- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG”

13 Tháng Mười 202511:02 CH(Xem: 18696)

Thi sĩ NGUYỄN CHÍ TRUNG-Photo by Suol Chi Thien - Berlin 2023
Thi sĨ Nguyễn Chí Trung- Photo by Suol Chi Thien - Berlin 2023


Nguyễn Chí Trung

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG”

_________ 

 

LỜI DẪN I

 

Có những cơn mưa không chỉ rơi xuống mặt đất,

mà còn rơi vào bên trong con người.

Mưa Cuối Cùng là một cơn mưa như thế —

cuối cùng của Thời Gian,

và cũng là khởi đầu cho một cuộc rửa tội của Linh Hồn.

Trong tiếng mưa, Thi Sĩ nghe được tiếng dội của nhân loại:

những bước chân thất lạc, những linh hồn không còn chốn trở về,

và câu hỏi âm thầm về ý nghĩa của cuộc hiện sinh.

Ở đó, Thơ không còn là ngôn từ,

mà trở thành một hơi thở duy nhất – một tiếng vọng cuối cùng – một sự thử tìm cách sống sót.

Từ “Gió” đến “Mưa Cuối Cùng”,

Nguyễn Chí Trung đi hết một vòng của Tạo hóa:

từ hơi thở vô hình đến giọt nước hữu hình,

từ khởi nguyên đến tàn diệt,

để lại cho đời một ánh nhìn – trong suốt, đau đớn, và nhân từ.

Mưa Cuối Cùng không chỉ là Thơ,

mà là một nghi thức tiễn đưa con người về lại với thiên nhiên,

nơi mỗi giọt mưa là một linh hồn được trả về nguyên thủy.

 

 

 

MƯA CUỐI CÙNG

1.

Mưa liên tục hai ngày nay

Mưa tầm tã, mưa kéo dài … cơn điên

Nước từ đâu đổ liên miên

Như Trời trút cả buồn phiền một cơn

2.

Nơi chốn này, đâu trống trơn

Người, xe tháo chạy. Đã sờn lòng ai?

Nước từ đâu đổ về đây?

Nước sông Hằng rửa đọa đày hiện sinh?

3.

Vỉa hè đốt thuốc đứng nhìn

Mặt đường mưa vỡ linh tinh ánh đèn

Vàng cho thành phố thêm đen

Vọt cho thân phận càng hèn thêm ra

4.

Mưa từ hỏa ngục về qua

Đây là thủy ngục chứ là gì đâu!

Mưa từ cuối mưa từ đầu

Mưa suốt khoảng giữa cho sâu đọa đày

5.

Mưa nhiều thế kỷ đến nay

Xuống dân và nước bùn lầy chìm trong

Có ai còn được chút lòng

Nhìn mưa để thấy là … không còn gì!

6.

Có chắc không, không còn gì?

Mưa đâu trôi tuột thầm thì trong tim

Ở trong những mạch máu chìm

Những ngày tháng cũ còn tìm lẫn nhau

7.

Mưa đem nước từ chỗ nào

Về đây ướt sũng não đầu của ta

Hiên Tây ta đứng nhìn ra

Giữa đường dòng cũ cuộc xa linh hồn

8.

Tấm lòng riêng, tấm lòng chung

Còn lòng nào nữa mà trông mong giờ

Chúng ta không thể nào ngờ

Nước chôn toàn bộ, bây giờ là đây!

9.

Mưa khủng khiếp, ta ngất ngây

Mưa từ hồng thủy, về đây một lần

Giọt quất vào mặt không ngừng

Ta nhắm mắt lại, cõi trần hình dung

10.

Mưa trên trần thế lung tung

Giọt ngang bay khắp vào lòng trống không

Giọt dọc đổ xuống thành đòng

Cuốn trôi những cuộc đời không bến bờ

11.

Chúng ta đâu thể nào ngờ

Sau cuộc tiến hóa, bây giờ là đây!

Chúng ta có hết trong tay

Mà vĩnh viễn mất một bài đầu tiên

12.

Mưa nay: Trời Đất cơn điên

Chúng ta vẫn chưa diện tiền: không ta

Nước xuyên qua mọi mái nhà

Chỗ nào trú nữa, cũng là thế thôi

13.

