yêu
mà là trao linh hồn cho một thân thể khác, rồi không đòi lại được

Tôi đã yêu – như một kẻ đạo chích
lẻn vào thân thể anh như vào một thánh đường bỏ hoang
tôi hôn lên miệng anh như hôn lên vết thương của Chúa
và tôi tin – sai lầm – rằng tình dục có thể cứu chuộc tôi khỏi cô đơn

Không có gì xảy ra.
Anh ngủ.
Tôi nằm bên, mở to mắt nhìn trần nhà như một vòm trời mù
và tôi biết – thân thể tôi vừa bị kết án
vừa là nạn nhân
vừa là hung thủ
vừa là tang chứng

Không có luật nào cứu tôi
không có thần linh nào bảo vệ
vì tình yêu không có tòa án
chỉ có hoang mạc

===

Đào Duy Anh

NGÔN NGỮ SAU KHI THÂN THỂ TAN RÃ


Em đã cởi hết.
Không chỉ áo, quần, vú, mông, rốn.
Mà cả tên gọi.
Cả tuổi thơ.
Cả những trang kinh đã nhàu trong trí nhớ.

Em nằm xuống như một bài thơ bị kiểm duyệt
không có vần
không có phép tu từ
chỉ còn tiếng thở và nhịp tim –
gõ vào cõi tồn sinh như một điệu nhạc nguyên thủy

Anh bước vào em, không phải như người yêu
mà như nhà khảo cổ
đào bới từng lớp trầm tích của những cơn hiến dâng thất bại
tìm kiếm trong em một tín hiệu nào đó còn sót lại của niềm tin
hay ít ra – là một tiếng gào thét chưa kịp phát ra

Em nói:
“Làm đi. Đừng dịu dàng. Đừng tôn kính. Đừng nghĩ đây là tình yêu.
Hãy nghĩ đây là nghi lễ cuối cùng –
nơi ta hiến xác cho một đức tin không bao giờ có tên.”

Anh không trả lời.
Bởi vì tình yêu đã câm.
Tình dục đã câm.
Chỉ còn thân thể như một bản văn không ai hiểu
và chúng ta đọc nhau bằng lưỡi, bằng móng tay, bằng sự khát

Đêm ấy.
Chúng ta làm nghi thức.
Một nghi thức của hai con người mất gốc, không còn tín ngưỡng
chỉ còn nỗi buồn sâu như thánh mộ
nơi mỗi cái chạm là một tiếng chuông báo tử

Anh vào em – không phải để cư ngụ
mà để chết thử
để biết sau khi tận cùng lạc thú
có gì còn sót lại

Không có gì.
Chỉ là trắng
Và tiếng khóc lặng thinh trong đáy chậu.

== =

Đào Duy Anh

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐI NHẶT MẶT TRĂNG

người đàn ông đi nhặt mặt trăng / trên con đường cũ phủ rêu buồn ẩm mốc / những viên gạch vỡ dưới chân / nghe như tiếng xương đời mình gãy vụn

người đàn ông cúi xuống nhặt ký ức / mỗi mảnh trăng vỡ là một nụ hôn đã úa
mỗi vệt sáng nhói lên / cắt ngang tim chưa khép vết thương

người đàn ông đi nhặt những đêm dài / bỏ quên trong hơi thở người đàn bà / mùi da thịt còn vương trong chăn / bàn tay chạm vào chỉ còn tro nguội

người đàn ông đi nhặt bóng mình / giữa ngã ba gió /mỗi bóng một tiếng gọi / không biết tiếng nào là thật

người đàn ông đi nhặt tuổi trẻ / nát vụn dưới gót giày mưa / ánh trăng cũ soi xuống
chỉ thấy một gương mặt đã bạc màu

người đàn ông đi nhặt những câu thơ / viết dở trong đêm mất ngủ / mỗi con chữ run lên / lạc trong nghĩa trang của ngôn ngữ

người đàn ông đi nhặt giấc mơ / đã rơi vào vực thẳm / kéo lên được toàn những mảnh vỡ / rỉ máu trong lòng bàn tay

người đàn ông đi nhặt sự im lặng / thành phố bỏ quên trong cống rãnh / tiếng ve đã chết từ mùa hạ trước / tiếng chuông nhà thờ tan loãng giữa mưa

người đàn ông đi nhặt mặt trăng / ôm vào ngực như ôm một định mệnh lạnh / trăng sáng quá / nên ông thấy rõ từng vết thương trên da thịt / và linh hồn mình trống rỗng như hang sâu

người đàn ông đi nhặt ngày mai / nhưng ngày mai chỉ là chiếc bóng / trôi tuột qua kẽ tay / tan vào đêm / để lại ông đứng một mình / giữa hư vô sáng bạc của một mặt trăng vỡ

===

Đào Duy Anh

Giờ Thứ 25 SÁNG TỐI

Đêm xuống, bóng tối trải dài trên những lối đi không tên / ánh sáng rơi rớt như những giọt mật ong vỡ vụn trên sàn nhà của thời gian / tôi bước đi trong cơn mơ / nơi từng bước chân là một dấu chấm hỏi / từng nhịp thở là một câu chuyện

Bóng tối ôm lấy tôi bằng đôi tay lạnh lẽo / nhưng ánh sáng vẫn len qua khe hở của ký ức / một vệt nồng mỏng manh trong mắt em / một tiếng cười bị bỏ quên trên bậu cửa / một nhịp đập của trái tim / vẫn kiên cường, vẫn run rẩy giữa vực thẳm.

