- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tĩnh Lặng Một Người Và Gió

03 Tháng Mười Một 20253:42 CH(Xem: 10545)
tranh LE MINH PHONG- 11
tranh LÊ MINH PHONG

 

 

Đào Duy Anh

NHỮNG LINH HỒN BIẾT YÊU KHÔNG CẦN NƠI Ở


Chúng ta – những linh hồn phiêu lạc / đi tìm mái nhà trong tiếng thở của nhau
Em tựa đầu vào tôi / như thể muốn trú ngụ tạm thời / và tôi – kẻ không có quê hương – dang tay ra như một chỗ ở mong manh

Tình yêu là hành trình / không phải đích đến / chỉ có những ngọn lửa soi sáng cho đến khi chính nó tàn / chúng ta hứa sẽ không rời bỏ / nhưng chính thời gian đã phản bội / khi buộc mọi ngọn lửa phải nguội lạnh, để còn lại tro

Em đi rồi / tôi vẫn ngồi / như một linh hồn giữ chỗ / tôi biết / mọi cuộc yêu đều chỉ là ngụ cư của bản thể / mỗi nụ hôn – một bản hợp đồng ngắn hạn với sự cô đơn / và khi hết hạn / ta trở lại với chính mình, trần trụi và vô ngôn

===

Đào Duy Anh

Tĩnh Lặng Một Người Và Gió

 

có một người không nói, mà hoa cười

không bước đi, mà gió cũng theo về

không hẹn trước, mà chiều như đã đợi

một bóng hình đằm thắm giữa cơn mê.

 

góc hồ ấy, mây trôi qua không vướng

nước lặng thầm, sóng cũng biết im hơi

người ngồi đó như hương xưa chậm bước

gieo xuống đời… một lặng lẽ chơi vơi

 

không cần tiếng — chiều thôi đành nín lặng

chỉ ánh nhìn trầm mặc nói nên thơ

có lẽ gió cũng quên mình từng lặng

để ru êm một áo mỏng bơ vơ.

 

 

Đào Duy Anh
EM TRẦN GIAN LẠI


đêm ngồi lên bậu cửa
sơn lại nỗi buồn bằng màu em từng dùng cho móng tay
bản nhạc cũ không còn ngân nữa
chỉ là thôi khóc trước gối nằm khâu vụng

có gì còn lại sau một lần vẫy tay
cơn gió có thật không? hay một nếp gấp cảm xúc
em vươn tay tìm giấc mơ –
mà sáng nay nó đã kịp uống hết ly cà phê rồi đi mất

đừng đổ lỗi cho im lặng
chỉ là đang giữ lại chút gì chưa sẵn sàng hóa thành tiếng
và đôi môi – cũ kỹ như một con tem dán ngược –
giữ lại bản tình ca chưa gửi

em biết
bàn tay không thể che nổi giấc ngủ có gió giật
nhưng trong nỗi ngơ ngác đó
cánh đồng vẫn âm thầm mọc xanh –
sau câu kinh anh đọc

em trần gian lại
===

Đào Duy Anh
LỜI XƯNG TỘI CỦA THÂN XÁC

 

em đã đến
trong căn phòng không có ánh sáng
nơi chiếc giường là bàn thờ bị quên lãng
và thân thể em – một con chiên đã mất đức tin
run lên như một lời cầu nguyện không còn Thần để lắng nghe

người đàn ông đó
không phải là tình yêu
anh ta là bàn tay cuối cùng của nhân loại
lần mò qua bóng tối để tìm một nhịp tim còn sót lại
chúng tôi không yêu nhau
chúng tôi thẩm vấn nhau bằng khoái cảm

anh ta hỏi:
– em còn tin vào sự cứu rỗi không
em thì thầm:
– nếu còn, chắc nó đã nằm giữa hai chân em
anh ta bật cười
rồi khóc
rồi tan vào trong em
như một thánh lễ cuối cùng mà không ai đến dự

em nằm lại
một mình
giữa những tàn tích ẩm ướt của thân thể
chẳng có gì cứu chuộc được em
ngoài nỗi đau được nâng niu bởi chính nó
em sờ vào ngực mình –
chỗ đó từng có tim
giờ là ổ gió lạnh không tên

em gọi tên em –
em gào lên bằng tất cả những ngôn ngữ em từng học
và nhận ra:
ngôn ngữ cũng là một cái xác chết chưa được chôn

Thượng đế im lặng
tình yêu câm lặng
chỉ còn dục vọng – vẫn gào thét như một con thú không học được lời

em hiểu rồi:
chúng ta không cần tình yêu
chúng ta chỉ cần một ai đó chịu cắt sâu hơn cơn đói của linh hồn

===


Đào Duy Anh

Cơn Mê Giữa Hai Cặp Đùi

Anh vào em —
như một kẻ hành hương cuối cùng
gục ngã bên cổng đền đã đóng.
Không thắp nến.

Không quỳ.
Chỉ trượt xuống như một lời cầu nguyện
không bao giờ được gửi đi.

Thân thể em — vùng đất không còn thánh thần cư trú
mọc lên cỏ hoang, những vết sẹo,
và những câu thơ đã bị thiêu
trong giấc mơ ẩm thấp

Đùi em mở ra như hai cánh cổng địa ngục
và anh không sợ —
vì anh đã chết từ lâu
trong từng cái chạm

Lưỡi anh lê lên em
như dải lụa đen quấn quanh cổ một thánh nữ đang sắp sửa rên rỉ.
Anh tìm ngôn ngữ
không phải trong sách
mà trong nơi mà tất cả các triết gia đã thất bại:
" hơi thở giữa hai đùi em."

Ngón tay anh — là loài rắn chưa từng bị trục xuất
bò dọc theo lịch sử của dục vọng,
chạm vào nơi mà Eva từng cắn trái cấm
và không bao giờ tha thứ cho chính mình.

Cơn cực khoái đến
không như lũ, không như sét
mà như vết rạn từ trong thớ thịt Chúa
nơi ngài từng là người, từng yêu, và từng bật khóc.

Em cào anh
rạch lên lưng những dòng máu
như thể viết lại Kinh Cựu Ước bằng móng tay và thịt da.
Mỗi dòng chảy ra
là một lời: “hãy tha thứ cho tình yêu vì nó quá thật.”

Chúng ta cuộn lại trong nhau
như hai xác chết muốn tái sinh trong cùng một hình hài
hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng
nơi cả thơ lẫn tiếng rên đều bị bóp chết trong một khoảnh khắc của cơn co thắt cuối cùng.

Chúng ta làm tình
không phải để sống sót
mà để xác nhận mình đã từng tồn tại
trong một thế giới mà mọi tình yêu đều bị đóng dấu tội lỗi.

===

Đào Duy Anh

TỔ TÔNG VÀ BẢN ÁN CỦA DA THỊT


Chúng ta chưa bao giờ rời khỏi Eden
chúng ta mang Eden theo mình –
trong xương chậu, trong cổ họng, trong mỗi cơn co rút đau đớn sau cực khoái

Tội tổ tông không phải là ăn trái cấm
mà là tin vào tình yêu
mà là trao linh hồn cho một thân thể khác, rồi không đòi lại được

Tôi đã yêu – như một kẻ đạo chích
lẻn vào thân thể anh như vào một thánh đường bỏ hoang
tôi hôn lên miệng anh như hôn lên vết thương của Chúa
và tôi tin – sai lầm – rằng tình dục có thể cứu chuộc tôi khỏi cô đơn

Không có gì xảy ra.
Anh ngủ.
Tôi nằm bên, mở to mắt nhìn trần nhà như một vòm trời mù
và tôi biết – thân thể tôi vừa bị kết án
vừa là nạn nhân
vừa là hung thủ
vừa là tang chứng

Không có luật nào cứu tôi
không có thần linh nào bảo vệ
vì tình yêu không có tòa án
chỉ có hoang mạc

===

Đào Duy Anh

NGÔN NGỮ SAU KHI THÂN THỂ TAN RÃ


Em đã cởi hết.
Không chỉ áo, quần, vú, mông, rốn.
Mà cả tên gọi.
Cả tuổi thơ.
Cả những trang kinh đã nhàu trong trí nhớ.

Em nằm xuống như một bài thơ bị kiểm duyệt
không có vần
không có phép tu từ
chỉ còn tiếng thở và nhịp tim –
gõ vào cõi tồn sinh như một điệu nhạc nguyên thủy

Anh bước vào em, không phải như người yêu
mà như nhà khảo cổ
đào bới từng lớp trầm tích của những cơn hiến dâng thất bại
tìm kiếm trong em một tín hiệu nào đó còn sót lại của niềm tin
hay ít ra – là một tiếng gào thét chưa kịp phát ra

Em nói:
“Làm đi. Đừng dịu dàng. Đừng tôn kính. Đừng nghĩ đây là tình yêu.
Hãy nghĩ đây là nghi lễ cuối cùng –
nơi ta hiến xác cho một đức tin không bao giờ có tên.”

Anh không trả lời.
Bởi vì tình yêu đã câm.
Tình dục đã câm.
Chỉ còn thân thể như một bản văn không ai hiểu
và chúng ta đọc nhau bằng lưỡi, bằng móng tay, bằng sự khát

Đêm ấy.
Chúng ta làm nghi thức.
Một nghi thức của hai con người mất gốc, không còn tín ngưỡng
chỉ còn nỗi buồn sâu như thánh mộ
nơi mỗi cái chạm là một tiếng chuông báo tử

Anh vào em – không phải để cư ngụ
mà để chết thử
để biết sau khi tận cùng lạc thú
có gì còn sót lại

Không có gì.
Chỉ là trắng
Và tiếng khóc lặng thinh trong đáy chậu.

== =

Đào Duy Anh

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐI NHẶT MẶT TRĂNG

người đàn ông đi nhặt mặt trăng / trên con đường cũ phủ rêu buồn ẩm mốc / những viên gạch vỡ dưới chân / nghe như tiếng xương đời mình gãy vụn

người đàn ông cúi xuống nhặt ký ức / mỗi mảnh trăng vỡ là một nụ hôn đã úa
mỗi vệt sáng nhói lên / cắt ngang tim chưa khép vết thương

người đàn ông đi nhặt những đêm dài / bỏ quên trong hơi thở người đàn bà / mùi da thịt còn vương trong chăn / bàn tay chạm vào chỉ còn tro nguội

người đàn ông đi nhặt bóng mình / giữa ngã ba gió /mỗi bóng một tiếng gọi / không biết tiếng nào là thật

người đàn ông đi nhặt tuổi trẻ / nát vụn dưới gót giày mưa / ánh trăng cũ soi xuống
chỉ thấy một gương mặt đã bạc màu

người đàn ông đi nhặt những câu thơ / viết dở trong đêm mất ngủ / mỗi con chữ run lên / lạc trong nghĩa trang của ngôn ngữ

người đàn ông đi nhặt giấc mơ / đã rơi vào vực thẳm / kéo lên được toàn những mảnh vỡ / rỉ máu trong lòng bàn tay

người đàn ông đi nhặt sự im lặng / thành phố bỏ quên trong cống rãnh / tiếng ve đã chết từ mùa hạ trước / tiếng chuông nhà thờ tan loãng giữa mưa

người đàn ông đi nhặt mặt trăng / ôm vào ngực như ôm một định mệnh lạnh / trăng sáng quá / nên ông thấy rõ từng vết thương trên da thịt / và linh hồn mình trống rỗng như hang sâu

người đàn ông đi nhặt ngày mai / nhưng ngày mai chỉ là chiếc bóng / trôi tuột qua kẽ tay / tan vào đêm / để lại ông đứng một mình / giữa hư vô sáng bạc của một mặt trăng vỡ

===

Đào Duy Anh

Giờ Thứ 25 SÁNG TỐI

Đêm xuống, bóng tối trải dài trên những lối đi không tên / ánh sáng rơi rớt như những giọt mật ong vỡ vụn trên sàn nhà của thời gian / tôi bước đi trong cơn mơ / nơi từng bước chân là một dấu chấm hỏi / từng nhịp thở là một câu chuyện

Bóng tối ôm lấy tôi bằng đôi tay lạnh lẽo / nhưng ánh sáng vẫn len qua khe hở của ký ức / một vệt nồng mỏng manh trong mắt em / một tiếng cười bị bỏ quên trên bậu cửa / một nhịp đập của trái tim / vẫn kiên cường, vẫn run rẩy giữa vực thẳm.

Tôi thấy mình trong ánh sáng / vừa là người, vừa là bóng / vừa là niềm tin, vừa là tuyệt vọng / vừa muốn chạm vào ngày mai / vừa sợ hít thở phút giây sắp tan thành hư vô.

Đêm không chỉ là bóng tối / mà là ánh sáng đang ngủ trong lòng đất / chờ một bàn tay ai đó khẽ lay tỉnh / để những giấc mơ chưa kịp sinh ra / có thể hé mở trong hơi thở của con người

Và tôi bước đi / giữa ánh sáng mong manh và bóng tối dày đặc / tìm kiếm một cơn mưa ký ức / để rửa sạch những vết sẹo của ngày hôm qua / và lắng nghe / tiếng vọng của chính mình trong đêm / không ai trả lời / chỉ có ánh sáng và bóng tối trò chuyện với nhau / bằng ngôn ngữ của thế gian / rất riêng, rất tĩnh, và vô cùng cô đơn.

===

Đào Duy Anh

NHỮNG LINH HỒN SOI TRONG VẾT NỨT CỦA ÁNH SÁNG

Chúng ta từng tin rằng ánh sáng là nơi bắt đầu của mọi hiểu biết / nhưng rồi một ngày / khi nhìn sâu vào nó / ta thấy vết nứt / nơi mọi điều tưởng rõ ràng bắt đầu tự tan chảy / như linh hồn không còn đủ can đảm để phản chiếu chính mình / tôi đã thấy em trong vết nứt ấy / không phải như một hình hài / mà như ký ức của một nỗi buồn đang tự tìm nơi trú ẩn / chúng ta không nhìn nhau bằng mắt / mà bằng sự mỏi mệt đã chín / sự hiểu biết không đến từ tri thức / mà từ một loại im lặng vượt qua ngôn từ / nơi linh hồn thôi còn hỏi “vì sao” / và chỉ biết lặng thinh đứng bên bờ ánh sáng rạn / nghe thế giới nứt ra từng thớ mảnh của tồn tại / có lẽ chúng ta chỉ là hai mảnh hư vô / được ghép lại trong một chớp sáng sai lầm của tạo hóa / để rồi cả đời đi tìm nửa còn lại của điều không bao giờ tồn tại / ánh sáng – cũng như tình yêu – chỉ soi được đến giới hạn của chính nó / còn phần sâu nhất của con người / luôn nằm trong vùng tối / nơi ta soi mình mà không thấy / và vẫn cứ tin rằng có ai đó đang nhìn lại.

===

Đào Duy Anh

CÁI KẾT

Mỗi cú va đập giữa hai thân thể / là một cơn chấn động / không đo được bằng địa chấn / chỉ đo bằng khoảng trống / sau khi khoái cảm rút đi / triều cường để lại muối mặn trên da thịt. /

Chúng ta run lên / như vũ trụ lần đầu tiên biết đến cô đơn / hạt nhân đầu tiên tách ra khỏi khối sáng nguyên thủy / tự hỏi: “Tôi là ai?” / và nhận về tiếng vọng / “Không ai.” / Cơn co thắt ấy – / không tạo ra sự sống / nó tạo ra nỗi buồn /một nỗi buồn có nhịp tim / có hơi thở / biết run rẩy / biết rên rỉ / biết tự nhân đôi trong lặng im. /

Khi anh bật khóc trong em / em hiểu – chúng ta không làm tình / chúng ta đang khai sinh cho cái chết. / Trong khoảnh khắc hai thân thể hòa tan /
ngôn ngữ tắt / thần thánh câm /

chỉ còn nhịp đập của vũ trụ / rò rỉ ra khỏi da thịt như ánh sáng cuối cùng của một vì sao sắp tắt. /

Chúng ta không sinh ra tình yêu / chúng ta sinh ra cái kết – và cái kết ấy / biết thở / biết nhắm mắt / biết nằm im trong lòng đêm / như một tôn giáo mới chưa có tín đồ.

===

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 912)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 771)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 673)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1900)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2353)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2517)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16032)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 912)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 771)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5001)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6890)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6171)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2353)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2517)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2752)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2236)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2065)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2219)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2259)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 673)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13208)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29256)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35566)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10521)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12427)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1900)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3051)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3105)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3856)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7554)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6917)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9457)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.