Từ trên nước đổ liên hồi

Đường sông cuộc hết luân hồi nhân sinh

Bao trăm ngàn năm (?) tiến trình

Đến nay hội tụ sắp thành Số Không

14.

Không đâu ta không hề mong

Sau khi biến mất, sẽ không còn người

Trái tim ta quá yêu đời

Nhưng đầu ta thấy “con người hôm nay”

15.

Mưa dai dẳng giọt dằng dai

Nước đà phủ lấp cái ngày hoang sơ

Luận Tiêu dao chỉ trong tờ

Nào ai có thể đã ngờ đến đây?

16.

Sống là căn bệnh không hay

Chết là liều thuốc giải vây cuối cùng

(Nói ra chúng bảo điên khùng

Sống ngày nay, không điên khùng, làm sao?)

17.

Mưa làm những đời lao đao

Những đời lảo đảo từ đầu đến đuôi

Những đời không thể chôn vùi

Cũng không hề muốn, dù thời trầm luân

18.

Cho hay cuộc sống vô ngần

Muốn tiêu hủy được, phải cần bàn tay

Có thật không? Không đổi thay

Nếu thuần nhiên sống từ ngày hồng hoang

19.

Mưa từ cõi ấy địa đàng

Nay về địa ngục: trần gian chính là

Xưa Vô Cùng mở ngày ra

Nay đèn rạng sáng, ngày là đêm sâu

20.

Nhà em ở tận những đâu

Bờ tràn ngăn cách cơ hầu khó qua

Mưa chia hai thế giới ta

Trong linh hồn một mới là Tình Yêu

21.

Mưa khắp cảnh giới tiêu điều

Gió phành phạch đập mái lều giăng nghiêng

Ny lông manh áo qua đêm

Ôm nhau ngồi ngủ dựa bên hè tường

22.

Chung quanh ngạo nghễ xiển dương

Nhà cao hơn tháp, con đường văn minh

Thép và kính, tiền và danh

Đó là một cuộc chiến tranh không ngừng

23.

Trời mưa không thể nào ngưng

Chúng ta cũng thế, có ngừng được đâu!

Cho dù bao cuộc dãi dầu

Ở trong chỉ tấm lòng sâu là còn

24.

Nước trôi tan những dấu mòn

Ta tìm, ngu xuẩn trong cơn điên rồ

Bao nhiêu chữ nghĩa hồ đồ

Không ngăn ta khỏi ngây ngô kiếm tìm

25.

Mưa dử dội, đất này chìm

Nước làm sũng ướt quả tim mệt nhoài

Hồn ta tấm giẻ rách, dai

Mà như chứa hết đọa đày thế gian

26.

Làm sao vắt, vắt lại càng

Chưa khô cạn đã lại tràn đầy thêm

Đục ngầu cứ mãi dâng lên

Bùn lầy đã đến tận Thềm Bên Kia

27.

Mưa ngăn cách, mưa chia lìa

Bây giờ hẳn đã đầm đìa hơn xưa

Đây thành phố cũ như vừa

Mất đi. Hay đã mất từ Ra Đi?

28.

Đã nửa thế kỷ, còn gì

Đây con đường cũ, ta về nhìn quanh

Hàng cây me lá vẫn xanh

Còn mang chứng tích?Phong phanh trong đầu

29.

Mưa từ đâu, mưa về đâu

Mưa từ đầu xối dòng sầu trong ta

Mới đầu xứ sở là nhà

Nay Mặt Đất chẳng còn là Quê Hương

30.

Đâu phải là chuyện tha phương

Không riêng chỉ chuyện con đường nước trôi

Bây giờ Mặt Đất Trong Hồi

Tắt Hơi, trong một cuộc chơi hãi hùng

31.

Mưa đây một trận cuối cùng

Để đưa nhân sử vào vùng chiêm bao

(Phải đâu chỉ trận mưa rào

Làm ta xao xuyến tầm phào chyện riêng

32.

Cũng không phải cuộc buồn phiền

Vì đâu ta mở diện tiền cuộc sinh

Cuộc đi đầy ải thông minh

Đấy là nghiệp chướng. Hay Tình phải mang?)

33.

Mưa dài như là Thời Gian

Tự tại tuyệt đối không màng chúng ta

Trái đất Người có về qua

Ở trong vũ trụ có là gì không?

34.

Bao nhiêu là giọt dãi dầu

Bao nhiêu nước đổ lên tàu lá khoai

Những cơn mưa làm mệt nhoài

Mà hồn sao vẫn cần hoài mưa giông!

35.

Nhìn đây mưa ngập trong không

Xuyên qua ngõ ngách của lòng mở ra

Thấm vào mạch máu dưới da

Có gì khác biệt đời ta đời người

36.

Nếu là tài trí hơn đời

Thì đừng ngôn ngữ đừng lời, thừa dư

Bao nhiêu chữ nghĩa vốn từ

Ngàn xưa để lại, bây giờ cũng tan

37.

Mưa đây trận cuối cùng đang

Xóa sạch tội lỗi trần gian đã làm

Mặt Đất Rác Rưởi nhở nham

Con thuyền thủng lỗ nước tràn cuộc sinh

38.

Một lần ta đã hãi kinh

Bây giờ chấp nhận, chỉ đành nhìn thôi

Có không, còn chút ngậm ngùi?

Ấy là một nỗi ngậm-ngùi-vạn-năm

39.

Mưa như từ Chốn Xa Xăm

Trời tuôn nước mắt âm thầm xót thương

Có khi chỉ tại Con Đường

Người Đi dẫn đến vô thường, tất nhiên

40.

Chữ bóng bẩy, nghĩa quàng xiên

Cũng là trôi tuột xuống miền phù du

Trong đêm-thế-giới âm u

Đốt trái tim trên Đường Mù mà đi

41.

Mưa vật vã lòng từ bi

Hình như người chẳng còn gì với nhau

Vì chưng thế giới quá giàu

Đã ai biết Đất khổ đau cực cùng

42.

Vĩnh hằng ý niệm mông lung

Câu kinh được viết, tụng không có người

Bài Thơ từng khúc rã rời

Mà sao kỳ vọng cho đời mai sau!

43.

Mưa quất càng lúc càng đau

Lòng đà tuyệt vọng làm sao khẩn cầu?

Gọi nhau qua tiếng nguyện cầu

Trong im lặng của hố sâu đầm lầy

44.

Mưa trên những linh hồn say

Cho rượu ma túy cuồng quay với đời

Nếu ta chẳng bị làm người

Thì đâu phải viết những lời khổ đau!

45.

Mưa trên đời người lỡ tàu

(Những người kịp chuyến, về đâu thì về!)

Trên ga vất vưởng lê thê

Mai này chắc chắn chuyến về dưới kia

46.

Mưa dài đến tận cõi khuya

Nước dâng mãi, không còn chia hai bờ

Bên đây, bên đó, đến giờ

Tiếng chuông chùa dẫn qua bờ trầm luân?

47.

Mưa mới thật là vô ngần

Vì chưng nước mắt chỉ ngầm dưới thôi

Tất cả đây. Tôi đâu rồi?

Tôi không ngừng khóc từ hồi mới sinh

48.

Mưa theo Người cuộc hành trình

Không dừng lại được. Điêu linh là giờ!

Ôi bi thảm cuộc làm Thơ

Nói ra Sự Thật Không Ngờ. Làm chi

49.

Mưa ôi, một chút từ bi

Kiếp người hãy hóa, trả về thiên nhiên

Một lần chấm dứt đảo điên

Thơ ta hòn sỏi bình yên suối vàng

NGUYỄN CHÍ TRUNG

27.09. - 03.10.2016 Hotel Anh Tú - Saigon

© nguyenchitrung

 

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG” được viết ròng rã trong suốt một tuần lễ mưa từ 27.09. đến 03.10.2016 tại khách sạn Anh Tú, đường Bà Huyện Thanh Quan, Saigon, gồm 49 từ khúc, nhiều hơn trường ca “GIÓ” một từ khúc.

Buổi tối đó tôi đã lội mưa và bùn một mình sang quán Cơm Nam Định dùng bữa ăn tối, sau đó đứng dưới mái hiên ở vỉa hè, đốt thuốc hút và nhìn MƯA, nghĩ đến những cơn mưa của thời thơ ấu, thời thanh niên, và đến tiến trình của cả nhân loại.

27.09. – 03.10.2016

SAIGON

 

 

***

LỜI DẪN II

 

“Mưa Cuối Cùng” không nói về cơn mưa như hiện tượng, mà như một phép thử cho linh hồn con người.

Trong sự lặp đi lặp lại của giọt nước, thế giới hiện ra vừa mệt mỏi vừa nguyên sơ. Mưa rửa sạch lịch sử, rửa sạch ngôn từ, và cuối cùng rửa sạch chính ý nghĩa của cuộc hiện sinh.

Những từ khúc của Nguyễn Chí Trung là những mảnh nhận thức, rơi giữa Thời Gian và ký ức. Ông không tìm câu trả lời; ông chỉ ghi lại những khoảnh khắc khi câu hỏi tự nó tan trong tiếng mưa. Ở đó, con người không còn là chủ thể sáng tạo mà trở về làm hạt bụi thấm nước, tự soi mình trong tấm gương của địa cầu.

Đọc “Mưa Cuối Cùng” là đi ngược tiến trình của cái gọi là văn minh, trở lại điểm khởi nguyên của ý thức — nơi cái “tôi” và “thế giới” chưa từng tách biệt. Mưa, trong nghĩa ấy, chính là ký ức cuối cùng của vũ trụ về chính nó.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Bảy 201511:56 CH(Xem: 66347)
Cứ bỏ đó,cứ để lòng thanh thản Mưa chiều nay lất phất gió muôn chiều Cười với lá mùa xuân hay mùa hạ Phía cuối đời sẽ vỡ lẽ tình yêu.
18 Tháng Bảy 201511:31 CH(Xem: 59889)
Sự nghiệp viết điếu văn của tôi bắt đầu từ Tạ Văn Thế, Thế trước đây học Văn khoa, công tác ở công ty mai táng quận, đã từng giữ đến chức trưởng phòng tổ chức nhân sự và thuộc diện quy hoạch cán bộ nòng cốt nhưng sau đợt bình chọn người đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài, mặc dù ba năm liền là chiến sĩ thi đua nhưng vẫn bị loại nên Thế bất mãn và xin về nghỉ mất sức.
18 Tháng Bảy 201511:10 CH(Xem: 51399)
Ruben là một danh họa bậc nhất ở Mexico, ông lại yêu say đắm Isabel, cô người mẫu của mình. Ấy vậy mà ngược lại, cô nàng lại tỏ ra tình tứ với tình địch của ông, gã này chẳng tiếng tăm gì cả. Isabel vẫn hay gọi ông Ruben là “Churro” bé nhỏ của nàng. “Churro” vốn là tên một loại bánh ngọt, mà cũng là tên thường gọi của người Mễ cho những chú chó con nuôi trong nhà. Ruben lại cho đó là một cái tên gọi tuyệt vời. Bởi thế cho nên hễ có ai đến thăm nơi ông vẽ, ông lại hí hửng khoe: “Ấy, nàng lại sắp gọi tôi “Churro” đấy”. Mỗi khi ông cười, chiếc áo lót như muốn bật tung ra, bởi lẽ ông càng ngày càng béo ra.
07 Tháng Bảy 20153:38 SA(Xem: 67269)
LTS: Đông Duy là bút hiệu của Hoàng Kiếm Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, bên những sáng tác văn chương , ông còn có nhiều tác phẩm về hội họa và ca khúc, đồng thời cũng là nhà báo kỳ cựu trong làng báo Việt Nam ở hải ngoại. Chúng tôi xin hân hạnh gởi đến quí bạn đọc và văn hữu những thi phẩm của thi sĩ Đông Duy Hoàng Kiếm Nam.
07 Tháng Bảy 20152:08 SA(Xem: 53845)
“ Bản quyền cho những công trình trí tuệ đã tự động có hiệu lực ngay từ phút đầu khi được sáng tạo mà không cần phải được xác nhận hay công bố. Tác giả không cần phải đăng ký, hoặc xin biên lai bản quyền (copy right) ở những quốc gia sở tại .
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 39925)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
05 Tháng Bảy 20152:32 SA(Xem: 59998)
LTS_ Người Quân Tử là truyện ngắn trích từ Tầu Ngựa Cũ, tác phẩm văn học được trao giải thưởng văn chương 1961. Người Quân Tử và Áo Mới của Linh Bảo đã được Trung tâm Văn Bút Quốc tế / PEN International tuyển chọn là hai trong số 26 truyện ngắn hay nhất thế giới năm đó.
05 Tháng Bảy 20151:57 SA(Xem: 57490)
Linh Bảo là một tên tuổi văn học của Miền Nam từ những năm 1950s. Các tác phẩm của Linh Bảo được lần lượt xuất bản tại Miền Nam từ 1953 tới 1975. Chỉ có Mây Tần là tuyển tập đoản văn duy nhất được xuất bản ở hải ngoại (1981). Sau 1975, không có một tác phẩm nào của Linh Bảo được in ở trong nước.
02 Tháng Bảy 20153:15 SA(Xem: 63906)
Lửa cháy cao, kêu lốp bốp. Lão nhìn ngọn lửa hồi lâu và định sẽ đếm số tiền lần cuối cùng. Đây là ngọn lửa lớn nhất, cũng là thứ ánh sáng rực rỡ nhất từng ấy năm ở căn nhà này. Lưỡi lửa ăn vào gỗ, và cao lớn thêm. Cánh cửa ngập trong lửa, khói bốc nghi ngút. Ngọn lửa nuốt lấy ngôi nhà, cái miệng nó thật rộng, ăn cũng thật nhanh. “….” – Bất chợt lão gào lên. Giọng lão khàn đặc, mấy con chữ như bị tắc và gãy từ trong họng. Và khi lão gào thêm một tiếng nữa, chúng văng ra thành những cục máu. Mồ hôi lão nhễ nhại nhưng không phải vì nóng. Những giọt mồ hôi lạnh như nước đá. “Cướp…Ối giời ơi…Cướp…”
21 Tháng Sáu 20151:37 SA(Xem: 58075)
Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại -- [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 4145)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13506)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19828)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18822)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 2088)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 2199)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 3146)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2962)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1808)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2697)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 2348)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2415)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1647)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2860)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 3139)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2766)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 507)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 1197)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1359)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1488)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6828)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 16065)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32817)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 39059)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1828)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 14100)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 120)
Có những bài thơ không cần cất cao tiếng nói, bởi chính sự lặng lẽ của chúng đã đủ làm lòng người đau nhói. Đầy Tháng Con của Thành Tôn đưa chúng ta trở về một Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh 1954–1975, nơi một đứa trẻ vừa chào đời, người cha đã ở phương xa trong cuộc chiến. Tiếng khóc đầu đời hòa lẫn với tiếng súng, tiếng kêu đau đớn của những người bị thương và tiếng khóc của những người mẹ, người bà tiễn biệt người thân.
(Xem: 7240)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 11246)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 10720)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10905)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
28 Tháng Mười 202612:41 SA(Xem: 483)
PHÂN ƯU Vô cùng thương tiếc khi được tin / Nhà văn TRIỆU VŨ / tên thật VŨ NGỰ TRIỆU Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ. Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi.
27 Tháng Mười 202610:38 CH(Xem: 525)
Nhận được tin buồn Phu quân của bà Lê Thị Nguyệt Minh Cụ ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1939, tại Phụng-Viện-Thượng, Bình-Giang, Hải-Dương, VN. Mệnh chung ngày 25 tháng 10 năm 2026 tại Houston, TX Hoa-Kỳ.
27 Tháng Mười 20266:25 CH(Xem: 850)
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần Our family is deeply saddened to announce to all relatives and friends, near and far, the passing of our beloved: Cụ Ông VŨ NGỰ TRIỆU Nhà văn TRIỆU VŨ Chồng, Cha, Anh, Ông Nội, Ông Ngoại của chúng tôi – Husband, Father, Brother, Grandfather. Sinh ngày: 15 tháng 11 năm 1939 tại Phụng Viện Thượng, Bình Giang, Hải Dương, Việt Nam – Born: November 15, 1939 Đã từ trần, ngày 25 tháng 10 năm 2026, tại Houston, TX – Passed away on October 25, 2026 Nhằm ngày 16 tháng 9 năm Bính Ngọ Hưởng Thượng Thọ 87 tuổi – At the age of 87