Tôi thấy mình trong ánh sáng / vừa là người, vừa là bóng / vừa là niềm tin, vừa là tuyệt vọng / vừa muốn chạm vào ngày mai / vừa sợ hít thở phút giây sắp tan thành hư vô.

Đêm không chỉ là bóng tối / mà là ánh sáng đang ngủ trong lòng đất / chờ một bàn tay ai đó khẽ lay tỉnh / để những giấc mơ chưa kịp sinh ra / có thể hé mở trong hơi thở của con người

Và tôi bước đi / giữa ánh sáng mong manh và bóng tối dày đặc / tìm kiếm một cơn mưa ký ức / để rửa sạch những vết sẹo của ngày hôm qua / và lắng nghe / tiếng vọng của chính mình trong đêm / không ai trả lời / chỉ có ánh sáng và bóng tối trò chuyện với nhau / bằng ngôn ngữ của thế gian / rất riêng, rất tĩnh, và vô cùng cô đơn.

===

Đào Duy Anh

NHỮNG LINH HỒN SOI TRONG VẾT NỨT CỦA ÁNH SÁNG

Chúng ta từng tin rằng ánh sáng là nơi bắt đầu của mọi hiểu biết / nhưng rồi một ngày / khi nhìn sâu vào nó / ta thấy vết nứt / nơi mọi điều tưởng rõ ràng bắt đầu tự tan chảy / như linh hồn không còn đủ can đảm để phản chiếu chính mình / tôi đã thấy em trong vết nứt ấy / không phải như một hình hài / mà như ký ức của một nỗi buồn đang tự tìm nơi trú ẩn / chúng ta không nhìn nhau bằng mắt / mà bằng sự mỏi mệt đã chín / sự hiểu biết không đến từ tri thức / mà từ một loại im lặng vượt qua ngôn từ / nơi linh hồn thôi còn hỏi “vì sao” / và chỉ biết lặng thinh đứng bên bờ ánh sáng rạn / nghe thế giới nứt ra từng thớ mảnh của tồn tại / có lẽ chúng ta chỉ là hai mảnh hư vô / được ghép lại trong một chớp sáng sai lầm của tạo hóa / để rồi cả đời đi tìm nửa còn lại của điều không bao giờ tồn tại / ánh sáng – cũng như tình yêu – chỉ soi được đến giới hạn của chính nó / còn phần sâu nhất của con người / luôn nằm trong vùng tối / nơi ta soi mình mà không thấy / và vẫn cứ tin rằng có ai đó đang nhìn lại.

===

Đào Duy Anh

CÁI KẾT

Mỗi cú va đập giữa hai thân thể / là một cơn chấn động / không đo được bằng địa chấn / chỉ đo bằng khoảng trống / sau khi khoái cảm rút đi / triều cường để lại muối mặn trên da thịt. /

Chúng ta run lên / như vũ trụ lần đầu tiên biết đến cô đơn / hạt nhân đầu tiên tách ra khỏi khối sáng nguyên thủy / tự hỏi: “Tôi là ai?” / và nhận về tiếng vọng / “Không ai.” / Cơn co thắt ấy – / không tạo ra sự sống / nó tạo ra nỗi buồn /một nỗi buồn có nhịp tim / có hơi thở / biết run rẩy / biết rên rỉ / biết tự nhân đôi trong lặng im. /

Khi anh bật khóc trong em / em hiểu – chúng ta không làm tình / chúng ta đang khai sinh cho cái chết. / Trong khoảnh khắc hai thân thể hòa tan /
ngôn ngữ tắt / thần thánh câm /

chỉ còn nhịp đập của vũ trụ / rò rỉ ra khỏi da thịt như ánh sáng cuối cùng của một vì sao sắp tắt. /

Chúng ta không sinh ra tình yêu / chúng ta sinh ra cái kết – và cái kết ấy / biết thở / biết nhắm mắt / biết nằm im trong lòng đêm / như một tôn giáo mới chưa có tín đồ.

===

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 5070)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 6222)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 6242)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 7409)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 5831)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 6076)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 6213)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 6931)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
26 Tháng Sáu 20262:03 CH(Xem: 5319)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 7906)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3765)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13192)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18582)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1476)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1620)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2140)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2270)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1366)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2100)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1866)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1929)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1222)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2272)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2506)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2294)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 691)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 896)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 986)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
18 Tháng Mười 2026(Xem: 1108)
Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6329)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1356)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13851)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6809)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10580)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9759)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9898)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10697)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3393)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11063)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10285)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi